Năm Vĩnh Thái nguyên niên đời Đường (756), Đỗ Phủ rời đất Thục hướng về đông, trên đường phiêu bạc ngang qua đất Du Châu định đợi bạn là Nghiêm Lục Thị Ngự để cùng đến Qùy Châu, nhưng đợi mãi mà vẫn không thấy bạn đến, nên bèn xuống eo Tam Hiệp trước; Vì thế mà làm bài thơ nầy; Bài thơ tiêu biểu cho sự phiêu bạc của Đỗ Phủ lúc về già.
渝州候嚴六侍御不到,先下峽 Di Châu hậu Nghiêm Lục Thị Ngự bất đáo, tiên há Hiệp.
聞道乘驄發, Văn đạo thừa thông phát,
沙邊待至今。 Sa biên đãi chí câm (kim).
不知雲雨散, Bất tri vân vũ tán,
虛費短長吟。 Hư phí đoản trường ngâm.
山帶烏蠻闊, Sơn đới Ô Man khoát,
江連白帝深。 Giang liên Bạch Đế thâm.
船經一柱觀, Thuyền kinh Nhất Trụ Quán,
留眼共登臨。 Lưu nhỡn cộng đăng lâm !
* Chú thích :
- Du Châu 渝州 : là tên của đất Ba Thục xưa; Nay là Phủ Trùng Khánh.
- Hậu 候 : là Đẵng Hậu 等候 có nghĩa là Chờ đợi, là Chực chờ.
- Há 下 : Vốn là chữ HẠ , Hình dung từ là "Bên dưới, phía dưới". Khi là Động từ thì đọc là HÁ (dấu sắc) có nghĩa là "Đi Xuống".
- Hiệp 峽 : là Eo đất hay Eo núi, như Trường Giang Tam Hiệp 長江三峽 chẳng hạn; Chữ nầy còn được đọc là HẠP, là GIÁP, như Vu sơn Vu giáp 巫山巫峽...
- Thông 驄 : là con ngựa xám (lông có màu trắng xanh lẫn lộn); THỪA THÔNG 乘驄 là Cưởi con ngựa màu xám.
- Sa Biên 沙邊 : là Bên bờ cát (ven sông).
- Đãi 待 : là ĐẲNG ĐÃI 等待 có nghĩa là "Chờ đợi", giống như từ Đẵng Hậu 等候 ở trên.
- Kim 今 : đọc là CÂM cho Ăn với các Vận khác trong bài thơ.
- Vân Vũ Tán 雲雨散 : là "Mây mưa tan", lấy ý trong thơ của Vương Xán đời Đông Hán là "Phong lưu vân tán, nhất biệt như vũ 風流雲散,一别如雨" Có nghĩa : "Chia tay nhau như sau cơn mưa, gió đã thổi qua và mây cũng đã trôi đi"; Ý nói : Không biết đâu mà lường được !
- Đoản Trường Ngâm 短長吟 : là đão ngữ tên một khúc ngâm trong Cổ thi là "Trường Đoản Ngâm 長短吟". Ý nói : Trong khi chờ đợi ai đó thì ngâm dài ngâm vắn cho đỡ thấy lâu.
- Ô Man 烏蠻 : Theo "Đường Thư, Nam Man Truyện 唐書·南蠻傳" Chỉ các bộ tộc ở phía nam của đất Nam Chiếu rộng lớn, có các bộ tộc như Bạch Man, Ô Man...
Thành Bạch Đế và Nhất Trụ Quán
- Bạch Đế 白帝 : là Thành Bạch Đế ở cách Qùy Châu năm dặm, đưa đến eo núi Tây lăng với nước sông cuồn cuộn từ trên đổ xuống với khí thế hùng vĩ, là yết hầu của đất Thục Sở.
- Nhất Trụ Quán 一柱觀 : QUÁN là ĐẠO QUÁN 道觀 là nơi tu tập của các đạo sĩ. NHẤT TRỤ QUÁN là một di tích ở huyện Tòng Tư tỉnh Hồ Bắc, do Lâm Xuyên Vương Lưu Nghĩa Khánh thời Nam bắc Triều xây dựng nên; Vì to lớn và chỉ như một cột trụ lớn, nên được gọi là NHẤT TRỤ QUÁN.
- Lưu Nhỡn 留眼 : Không phải là "để con mắt lại", mà là muốn lưu cái tầm nhìn lại để cùng bạn cùng nhau ngắm cảnh trên cao nhìn xuống.
* Nghĩa bài thơ :
Đợi Nghiêm Lục Thị Ngự ở Du Châu không đến, nên xuống eo Tam Hiệp trước.
Nghe nói rằng bạn sẽ cưởi con ngựa màu xám đến để cùng đi với ta; Nên ta đợi mãi ở bãi cát ven sông mãi cho đến tận bây giờ. Nhưng bạn thì như gió cuốn mây trôi không biết đâu là tung tích, làm cho ta cứ ngâm thơ dài thơ vắn mà chờ đợi uổng công (Hư Phí 虛費 thời gian một cách vô ích). Ở đây núi non trùng điệp trải dài đến các bộ tộc Ô Man rộng lớn và sông Trường giang hùng vĩ nồi liền với thành Bạch Đế xa xa. Khi thuyền đi ngang qua Nhất Trụ Quán cao ngất ở Giang Lăng, ta muốn lưu lại cái tầm nhìn để được cùng bạn lên cao mà ngắm xuống cảnh núi non nước sông hùng vĩ nầy !