bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
BÀI VIẾT MỚI
PHẢN HỒI MỚI

vũ nho 085 589 0003

CÁM ƠN NHÀ THƠ NGUYỄN ĐỨC BÌNH ĐÃ CỘNG TÁC! CHÚC ANH SỨC KHỎE, MAY MẮN!

 

NGUYỄN ĐỨC BÌNH - ĐT :0969781942

Xin trân trọng cám ơn BBT Trang TÁC PHẨM VÀ BẬN ĐỌC !

 

VŨ NHO 085 589 0003

NHÀ THƠ LỪNG DANH HỒI NÀONHƯ NHÀ NHIẾP ẢNH LỪNG DANHUNG DUNG ĐỘC HÀNH XE BUÝTCHẢ QUAN TÂM AI BIẾT HAY KHÔNG BIẾT!ẤY LÀ...PHẨM CHẤT...CÔNG DÂN!

 

VŨ NHO 085 589 0003

Gay cấn thật chứ không đùa!May mà chú đã là Đảng viên!Hồi hộp phết!

 

VŨ NHO 085 589 0003

THƯA CÙNG BÀ CON GẦN XAbÁC ĐINH Y VĂN NHÀ TALÀ DÂN GIA VIỄN VỐN LÀ ĐỒNG CHIÊMCHÚNG TÔI BỢI LỘI ĐÃ QUENVỀ MÔN CHÈO THUYỀN CHẲNG CHỊU KÉM AICHÈO TAY CŨNG ĐÃ KHÁ TÀICHÈO CHÂN ĐỘC ĐÁO CHẲNG AI SÁNH TÀY!

 

vũ nho 085 589 0003

CÁM ƠN BÁC ĐINH Y VĂN ĐÃ CÒM VỀ CHUYỆN ...TÔI CÒM ANH TÂN TÔI CÓ THÓI QUEN ĐỌC DẦN VÀ GHI CẢM TƯỞNG...NẾU CẦN PHẢI GHI CŨNG LÀ MỘT CÁCH BÁO ĐI RẰNG TÔI ĐÃ ĐỌC...VÀ GHI LỜI BÌNH!

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 46
Trong ngày: 184
Trong tuần: 1333
Lượt truy cập: 1717908

HOÀNG LIÊN SƠN giới thiệu

 nui_xanh

LẼO ĐẼO CÙNG SÔNG

(Về tập thơ Buổi câu hờ hững của Nguyễn Bình Phương)

 

Anh đã mở đầu tập thơ bằng một bài thơ có tiêu đề rất “thực dụng”: Chào hàng.

Tục ngữ có câu: “Con cá mất là con cá to”. Nguyễn Bình Phương bổ sung cái được đặt

bên cạnh cái mất, phát triển hình ảnh về cái mất, tạo ra sự tương phản dữ dội giữa “già cỗi” và

“vô vàn”. Hãy chú ý tác giả không đem “non trẻ” đặt bên “già cỗi”, hay đem “hữu hạn” đối với

“vô vàn”.

Câu tục ngữ na ná một liều thuốc an thần với người chịu đựng sự mất mát. Nhưng khổ thơ

của anh không chủ đích “an thần” mà hướng tới đánh động, thức tỉnh và khai sáng. Chúng ta có

xu hướng nhìn “bầu trời” cũng là “bầu không”, tức bầu trống rỗng. Tuy nhiên ở nơi đó chúng ta

đã thủng tầng ozone, chịu sự tăng nhiệt độ hàng năm, các trận siêu bão ngày một nhiều…

 

“Đây đất đai già cỗi

Cái tổng số những gì chúng ta có được

Còn bầu trời là vô vàn những mất mát của ta”

Anh tiếp tục quán sát dưới lăng kính toán, thấy sự phân hóa nhân loại theo những tiêu chí

nào đó chẳng hạn GDP đầu người đã diễn ra như cuộc phân hóa giữa dấu nhân (dù rất gần ảo

tưởng, đánh giá nhầm) và dấu cộng, lại còn khuếch đại thêm bằng vị thế “bên lề”:

“Đây con số tinh anh ranh ma

Người yểu mệnh đứng bên lề dấu cộng

Một phép nhân bay lượn cùng bao nhiêu huyễn mộng

Ghé tai anh

Và bão tố trở về”

Cơn bão thiên nhiên ở khổ thơ trước đã được bổ sung bằng các cơn bão nhân tạo: Bão tài

chính chứng khoán, bão tiền ảo…

Trong một môi trường đảo điên bởi mất / được, bởi phân hóa và nhiều bão thế, thì “quên

nhau” đâu chỉ ở phạm vi phố, nhưng café lại cần phố làm nền:

 

“Đây là phố quên nhau

Hãy ghé lại làm một ly café,

 

Quán sắp đổ bởi những lời giã biệt”

 

Người đọc muốn truy nguyên nghĩa của thơ sẽ tự hỏi những lời giã biệt là gì mà có thể

làm đổ cả quán? Và đổ ở đây là theo nghĩa “phá sản” hay “không còn lý do tồn tại”? Hay phải

 

2

chăng quán là tập thơ và từng ly café chính là từng bài thơ của tập? Đừng hỏi tôi vì có khi chính

tác giả cũng chẳng có câu trả lời rành rẽ.

Bỗng anh đưa ra một cái kết bất ngờ cho bài thơ đầy “lay động”:

“Và hãy nhớ:

 

chúng ta không lay động.”

 

Vâng, không lay động nhưng có thể ốm nhỉ? Chúng ta đến với bài thơ tiếp theo – Bài thơ

này đang ốm:

 

“Qua nét nhòa ô cửa

Những giọng nói một cái lá cũng nhòa

Mình ngờ dòng sông sắp hết”

Chữ nhòa tượng hình ở câu thơ thứ nhất, nhưng tượng thanh ở câu thơ thứ hai, và điên rồ

ở chỗ nó lại là “thanh” của một cái lá. Và rất có lý để sinh “ngờ”. Còn, hiểu theo nghĩa đen, thế

nào là một “dòng sông sắp hết”? Trước giờ tôi chỉ biết đến “sông chết”, “sông cạn”, chứ chưa

từng nghe “sông hết”, và phải chăng đây cũng chính là một kiểu “nhòa”?

 

“Có ai đó bỗng nhiên ngừng rơi

Sau quãng dài tê mê buông thả”

Quả là bài thơ “đang ốm”, bởi bỗng dưng một chi tiết xuất hiện không rõ cớ lý gì.

“Mình ngờ quá mưa không sang được nữa

 

Ngờ như những lời ngang ngửa

Đã xanh rêu với u huyền”

Mưa thì rơi, chứ mưa có “sang” bao giờ? Nếu mưa sang thì như thế nào?

“Ốm là bước qua nghịch lý

Về thiếp trong những nét nhòa”

Ồ hóa ra thơ có lý do xác đáng để mà ốm. Và ốm như vậy rất cần nội lực.

“Kẻ dừng lại kia vừa giật mình chạnh nghĩ

Chỉ là dăm ba tiếng gọi

Hớt hơ trên những chia lìa”

Cái “dừng lại” này đối lập với cái “bước qua” ở trên chăng? Và cũng “có lý do xác đáng”

chăng?

 

“Mình ngờ ngợ thời gian rất lạnh!”

 

3

Tới đây thì tường minh rồi, và mặc dù viết “ngờ ngợ” nhưng tôi cho rằng tác giả rất xác

quyết về điểm này: Thời gian rất lạnh, với cả kẻ bước qua nghịch lý lẫn người dừng lại.

Anh lại tiếp tục truyền thống kết bài bất ngờ:

“Chấm một dấu chấm than đỏ quạch

Chờ xem ấm tới bên nào.”

Hơi ấm ấy sẽ đến với bên bước qua hay bên dừng lại? Cũng phải chờ xem thôi.

Anh sẽ thuộc về phía bước qua hay bên dừng lại? Trước tiên hãy xem anh là gì.

“Ta là gì trong ý nghĩ của ta” – Hóa hình

Đọc lên, thấy lạ. Chẳng phải trong ý nghĩ của “ta” thì ta là nhà thơ, tiểu thuyết gia… rồi

sao? Rồi thấy thương, bởi hóa ra câu hỏi ấy có lý, bởi con phố có tên hẳn hoi treo đầy biển hiệu

cũng không dễ đoan chắc được nó là gì:

 

“Là gì nhỉ cái dãy phố con con treo đầy biển hiệu”

Ta, rồi dãy phố con, rồi tiếp tục hóa hình thành chim, thì sao?

“Chim

Trong phép mầu khó hiểu

Bay và đậu xuống

Rồi lại bay”

Đã là phép mầu thì khó hiểu là phải quá rồi mà? Nhưng thắc mắc về sự bay – đậu – bay

của chim phải chăng nhà thơ đã trở nên đa sự? Thì ra nó liên quan đến vận động này:

 

“Rồi ngày trôi giờ buông trầm như hoa gạo rụng

Cả em nữa một thuở cháy tưng bừng

Giờ cũng thành dấu chấm vời xa”

Tuy nhiên, do đã xác quyết một trạng thái “không lay động” nên nhà thơ của chúng ta lại

nhanh chóng tái lập cân bằng:

“Nhưng trên nóc nhà ta

Tinh mơ luôn trở lại”

Sự cân bằng ấy cũng là phán quyết của thiên nhiên:

“Những con chim không bao giờ giả dối

Cất tiếng nói của trời”

Một lần nữa, tác giả lại có cái kết “bẻ lái”:

 

4

 

“Trong sự phong kín đê mê này

Ta ngượng ngùng nghĩ mình là cánh cửa”

Cánh cửa phong kín một đê mê nào đó, nhưng hoàn toàn không đồng nghĩa với che giấu

sự thật.

 

* * *

 

Tôi lại tò mò tự hỏi ngoài đê mê cánh cửa Nguyễn Bình Phương còn phong lại những gì?

Trong bài Gửi những gì khổ sở anh tả về cái chức, không rõ của ai:

 

“Một cái chức lăn như cỏ lông chông”

Thật nhẹ hều!

“Một cái chức liu riu ánh vàng

La lẩn giữa hỗn hoang làm thức dậy bao nhiêu thấp thỏm

Những linh hồn của gió

Những ngón tay muốt dài và ẩm

Đã kín đáo nẫng đi”

Cái ánh vàng có chút đáng kể ấy đã bị nẫng đi!

“Vẫn một cái chức vởn vờn vơn lượn bay ngay đầu mũi”

Từ láy mới lạ!

“Một cái chức bỗng vỗ nên thành biển

Biển xanh đen vây cá mập giương buồm

Đêm đảo cánh xoay muôn đường ngàn hướng

Sáng ra hoa đại rụng ơ hờ”

Những hình ảnh tương phản mạnh mẽ chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi giữa “đêm

đảo cánh” với “sáng ra”, khiến chúng ta cần nghi ngờ về thực chất tầm quan trọng của cái chức

ấy!

Dễ hiểu thôi, anh kết luận:

“Hãy vung tay vẽ, mình ạ, nét bập bùng của lửa

Kẻo cái chức nhì nhằng vẽ bậy xuống đời ta”

Có lúc, anh đã chán “cái chức nhì nhằng” đến định trở thành Kẻ ngoài cuộc:

 

5

 

“Anh vứt bỏ đồng hồ

Và thành người ngoài cuộc”

Thì sao nhỉ:

“Họ hân hoan chờ anh ở nơi mây sẽ dừng”

Và sao nữa:

“Những cơn hoang tưởng mờ

Lảy bảy chết dọc theo kim phút

Những tích tắc cố rướn thêm một nhịp

Rồi ngã vào hư không”

Nhưng rút cục thì:

“Nơi chết lặng

Vẫn tích tắc tích tắc tích tắc”

Anh có thể là kẻ ngoài cuộc ở một dòng chảy nào đó, nhưng làm sao ở ngoài dòng chảy

thời gian?

Khi thấy làm kẻ ngoài cuộc không còn khả thi nữa, anh thử đi câu dù hờ hững (Buổi câu

hờ hững):

Bắt đầu là lối tả thực “cưa sừng làm nghé”:

“Nước câu mặt trời

Mặt trời câu gió”

Anh có thể hờ hững với mồi, với cá; nhưng đâu có hờ hững được với ngày mai:

“Ngày mai câu một ngày mai khác

Bằng gương mặt lơ vơ”

Không ai chắc chắn được về ngày mai, và vậy thì “lơ vơ” là đương nhiên.

Hy vọng cũng là một phần của ngày mai, nên anh nghĩ về bọn trẻ “online câu hy vọng…”.

Và nghĩ về vòng lặp lẩn quẩn, lại “gió câu mặt trời”. Anh càng không thể không nghĩ về đồng

loại:

 

“Giữa mê trận những con mồi

Giữa chết bởi săn lùng và sống ngoài chờ đợi

Mỗi người một chiếc cần câu buông lơi”

Mỗi người câu dường như cũng đang bị câu!

 

6

Không gian của hồ câu đã vậy, còn sẽ ra sao Những cư dân vùng châu thổ sông Hồng?

Một thái độ ngồ ngộ, một lịch sự rất nửa vời:

“Họ nghiêng đầu chào anh mà không ngó ngàng anh”

Thì bởi vì họ ở bên:

“sông Hồng trôi tuồn tuột sang chiều”

Họ yên ổn với sự cô độc:

“vòm họng họ ngọt, nhưng đắng ngắt nếu anh chạm vào họ”

Họ cũng có khi điều chỉnh nhịp điệu sống của mình:

“họ ăn nhẩn nha nói nhẩn nha làm tình thì hối hả vì họ biết không ở đây được

mãi”

Họ cũng có ước mơ dù hình như chẳng nhận được bao nhiêu phiếu thuận:

“mơ ước của họ đêm đêm cũng ú ớ xanh theo, chỉ những vì sao cuối thu là ngày

càng nhòa nhạt”

Họ cũng ghét cả nghĩ ngợi quá nhiều, kể cả chuyện “chỗ chết”. Tôi nghe đâu có những xã

ở Thái Thụy, Thái Bình, số liệt sĩ hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ nhiều ngang cả tỉnh

Quảng Ninh!

 

“con tốt xắn quần lội vào chỗ chết, lại chết một lần nữa, và cứ thế, không lăn tăn

nghĩ ngợi, họ cười”

“lo căng trong yên ả, khi hiểm nguy thì xúm lại thành đàn”

Trước những cư dân độc đáo như thế, thái độ phù hợp nhất của anh là:

“Đừng ca tụng họ, đừng rắc bạc lên phù sa vì phù sa đã bạc, hãy trồng thêm

những bãi bờ lơ lễnh, nếu bình yên là điều anh mong đợi”

Đã quá nhiều bài thơ cấu trúc chặt chẽ, đóng mở tạo ra nhiều ngạc nhiên, nhưng về cơ bản

đều đầy tự chủ và không lay động, hay nói đúng hơn là động không vì (bị) lay. Vì vậy tôi rất cảm

động khi đọc bài thơ mà ở đó anh thả lỏng hoàn toàn, chấp nhận mình động vì (bị) lay - Chơi với

con, ở đây anh đã:

 

“Lăn qua chữ nghĩa

Tôi rền vang tôi”

Có cái ví von giăng sao to tát cũng là đặc thù thế giới tuổi thơ, nhưng được cân bằng bởi

hai chữ “giòn và thơm”:

 

“Hai đứa trẻ hai vì sao nhấp nháy

Giòn và thơm trong đêm giữa hạ”

 

7

 

Và chữ “vì sao” còn trở nên thân gần hơn nữa, khi mà:

“Tôi xung phong làm cái chảo nấu ăn

Hai đứa trẻ hai vì sao mằn mặn

Vừa xào xáo vừa cười lơ cười lắc”

Vâng, cái cười “lơ lắc” tạo chút cảm giác xa xăm, là cái xa xăm khi mà người cha hóa ra

rất lâu mới được sống thật sâu thật kỹ trong thế giới của con mình. Nó khiến tôi nhớ khi tôi “bắt

chước” con tôi bò, thì nó cười khoái chí hơn (vì thêm bạn).

Rồi hình như anh lại “lăn lại” với chữ nghĩa:

“Khuất trong góc nhà tôi có cả ta cả giặc”

“và tôi ngồi trong cuốn sách của tôi

Ai đó viết ra ở chân trời khác”

Rút cục anh đã thực sự thành bạn của con:

“Ngân nga ba đứa ba quả chuông”

Những đứa trẻ đã lay động anh và anh tự lay động chính mình?

 

* * *

 

Nguyễn Bình Phương viết về người lính nhỏ nhẹ mà sâu sắc. Trong bài Về một người

thương binh hỏng mắt, anh tả chính xác trạng thái “thấy” của người hỏng mắt về “một vệt nắng

ngơ ngơ”, không rõ màu sắc, nhưng có thể nó sáng hơn chỗ không có vệt nắng.

 

“một vệt nắng ngơ ngơ trên dòng chảy âm u vô tận”.

Anh thương binh tả quê rất thơ:

“anh bảo quê anh ở bên kia mùa hạ, tôi bắt gặp những rặng núi xanh lam và lau

bạc”

Và nhà thơ tung hứng, trong thái độ nương níu trân trọng:

“- Vải đã chín hết rồi, nhưng mây trắng vẫn còn nhiều vô kể”. Tôi rụt rè tả lại cho

anh, anh chỉ cười khe khẽ.

Họ là một cặp xướng họa xứng đáng của nhau.

Người thương binh tự sự, mở đầu “duy mỹ”:

“Chiều năm một chín tám tư cũng là chiều của mây”.

Từ tượng hình bổ nghĩa cho từ tượng thanh khi “lá” gặp “người”:

 

8

 

“lá lấp lánh reo mỗi độ gặp người”

Mà như thế thì chỉ có thể là người thương, đẹp theo kiểu:

“môi cắn chỉ tóc dài buông trách cứ”

Và những vẻ đẹp ấy bị ngắt bởi:

“một luồng sáng trong veo rọi xuống từ trời”

Anh vẫn đủ điềm tĩnh, an hòa để thấy luồng sáng đem lại chết chóc đau thương ấy “trong

veo”, dù sau đó không ai có thể phủ nhận thực tế:

“đêm bắt đầu từ đấy thật dài”

Và, lại như truyền thống, bài thơ có cấu trúc rất vững của Nguyễn Bình Phương lại có một

cái kết bất ngờ:

 

“Chúng ta nhìn thay người thương binh ấy, vào ban mai, vào trưa, vào sẩm tối.

Đêm thì anh nhìn giúp chúng ta.”

Vâng, “tàn mà không phế”, nhưng là cách biểu đạt mới, cụ thể; trong một mối “tương tức”

sâu sắc!

Còn ở nghĩa trang mà anh định vị là Trên đồi cao, anh đã thẳng thắn về những cung cách

tưởng niệm ồn ào mà tâm không chắc đã thành:

“Đừng khói hương nhiều làm họ lẫn

Bình yên đâu cần bóng bồ đề

Họ là cây bồ đề mênh mông không tuổi”

Anh cụ thể hơn:

“Bia đá lạnh làm sao dung nổi

Dép đúc

Đầu trần

Ak trên tay

Miệng như lửa…”

 

Nhưng với tình yêu vẫn giản dị là:

“Nhớ cô bạn gái khóc trong mưa”

Và anh rốt ráo:

“Đừng nhắc đừng nhắc nữa

Họ về”

 

9

 

Đội hình điệp trùng của họ cao thấp và nhấp nhô, bất tận theo độ dốc của đồi:

“Mộ với mộ với mộ với mộ”

Với người lính (hay quan) của thời xa xưa hơn nữa, anh cũng đặt trong tầm quán chiếu

của mình, trong Tượng đá cầm gươm anh chỉ ra theo dòng thời gian vô tận:

 

“Bao quyền uy đã rớt xuống bùn

Những cơ bắp căng lên mãi mãi”

Hẳn đó là cơ bắp đá!

“Thời gian đổ kềnh trên đầu gối”

Chúng ta chỉ từng nghe thời gian trôi, chưa từng nghe / thấy nó đổ kềnh! Hẳn nó là ẩn dụ

của thời đại, của những “muôn vàn”, “muôn năm” gì đó.

“Qua kẽ tay thế sự nhờn nhợt rơi”

Những quá trình không mới, nhưng cái cách anh tả cái “nhờn nhợt rơi” thật ấn tượng.

Anh hẳn nói về mắt của tượng đá trong khổ thơ này:

“Mắt ngó xa xanh

Xa xanh hóa thạch

Biết thương yêu sống dậy ở phương nào

Phương nào nữa chôn vùi giông bão”

Hóa ra mắt ấy có tầm nhìn, quyền lực vô biên trong cả không / thời gian. Mà như thế thì

thật logic khi anh kết, một cái kết bao hàm cả xưa sau:

 

“Này nghe:

Trong thanh gươm đá sẵn có nụ cười

Trong những nụ cười vô vàn gươm sắc”

Cũng trong mạch thơ hồi cố ấy, anh bàn về Vĩnh cửu:

“Tôi cùng em ngắm tượng

Tượng nhìn lại hai ta

Cả ba là vĩnh cửu”

Khi nhìn ra thực tướng vô sinh bất diệt của vạn pháp, anh xác quyết vĩnh cửu không phải

phẩm tính độc quyền của tượng nói riêng hay các biểu tượng nói chung!

 

* * *

 

10

Tập thơ theo hành trình ngày một bớt “động”, bất kể có vì “lay” hay không. Đã xuất hiện

những câu hỏi riết róng về “tồn tại hay không tồn tại” mà Nguyễn Bình Phương sẵn sàng đặt cao

hơn cả chuyện động vì cái gì.

 

“Mày, phận mày, những điêu đứng chực chờ,

 

nhưng đừng nghĩ chẳng còn ai đón đợi

 

Nhớ cho, hết lá vẫn còn cây

Hết cây còn cả rừng mơ tưởng”

“Không thành người mình là gì hả cây?” – Bện lẫn với cây không lá

Khi anh đã thấy những gì từng gần gũi trở nên Vời vợi xa:

“Cái tổ nhỏ nhoi kết bằng ý nghĩ về nhau

cũng quá đỗi xa xôi

Dải sương mù cuối năm kéo ngôi đền lùi lại

Nấp sau bao lý lẽ tỏ mờ”

Anh thấm thía sự bất định của cuộc sống:

“Cây biết chọn một ngày rụng lá

Đời tắt nơi nao thì bí ẩn muôn vàn”

Cũng thấm thía sự hữu hạn của chữ nghĩa:

“Có chữ nào tát cạn

Khoảng cách mênh mang này”

Và dù ý thức rõ là vời vợi xa, anh vẫn thấy tính chất cứu cánh và nuôi một vọng tưởng:

“Người đang tới xa xôi gõ cửa

Múa tưng bừng trên những ngón tay thon”

Mối quan hệ riêng tư đã vậy, cả một thời đại lại là Thời không mạch lạc, đến độ không

nhận dạng nổi trạng thái sinh học của đương sự:

“Không ngủ, không thức và không hát”

Cho tới tận khi “bên tai vang tiếng súng” (của pháp trường) thì “Ngày vẫn ngày không

mạch lạc”. Sống trong những ngày như thế, không quá lạ khi nhà thơ:

 

“Đứng dậy, sũng ướt, đi rồi tự hỏi

Viết là tìm thấy hay đánh mất?” – Chân dung khi trống trải

 

11

Chỉ chờ có vậy là tôn giáo xuất hiện, dù ban đầu mới ở dưới dạng ví von, nhưng ở cuối

khổ thơ này đã trở nên đầy uy lực và ám ảnh:

 

“Mi, ngôi chùa xây từ nắng mưa ảo mộng

 

Mi nhìn gì ong óng

Mà rần rật những nét uốn cong

Không cặn bã, mi là điều ngưng đọng

Uy nghi, rờn rợn hơn ngày mai” – Phân chim

Anh một lần nữa nhấn mạnh sự không mạch lạc tất yếu tồn tại:

“Mi là nốt bâng khuâng lạc giữa trắng và đen”

Phím đàn (dương cầm) thì chỉ có thể là trắng hoặc đen!

Tới Thời bốn lăm ngồi cạnh sông thì việc đồng hành cùng tôn giáo đã được anh xác

quyết, bằng tư thế tọa thiền, bằng vị thế “không hai” (thuyết bất nhị) của phù sa và nước:

 

“Anh mầm cây tọa thiền trong đất

Anh khoảng mù lòa giữa nước với phù sa”

Anh nhận thấy mọi thứ có tướng đều là hư vọng, kể cả bản thân mình:

“Không chảy cùng sông một cái bóng

Anh ngó anh đâu phải là anh

Là hư ảnh từ búa xua hư ảnh

Búng tay lên yên ả tan tành”

Và giờ thì anh trực diện gọi tên, yên trí với ý niệm rằng rượu là thứ phải “giới” chứ không

phải “cấm”:

 

“Cạnh nửa chai lavie uống dở

Đó là đời hay thơ?

Đó là anh hay Phật?”

Có vẻ như đó là đời và cũng là thơ, có vẻ như là anh mà cũng là Phật (tại tâm anh). Câu

hỏi khiến tôi nhớ tới ý tưởng rốt ráo của một thiền sư rằng “lên chùa khác gì Phật đi lạy Phật”.

Anh đã toại nguyện với tính chất “thức tức thị không”:

“Câu hỏi chẳng bao giờ có thật”

Và trở thành một thiền giả thực thụ khi tiếp tục cuộc viễn du của mình:

 

12

 

“Anh cùng sông lẽo đẽo lên đường….”

Chữ lẽo đẽo hiển thị nhu hòa khiêm ái, nhưng lại là “cùng sông” thì vẫn chất ngất tự tôn

tự hào. Cái dáng lẽo đẽo không nhanh nhưng vững chãi, bền bỉ và không gì ngăn được.

 

* * *

 

Qua những bài thơ tôi đã đi sâu giới thiệu trong tiểu luận này, chúng ta có thể thấy hầu

như chúng đều có cấu trúc chặt chẽ, với cái kết phần lớn bất ngờ đắt giá và thuyết phục. Ngoài ra

anh cũng sáng tạo ra nhiều từ mới mẻ và rất có lý. Vài ví dụ: Hợp âm lêu bêu, rối beng, nhịu

hình, bàn chân vấu váp, quầng quã, chiều tạt nhạt, bóng rùng rình…

Cũng rất đáng để giới thiệu một số cách ví von lạ và thú vị:

“Cát đã vơi lẹ làng yểu điệu

Như chú ong vừa bay vừa tan” - Từ đồng hồ chờ trên máy tính

Cách dồn nén rất nhiều triết lý trong đôi câu thơ ngắn:

“Rồi thì ai cũng biết

Nước đã kết thúc cuộc chơi” - Miêu tả những ngày mưa

Nước ở đây là dân – nâng thuyền mà cũng lật thuyền.

Cách chơi chữ thể hiện thái độ nửa cười nửa mếu:

“Ngày hoa bán đầy phố

Đêm phố đầy bán hoa

Những mà cả bí ẩn

Gật và lắc và đi đều lạnh ngắt” – Khoảng giữa

Anh đã không chỉ ý thức về làm mới thơ mình, mà có hẳn một cảnh báo về cái cũ – dù anh

viết tặng ta nhưng hẳn cũng không cấm chúng ta nhận lấy món quà này - Bài thơ cũ.

 

“Ta sinh ra cô đơn

Giờ cô đơn đã cũ

Ta trưởng thành bởi sợ hãi

Sợ hãi cũng cũ rồi”

Cái hay cũ, mà cái dở cũng cũ:

“Xa xa trải một mùa bệnh hoạn

 

13

 

Bệnh hoạn cũng cũ rồi”

Cái mà vừa hôm qua còn mới:

“Tốc độ ư?

Thì cũng cũ lắm rồi”

Trong khi thiên nhiên luôn thách đố theo một cách nào đó:

“Sông Hồng đê mê hóa một nén hương

Dẫn ý nghĩ về nơi không thể biết”

Ngay cả “kiếm tìm” là đặc trưng của sáng tạo, thì cũng chịu sự thải loại khắc nghiệt:

“- Ta lớn lên bởi kiếm tìm

Giờ kiếm tìm đã cũ”

Tuy nhiên, không phải vì cái “đã cũ” này mà các thi nhân nên dừng kiếm tìm, bởi không

kiếm tìm thì lấy đâu ra những câu thơ hay tầm cỡ này:

 

“Con ong đen mắt tím

Dẫn theo đàn ong tím mắt đen”

Mà lại phải kiếm tìm trong sự “bình tâm” chứ xớn xác mong cầu có khi lại càng khó gặp:

“- Ta đang nở nhưng sẽ chẳng thành hoa

Nếu các ngươi không bình tâm ước nguyện”

Nguyễn Bình Phương lẽo đẽo cùng sông trong khi thơ anh tiếp tục nở, theo cách:

“Ngươi, bông hoa nhỏ xiu như tiếng nói thầm

Làm chao đảo những vầng cổ thụ”- Nở

 

Hà Nội, mùa hanh 2022

Hoàng Liên Sơn

Đt: 0903406196

Email: hlscsc@yahoo.com

 

vnp_hoi_hoa_xuan_ecopark_2019_1

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com