
LẼO ĐẼO CÙNG SÔNG
(Về tập thơ Buổi câu hờ hững của Nguyễn Bình Phương)
Anh đã mở đầu tập thơ bằng một bài thơ có tiêu đề rất “thực dụng”: Chào hàng.
Tục ngữ có câu: “Con cá mất là con cá to”. Nguyễn Bình Phương bổ sung cái được đặt
bên cạnh cái mất, phát triển hình ảnh về cái mất, tạo ra sự tương phản dữ dội giữa “già cỗi” và
“vô vàn”. Hãy chú ý tác giả không đem “non trẻ” đặt bên “già cỗi”, hay đem “hữu hạn” đối với
“vô vàn”.
Câu tục ngữ na ná một liều thuốc an thần với người chịu đựng sự mất mát. Nhưng khổ thơ
của anh không chủ đích “an thần” mà hướng tới đánh động, thức tỉnh và khai sáng. Chúng ta có
xu hướng nhìn “bầu trời” cũng là “bầu không”, tức bầu trống rỗng. Tuy nhiên ở nơi đó chúng ta
đã thủng tầng ozone, chịu sự tăng nhiệt độ hàng năm, các trận siêu bão ngày một nhiều…
“Đây đất đai già cỗi
Cái tổng số những gì chúng ta có được
Còn bầu trời là vô vàn những mất mát của ta”
Anh tiếp tục quán sát dưới lăng kính toán, thấy sự phân hóa nhân loại theo những tiêu chí
nào đó chẳng hạn GDP đầu người đã diễn ra như cuộc phân hóa giữa dấu nhân (dù rất gần ảo
tưởng, đánh giá nhầm) và dấu cộng, lại còn khuếch đại thêm bằng vị thế “bên lề”:
“Đây con số tinh anh ranh ma
Người yểu mệnh đứng bên lề dấu cộng
Một phép nhân bay lượn cùng bao nhiêu huyễn mộng
Ghé tai anh
Và bão tố trở về”
Cơn bão thiên nhiên ở khổ thơ trước đã được bổ sung bằng các cơn bão nhân tạo: Bão tài
chính chứng khoán, bão tiền ảo…
Trong một môi trường đảo điên bởi mất / được, bởi phân hóa và nhiều bão thế, thì “quên
nhau” đâu chỉ ở phạm vi phố, nhưng café lại cần phố làm nền:
“Đây là phố quên nhau
Hãy ghé lại làm một ly café,
Quán sắp đổ bởi những lời giã biệt”
Người đọc muốn truy nguyên nghĩa của thơ sẽ tự hỏi những lời giã biệt là gì mà có thể
làm đổ cả quán? Và đổ ở đây là theo nghĩa “phá sản” hay “không còn lý do tồn tại”? Hay phải
2
chăng quán là tập thơ và từng ly café chính là từng bài thơ của tập? Đừng hỏi tôi vì có khi chính
tác giả cũng chẳng có câu trả lời rành rẽ.
Bỗng anh đưa ra một cái kết bất ngờ cho bài thơ đầy “lay động”:
“Và hãy nhớ:
chúng ta không lay động.”
Vâng, không lay động nhưng có thể ốm nhỉ? Chúng ta đến với bài thơ tiếp theo – Bài thơ
này đang ốm:
“Qua nét nhòa ô cửa
Những giọng nói một cái lá cũng nhòa
Mình ngờ dòng sông sắp hết”
Chữ nhòa tượng hình ở câu thơ thứ nhất, nhưng tượng thanh ở câu thơ thứ hai, và điên rồ
ở chỗ nó lại là “thanh” của một cái lá. Và rất có lý để sinh “ngờ”. Còn, hiểu theo nghĩa đen, thế
nào là một “dòng sông sắp hết”? Trước giờ tôi chỉ biết đến “sông chết”, “sông cạn”, chứ chưa
từng nghe “sông hết”, và phải chăng đây cũng chính là một kiểu “nhòa”?
“Có ai đó bỗng nhiên ngừng rơi
Sau quãng dài tê mê buông thả”
Quả là bài thơ “đang ốm”, bởi bỗng dưng một chi tiết xuất hiện không rõ cớ lý gì.
“Mình ngờ quá mưa không sang được nữa
Ngờ như những lời ngang ngửa
Đã xanh rêu với u huyền”
Mưa thì rơi, chứ mưa có “sang” bao giờ? Nếu mưa sang thì như thế nào?
“Ốm là bước qua nghịch lý
Về thiếp trong những nét nhòa”
Ồ hóa ra thơ có lý do xác đáng để mà ốm. Và ốm như vậy rất cần nội lực.
“Kẻ dừng lại kia vừa giật mình chạnh nghĩ
Chỉ là dăm ba tiếng gọi
Hớt hơ trên những chia lìa”
Cái “dừng lại” này đối lập với cái “bước qua” ở trên chăng? Và cũng “có lý do xác đáng”
chăng?
“Mình ngờ ngợ thời gian rất lạnh!”
3
Tới đây thì tường minh rồi, và mặc dù viết “ngờ ngợ” nhưng tôi cho rằng tác giả rất xác
quyết về điểm này: Thời gian rất lạnh, với cả kẻ bước qua nghịch lý lẫn người dừng lại.
Anh lại tiếp tục truyền thống kết bài bất ngờ:
“Chấm một dấu chấm than đỏ quạch
Chờ xem ấm tới bên nào.”
Hơi ấm ấy sẽ đến với bên bước qua hay bên dừng lại? Cũng phải chờ xem thôi.
Anh sẽ thuộc về phía bước qua hay bên dừng lại? Trước tiên hãy xem anh là gì.
“Ta là gì trong ý nghĩ của ta” – Hóa hình
Đọc lên, thấy lạ. Chẳng phải trong ý nghĩ của “ta” thì ta là nhà thơ, tiểu thuyết gia… rồi
sao? Rồi thấy thương, bởi hóa ra câu hỏi ấy có lý, bởi con phố có tên hẳn hoi treo đầy biển hiệu
cũng không dễ đoan chắc được nó là gì:
“Là gì nhỉ cái dãy phố con con treo đầy biển hiệu”
Ta, rồi dãy phố con, rồi tiếp tục hóa hình thành chim, thì sao?
“Chim
Trong phép mầu khó hiểu
Bay và đậu xuống
Rồi lại bay”
Đã là phép mầu thì khó hiểu là phải quá rồi mà? Nhưng thắc mắc về sự bay – đậu – bay
của chim phải chăng nhà thơ đã trở nên đa sự? Thì ra nó liên quan đến vận động này:
“Rồi ngày trôi giờ buông trầm như hoa gạo rụng
Cả em nữa một thuở cháy tưng bừng
Giờ cũng thành dấu chấm vời xa”
Tuy nhiên, do đã xác quyết một trạng thái “không lay động” nên nhà thơ của chúng ta lại
nhanh chóng tái lập cân bằng:
“Nhưng trên nóc nhà ta
Tinh mơ luôn trở lại”
Sự cân bằng ấy cũng là phán quyết của thiên nhiên:
“Những con chim không bao giờ giả dối
Cất tiếng nói của trời”
Một lần nữa, tác giả lại có cái kết “bẻ lái”:
4
“Trong sự phong kín đê mê này
Ta ngượng ngùng nghĩ mình là cánh cửa”
Cánh cửa phong kín một đê mê nào đó, nhưng hoàn toàn không đồng nghĩa với che giấu
sự thật.
* * *
Tôi lại tò mò tự hỏi ngoài đê mê cánh cửa Nguyễn Bình Phương còn phong lại những gì?
Trong bài Gửi những gì khổ sở anh tả về cái chức, không rõ của ai:
“Một cái chức lăn như cỏ lông chông”
Thật nhẹ hều!
“Một cái chức liu riu ánh vàng
La lẩn giữa hỗn hoang làm thức dậy bao nhiêu thấp thỏm
Những linh hồn của gió
Những ngón tay muốt dài và ẩm
Đã kín đáo nẫng đi”
Cái ánh vàng có chút đáng kể ấy đã bị nẫng đi!
“Vẫn một cái chức vởn vờn vơn lượn bay ngay đầu mũi”
Từ láy mới lạ!
“Một cái chức bỗng vỗ nên thành biển
Biển xanh đen vây cá mập giương buồm
Đêm đảo cánh xoay muôn đường ngàn hướng
Sáng ra hoa đại rụng ơ hờ”
Những hình ảnh tương phản mạnh mẽ chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi giữa “đêm
đảo cánh” với “sáng ra”, khiến chúng ta cần nghi ngờ về thực chất tầm quan trọng của cái chức
ấy!
Dễ hiểu thôi, anh kết luận:
“Hãy vung tay vẽ, mình ạ, nét bập bùng của lửa
Kẻo cái chức nhì nhằng vẽ bậy xuống đời ta”
Có lúc, anh đã chán “cái chức nhì nhằng” đến định trở thành Kẻ ngoài cuộc:
5
“Anh vứt bỏ đồng hồ
Và thành người ngoài cuộc”
Thì sao nhỉ:
“Họ hân hoan chờ anh ở nơi mây sẽ dừng”
Và sao nữa:
“Những cơn hoang tưởng mờ
Lảy bảy chết dọc theo kim phút
Những tích tắc cố rướn thêm một nhịp
Rồi ngã vào hư không”
Nhưng rút cục thì:
“Nơi chết lặng
Vẫn tích tắc tích tắc tích tắc”
Anh có thể là kẻ ngoài cuộc ở một dòng chảy nào đó, nhưng làm sao ở ngoài dòng chảy
thời gian?
Khi thấy làm kẻ ngoài cuộc không còn khả thi nữa, anh thử đi câu dù hờ hững (Buổi câu
hờ hững):
Bắt đầu là lối tả thực “cưa sừng làm nghé”:
“Nước câu mặt trời
Mặt trời câu gió”
Anh có thể hờ hững với mồi, với cá; nhưng đâu có hờ hững được với ngày mai:
“Ngày mai câu một ngày mai khác
Bằng gương mặt lơ vơ”
Không ai chắc chắn được về ngày mai, và vậy thì “lơ vơ” là đương nhiên.
Hy vọng cũng là một phần của ngày mai, nên anh nghĩ về bọn trẻ “online câu hy vọng…”.
Và nghĩ về vòng lặp lẩn quẩn, lại “gió câu mặt trời”. Anh càng không thể không nghĩ về đồng
loại:
“Giữa mê trận những con mồi
Giữa chết bởi săn lùng và sống ngoài chờ đợi
Mỗi người một chiếc cần câu buông lơi”
Mỗi người câu dường như cũng đang bị câu!
6
Không gian của hồ câu đã vậy, còn sẽ ra sao Những cư dân vùng châu thổ sông Hồng?
Một thái độ ngồ ngộ, một lịch sự rất nửa vời:
“Họ nghiêng đầu chào anh mà không ngó ngàng anh”
Thì bởi vì họ ở bên:
“sông Hồng trôi tuồn tuột sang chiều”
Họ yên ổn với sự cô độc:
“vòm họng họ ngọt, nhưng đắng ngắt nếu anh chạm vào họ”
Họ cũng có khi điều chỉnh nhịp điệu sống của mình:
“họ ăn nhẩn nha nói nhẩn nha làm tình thì hối hả vì họ biết không ở đây được
mãi”
Họ cũng có ước mơ dù hình như chẳng nhận được bao nhiêu phiếu thuận:
“mơ ước của họ đêm đêm cũng ú ớ xanh theo, chỉ những vì sao cuối thu là ngày
càng nhòa nhạt”
Họ cũng ghét cả nghĩ ngợi quá nhiều, kể cả chuyện “chỗ chết”. Tôi nghe đâu có những xã
ở Thái Thụy, Thái Bình, số liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ nhiều ngang cả tỉnh
Quảng Ninh!
“con tốt xắn quần lội vào chỗ chết, lại chết một lần nữa, và cứ thế, không lăn tăn
nghĩ ngợi, họ cười”
“lo căng trong yên ả, khi hiểm nguy thì xúm lại thành đàn”
Trước những cư dân độc đáo như thế, thái độ phù hợp nhất của anh là:
“Đừng ca tụng họ, đừng rắc bạc lên phù sa vì phù sa đã bạc, hãy trồng thêm
những bãi bờ lơ lễnh, nếu bình yên là điều anh mong đợi”
Đã quá nhiều bài thơ cấu trúc chặt chẽ, đóng mở tạo ra nhiều ngạc nhiên, nhưng về cơ bản
đều đầy tự chủ và không lay động, hay nói đúng hơn là động không vì (bị) lay. Vì vậy tôi rất cảm
động khi đọc bài thơ mà ở đó anh thả lỏng hoàn toàn, chấp nhận mình động vì (bị) lay - Chơi với
con, ở đây anh đã:
“Lăn qua chữ nghĩa
Tôi rền vang tôi”
Có cái ví von giăng sao to tát cũng là đặc thù thế giới tuổi thơ, nhưng được cân bằng bởi
hai chữ “giòn và thơm”:
“Hai đứa trẻ hai vì sao nhấp nháy
Giòn và thơm trong đêm giữa hạ”
7
Và chữ “vì sao” còn trở nên thân gần hơn nữa, khi mà:
“Tôi xung phong làm cái chảo nấu ăn
Hai đứa trẻ hai vì sao mằn mặn
Vừa xào xáo vừa cười lơ cười lắc”
Vâng, cái cười “lơ lắc” tạo chút cảm giác xa xăm, là cái xa xăm khi mà người cha hóa ra
rất lâu mới được sống thật sâu thật kỹ trong thế giới của con mình. Nó khiến tôi nhớ khi tôi “bắt
chước” con tôi bò, thì nó cười khoái chí hơn (vì thêm bạn).
Rồi hình như anh lại “lăn lại” với chữ nghĩa:
“Khuất trong góc nhà tôi có cả ta cả giặc”
“và tôi ngồi trong cuốn sách của tôi
Ai đó viết ra ở chân trời khác”
Rút cục anh đã thực sự thành bạn của con:
“Ngân nga ba đứa ba quả chuông”
Những đứa trẻ đã lay động anh và anh tự lay động chính mình?
* * *
Nguyễn Bình Phương viết về người lính nhỏ nhẹ mà sâu sắc. Trong bài Về một người
thương binh hỏng mắt, anh tả chính xác trạng thái “thấy” của người hỏng mắt về “một vệt nắng
ngơ ngơ”, không rõ màu sắc, nhưng có thể nó sáng hơn chỗ không có vệt nắng.
“một vệt nắng ngơ ngơ trên dòng chảy âm u vô tận”.
Anh thương binh tả quê rất thơ:
“anh bảo quê anh ở bên kia mùa hạ, tôi bắt gặp những rặng núi xanh lam và lau
bạc”
Và nhà thơ tung hứng, trong thái độ nương níu trân trọng:
“- Vải đã chín hết rồi, nhưng mây trắng vẫn còn nhiều vô kể”. Tôi rụt rè tả lại cho
anh, anh chỉ cười khe khẽ.
Họ là một cặp xướng họa xứng đáng của nhau.
Người thương binh tự sự, mở đầu “duy mỹ”:
“Chiều năm một chín tám tư cũng là chiều của mây”.
Từ tượng hình bổ nghĩa cho từ tượng thanh khi “lá” gặp “người”:
8
“lá lấp lánh reo mỗi độ gặp người”
Mà như thế thì chỉ có thể là người thương, đẹp theo kiểu:
“môi cắn chỉ tóc dài buông trách cứ”
Và những vẻ đẹp ấy bị ngắt bởi:
“một luồng sáng trong veo rọi xuống từ trời”
Anh vẫn đủ điềm tĩnh, an hòa để thấy luồng sáng đem lại chết chóc đau thương ấy “trong
veo”, dù sau đó không ai có thể phủ nhận thực tế:
“đêm bắt đầu từ đấy thật dài”
Và, lại như truyền thống, bài thơ có cấu trúc rất vững của Nguyễn Bình Phương lại có một
cái kết bất ngờ:
“Chúng ta nhìn thay người thương binh ấy, vào ban mai, vào trưa, vào sẩm tối.
Đêm thì anh nhìn giúp chúng ta.”
Vâng, “tàn mà không phế”, nhưng là cách biểu đạt mới, cụ thể; trong một mối “tương tức”
sâu sắc!
Còn ở nghĩa trang mà anh định vị là Trên đồi cao, anh đã thẳng thắn về những cung cách
tưởng niệm ồn ào mà tâm không chắc đã thành:
“Đừng khói hương nhiều làm họ lẫn
Bình yên đâu cần bóng bồ đề
Họ là cây bồ đề mênh mông không tuổi”
Anh cụ thể hơn:
“Bia đá lạnh làm sao dung nổi
Dép đúc
Đầu trần
Ak trên tay
Miệng như lửa…”
Nhưng với tình yêu vẫn giản dị là:
“Nhớ cô bạn gái khóc trong mưa”
Và anh rốt ráo:
“Đừng nhắc đừng nhắc nữa
Họ về”
9
Đội hình điệp trùng của họ cao thấp và nhấp nhô, bất tận theo độ dốc của đồi:
“Mộ với mộ với mộ với mộ”
Với người lính (hay quan) của thời xa xưa hơn nữa, anh cũng đặt trong tầm quán chiếu
của mình, trong Tượng đá cầm gươm anh chỉ ra theo dòng thời gian vô tận:
“Bao quyền uy đã rớt xuống bùn
Những cơ bắp căng lên mãi mãi”
Hẳn đó là cơ bắp đá!
“Thời gian đổ kềnh trên đầu gối”
Chúng ta chỉ từng nghe thời gian trôi, chưa từng nghe / thấy nó đổ kềnh! Hẳn nó là ẩn dụ
của thời đại, của những “muôn vàn”, “muôn năm” gì đó.
“Qua kẽ tay thế sự nhờn nhợt rơi”
Những quá trình không mới, nhưng cái cách anh tả cái “nhờn nhợt rơi” thật ấn tượng.
Anh hẳn nói về mắt của tượng đá trong khổ thơ này:
“Mắt ngó xa xanh
Xa xanh hóa thạch
Biết thương yêu sống dậy ở phương nào
Phương nào nữa chôn vùi giông bão”
Hóa ra mắt ấy có tầm nhìn, quyền lực vô biên trong cả không / thời gian. Mà như thế thì
thật logic khi anh kết, một cái kết bao hàm cả xưa sau:
“Này nghe:
Trong thanh gươm đá sẵn có nụ cười
Trong những nụ cười vô vàn gươm sắc”
Cũng trong mạch thơ hồi cố ấy, anh bàn về Vĩnh cửu:
“Tôi cùng em ngắm tượng
Tượng nhìn lại hai ta
Cả ba là vĩnh cửu”
Khi nhìn ra thực tướng vô sinh bất diệt của vạn pháp, anh xác quyết vĩnh cửu không phải
phẩm tính độc quyền của tượng nói riêng hay các biểu tượng nói chung!
* * *
10
Tập thơ theo hành trình ngày một bớt “động”, bất kể có vì “lay” hay không. Đã xuất hiện
những câu hỏi riết róng về “tồn tại hay không tồn tại” mà Nguyễn Bình Phương sẵn sàng đặt cao
hơn cả chuyện động vì cái gì.
“Mày, phận mày, những điêu đứng chực chờ,
nhưng đừng nghĩ chẳng còn ai đón đợi
Nhớ cho, hết lá vẫn còn cây
Hết cây còn cả rừng mơ tưởng”
“Không thành người mình là gì hả cây?” – Bện lẫn với cây không lá
Khi anh đã thấy những gì từng gần gũi trở nên Vời vợi xa:
“Cái tổ nhỏ nhoi kết bằng ý nghĩ về nhau
cũng quá đỗi xa xôi
Dải sương mù cuối năm kéo ngôi đền lùi lại
Nấp sau bao lý lẽ tỏ mờ”
Anh thấm thía sự bất định của cuộc sống:
“Cây biết chọn một ngày rụng lá
Đời tắt nơi nao thì bí ẩn muôn vàn”
Cũng thấm thía sự hữu hạn của chữ nghĩa:
“Có chữ nào tát cạn
Khoảng cách mênh mang này”
Và dù ý thức rõ là vời vợi xa, anh vẫn thấy tính chất cứu cánh và nuôi một vọng tưởng:
“Người đang tới xa xôi gõ cửa
Múa tưng bừng trên những ngón tay thon”
Mối quan hệ riêng tư đã vậy, cả một thời đại lại là Thời không mạch lạc, đến độ không
nhận dạng nổi trạng thái sinh học của đương sự:
“Không ngủ, không thức và không hát”
Cho tới tận khi “bên tai vang tiếng súng” (của pháp trường) thì “Ngày vẫn ngày không
mạch lạc”. Sống trong những ngày như thế, không quá lạ khi nhà thơ:
“Đứng dậy, sũng ướt, đi rồi tự hỏi
Viết là tìm thấy hay đánh mất?” – Chân dung khi trống trải
11
Chỉ chờ có vậy là tôn giáo xuất hiện, dù ban đầu mới ở dưới dạng ví von, nhưng ở cuối
khổ thơ này đã trở nên đầy uy lực và ám ảnh:
“Mi, ngôi chùa xây từ nắng mưa ảo mộng
Mi nhìn gì ong óng
Mà rần rật những nét uốn cong
Không cặn bã, mi là điều ngưng đọng
Uy nghi, rờn rợn hơn ngày mai” – Phân chim
Anh một lần nữa nhấn mạnh sự không mạch lạc tất yếu tồn tại:
“Mi là nốt bâng khuâng lạc giữa trắng và đen”
Phím đàn (dương cầm) thì chỉ có thể là trắng hoặc đen!
Tới Thời bốn lăm ngồi cạnh sông thì việc đồng hành cùng tôn giáo đã được anh xác
quyết, bằng tư thế tọa thiền, bằng vị thế “không hai” (thuyết bất nhị) của phù sa và nước:
“Anh mầm cây tọa thiền trong đất
Anh khoảng mù lòa giữa nước với phù sa”
Anh nhận thấy mọi thứ có tướng đều là hư vọng, kể cả bản thân mình:
“Không chảy cùng sông một cái bóng
Anh ngó anh đâu phải là anh
Là hư ảnh từ búa xua hư ảnh
Búng tay lên yên ả tan tành”
Và giờ thì anh trực diện gọi tên, yên trí với ý niệm rằng rượu là thứ phải “giới” chứ không
phải “cấm”:
“Cạnh nửa chai lavie uống dở
Đó là đời hay thơ?
Đó là anh hay Phật?”
Có vẻ như đó là đời và cũng là thơ, có vẻ như là anh mà cũng là Phật (tại tâm anh). Câu
hỏi khiến tôi nhớ tới ý tưởng rốt ráo của một thiền sư rằng “lên chùa khác gì Phật đi lạy Phật”.
Anh đã toại nguyện với tính chất “thức tức thị không”:
“Câu hỏi chẳng bao giờ có thật”
Và trở thành một thiền giả thực thụ khi tiếp tục cuộc viễn du của mình:
12
“Anh cùng sông lẽo đẽo lên đường….”
Chữ lẽo đẽo hiển thị nhu hòa khiêm ái, nhưng lại là “cùng sông” thì vẫn chất ngất tự tôn
tự hào. Cái dáng lẽo đẽo không nhanh nhưng vững chãi, bền bỉ và không gì ngăn được.
* * *
Qua những bài thơ tôi đã đi sâu giới thiệu trong tiểu luận này, chúng ta có thể thấy hầu
như chúng đều có cấu trúc chặt chẽ, với cái kết phần lớn bất ngờ đắt giá và thuyết phục. Ngoài ra
anh cũng sáng tạo ra nhiều từ mới mẻ và rất có lý. Vài ví dụ: Hợp âm lêu bêu, rối beng, nhịu
hình, bàn chân vấu váp, quầng quã, chiều tạt nhạt, bóng rùng rình…
Cũng rất đáng để giới thiệu một số cách ví von lạ và thú vị:
“Cát đã vơi lẹ làng yểu điệu
Như chú ong vừa bay vừa tan” - Từ đồng hồ chờ trên máy tính
Cách dồn nén rất nhiều triết lý trong đôi câu thơ ngắn:
“Rồi thì ai cũng biết
Nước đã kết thúc cuộc chơi” - Miêu tả những ngày mưa
Nước ở đây là dân – nâng thuyền mà cũng lật thuyền.
Cách chơi chữ thể hiện thái độ nửa cười nửa mếu:
“Ngày hoa bán đầy phố
Đêm phố đầy bán hoa
Những mà cả bí ẩn
Gật và lắc và đi đều lạnh ngắt” – Khoảng giữa
Anh đã không chỉ ý thức về làm mới thơ mình, mà có hẳn một cảnh báo về cái cũ – dù anh
viết tặng ta nhưng hẳn cũng không cấm chúng ta nhận lấy món quà này - Bài thơ cũ.
“Ta sinh ra cô đơn
Giờ cô đơn đã cũ
Ta trưởng thành bởi sợ hãi
Sợ hãi cũng cũ rồi”
Cái hay cũ, mà cái dở cũng cũ:
“Xa xa trải một mùa bệnh hoạn
13
Bệnh hoạn cũng cũ rồi”
Cái mà vừa hôm qua còn mới:
“Tốc độ ư?
Thì cũng cũ lắm rồi”
Trong khi thiên nhiên luôn thách đố theo một cách nào đó:
“Sông Hồng đê mê hóa một nén hương
Dẫn ý nghĩ về nơi không thể biết”
Ngay cả “kiếm tìm” là đặc trưng của sáng tạo, thì cũng chịu sự thải loại khắc nghiệt:
“- Ta lớn lên bởi kiếm tìm
Giờ kiếm tìm đã cũ”
Tuy nhiên, không phải vì cái “đã cũ” này mà các thi nhân nên dừng kiếm tìm, bởi không
kiếm tìm thì lấy đâu ra những câu thơ hay tầm cỡ này:
“Con ong đen mắt tím
Dẫn theo đàn ong tím mắt đen”
Mà lại phải kiếm tìm trong sự “bình tâm” chứ xớn xác mong cầu có khi lại càng khó gặp:
“- Ta đang nở nhưng sẽ chẳng thành hoa
Nếu các ngươi không bình tâm ước nguyện”
Nguyễn Bình Phương lẽo đẽo cùng sông trong khi thơ anh tiếp tục nở, theo cách:
“Ngươi, bông hoa nhỏ xiu như tiếng nói thầm
Làm chao đảo những vầng cổ thụ”- Nở
Hà Nội, mùa hanh 2022
Hoàng Liên Sơn
Đt: 0903406196
Email: hlscsc@yahoo.com

Người gửi / điện thoại