
NGUYỄN HẢI YẾN – NGƯỜI ĐI TÌM CĂN NGUYÊN PHẬN ĐỜI ÁO CỘC
Cho đến bây giờ, tôi cũng chưa gặp Nguyễn Hải Yến. Tôi chỉ đọc khi bắt gặp tác phẩm chị in ở đâu đó. Tôi thích chất văn của chị, giọng văn của chị, cách kết cấu truyện, lối kể và ngôn ngữ chị sử dụng. Có một điều rất lạ, mỗi khi đọc như thế, tôi luôn có cảm giác như những ngôn ngữ ấy tôi đã nghe, đã thấy đâu đấy, thứ ngôn ngữ của những người áo cộc, chân lấm.
Thích là thế nhưng tôi không có thời gian đi tìm tác phẩm để đọc gọi là có tính hệ thống nên cái cảm giác ấy, cứ thế, chập chờn và neo lại trong suy nghĩ của tôi. Rồi khi Nguyễn Hải Yến được giải Nhất cuộc thi truyện ngắn trên Tạp chí Nhà văn và tác phẩm, có một người bạn, biết tôi thích văn chị, gửi tặng cuốn “Hoa gạo đáy hồ”, tên truyện ngắn chị được giải và cũng là tên tập sách, Nhà xuất bản Văn hóa- Văn Nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020.
Không gian truyện của Nguyễn Hải Yến rất rộng. Một không gian trải khắp từ vùng quê nông thôn nghèo đói và tằn tiện đến vùng miền núi, đèo heo hút gió, thâm sơn cùng cốc, chó ăn đá gà ăn sỏi; từ xó xỉnh những khu nhà ổ chuột, mùi nước cống đen đặc, hôi thối nơi phố hội đến sự mặn chát và tanh nồng, khắm khú mùi cá nơi biển khơi hay lạnh buốt, tê tái, xám ngắt phận đời nơi xứ người tuyết trắng. Một không gian rộng mà chật. Rộng về không gian nhưng chật chội kiếp người. Một khuôn mặt xã hội ghẻ lạnh và lở loét; gian trá và khốn nạn, khuất lấp, ẩn sau những mỹ từ giả tạo và lươn lẹo, sau khuôn mặt nạ da người. Một không gian đặc quánh những phận người bọt bèo và khốn khổ, nghèo túng và cùng quẫn; nhục nhã và ê chề; những phận người sống chết chen chân, xô vai hích cánh. Một không gian tưởng rộng mà vô cùng chật hẹp trên những mảnh đất ma - người.
Thời gian truyện của Nguyễn Hải Yến cũng là sự đan xen đến nhức buốt giữa quá khứ và hiện tại. Một thời gian mang tính phi thực tế mà lại rất thực tế; một thời gian thức ngọ ngoạy cùng bóng ma, bóng người vật vờ, hư ảo. Một thời gian hư hư thực thực, mỏng mảnh như sương mà cũng đặc dày như khói cháy. Một thời gian có thể xác thực được nhưng lại rất khó đoán định ở giai đoạn nào, khi nào; chỉ biết rằng, đó là thời gian có thực nhưng cũng không hoàn toàn thực, đó là thời gian sống của người và ma. Một thời gian xám ngoét, thâm sì, ẩn vào bóng kiếp người đang sống.
Đó là ai? Đó là những nhân vật dưới con chữ của Nguyễn Hải Yến được khắc họa và đẩy đến tận cùng của sự khốn khổ và sự khốn nạn, của sự tận cùng đau đớn và cùng quẫn.
Là Lợi, là Khởi, là Lan, là Báttô Trần với cái làng Quyết Tiến trong câu chuyện “Đường hoa”. Ở đó là sự gian manh, lươn lẹo; dối trá, lừa lọc; là thói tham lam trọc phú và huyễn hoặc bản thân; là tham vọng hão huyền không tưởng từ những ý tưởng “chụp giật” và vụ lợi. Căn bệnh thành tích, thói cả huếnh, ngông nghênh cái danh “nông thôn mới” của xứ “nói chưa sõi, chữ chưa thạo, người chả nên hồn” của vị lãnh đạo “Từ việc hàng ngày cùng đi đái một giờ ở nhà vệ sinh công cộng… nhãng ý thế là cùng cởi truồng nồng nỗng xách cái quần khai rích đi suốt dọc đường làng” của cái “thằng bạn mười hai năm ngồi cạnh, chép nguyên si của Lợi từ bài đầu tiên viết chữ O đến dấu hai chấm có gạch chéo ở giữa kết thúc bài tập làm văn thi tốt nghiệp cấp 3”. Khuôn mặt trí tuệ lãnh đạo như thế nhưng lại tham vọng đưa nhanh cái “xứ đất” “nồng nỗng” thành “trung tâm của nhân loại”. Và kết cục cho tham vọng về “một xứ thiên đường” là món nợ chồng chất đè lên vai người dân, là cảnh bỏ làng mà trốn để lại khao khát xứ “ngồi ăn không” vật vờ lau, cỏ.
Là cuộc sống trong mối quan hệ một ông hai bà, lại là chị em ruột Tới, Lần, Cột; là những toan tính của thằng con trai có tên là Đăng, mà tên thực là Dẵng, cái “cọc duy nhất” cùng con dâu Đàn và ông thông gia Bầu, Phó Chủ tịch xã nhằm chiếm dụng cái đầm nước một thời chứa nước thải của làng khi đất thành thứ tài sản có giá nhất của cái thời “tấc đất” lên ngôi. Mảnh đất, đồng tiền làm cho quan hệ tình cảm con người với con người nhơ nhớp và tanh tưởi, hôi thối và khắm sặc, không bằng vũng nước chứa thải của làng ở “Bên đường có cái đầm nước”.
Là “Đi dưới mặt trời” cùng phận người của Vi, Yumi, một thế giới của những người đồng tính; một thế giới là người mà không được sống thật như người; là bóng đêm trùm lên mọi số phận; là những khao khát được một lần là chính mình trước thanh thiên bạch nhật. Một thế giới người trong tăm tối và tủi phận; một thế giới người sống phải tự đánh mất mình trong cùng quẫn và đớn đau, trong khao khát và ô nhục. Một thế giới không có ánh sáng. Một thế giới bị ruồng bỏ và hắt hủi. Một thế giới chỉ có tiếng thở dài não nề và ô trọc để đi đến cái kết phải đến: Cái chết.
Là phận người lênh đênh, bèo bọt, bị phân biệt bởi mưu sinh mà bị quy vào lý tưởng, tôn giáo; bị xem xét nguồn gốc căn nguyên làm người trong “Đò chờ”. Để có thể chứng minh được sự trong sáng, phải từ bỏ vùng đất “Mùa xuân về hai bên bờ sông Sặt, bình yên như muôn mùa xuân trước, không màng đến những đắng cay, bão tố lòng người. Những bãi dâu cứ xanh ngút qua tầm mắt lẫn vào phía làng xa. Những ngôi nhà ven sông có bậc hiên bằng đất hoa xoan tím vẫn nở từng chùm. Và những tháp chuông nhà thờ vẫn ẩn hiện mơ hồ trong màu mưa như khói” của miền quê thanh bình trên hòn đảo sông nổi Mui Rùa mà lấy lại cái danh phận “sạch sẽ”. Chiếc cầu quán cũ mái ngói âm dương xô từng mảng liệu có thể đủ nối nhịp đôi bờ, xoa dịu hết đắng cay? Hay tất cả vẫn chỉ là “Hòn đảo hình chiếc mui rùa lút đầu lau sậy trước mặt nhòa dần, chỉ còn đôi tiếng bìm bịp thoát ra khỏi cái màn xam xám đậu lên những xoáy nước ngầm cứ quần bên chân đảo. Đêm đang lên từ phía ấy”?
Là những cuộc kiếm tìm nơi “Cửa sông thiên đường” níu kéo, tìm lại dấu vết để định danh con người trong cuộc sống. Những con người cả đời đi tìm nhau khi vẫn sống bên nhau. Những yêu thương, tần tảo, vất vả; những hoài nghi đố kỵ; những ti tiện và tham vọng. Tất cả dồn lên, ép chặt trong chính cuộc sống người để khi mất đi lại tìm kiếm. Tìm ai? Tìm gì? Đi tìm cái tự mình đánh mất? Là chị Hoài, lẵng nhẵng quang gánh trên vai đi thu những chiếc liềm han gỉ và gáu sét để về cắt chấu, tôi lại cho sáng hay sao? Cửa sông thiên đường cõi người lúc nào cũng mở sao phải đi tìm cửa sông thiên đường nơi chốn thăm thẳm rừng sâu. Sao phải bịt cửa sông thiên đường cõi người để mất công đi tìm cửa sông hão huyền và không tưởng. Giấc mơ hão huyền trong đời thực chỉ mang đến nỗi đau và nỗi đau trong đời thực lại đưa con người đến những hão huyền ảo vọng. Một sự luẩn quẩn trong chính cuộc sống thực diễn ra hàng ngày? Cái đáng tôn thờ thì hắt bỏ, cái không đâu thành nỗi khát khao.
Là thân phận cô Cúc, má Hai, thằng Thóc, cu Rơm, Bin vé số; là dì Tư bánh bèo, Út Lan tàu hũ xoắn lấy nhau, bện lấy nhau, chia sẻ và kết gắn trong yêu thương của nghèo khổ mà không tìm ra lối thoát trong “Mưa về trên sông” ở cái xóm ổ chuột bên dòng kênh hôi thối và đen sì nước thải. Nơi chỉ bờ bên kia thôi, nơi những biệt thự, vi la bóng nhẫy mặt người. Dòng sông cuộc đời lại đưa tất cả trở về với dòng sông đời thực. Cơn mưa có chăng chỉ làm trôi đi một thoáng trong mơ. Bộ mặt hai chiều của cuộc sống giãy giụa và ngọ ngoạy chờ đợi cho ngày mai trong sáng và mát lành được đến.
Là chị Mai, người lính, người đàn ông đi tìm người thân, bà cụ nơi Thung Mây, núi Ngọc ở “Hoa gạo đáy hồ”. Khắc khoải trong chờ đợi, khắc khoải hy vọng cùng trà xuân ướp hương hoa bưởi và “chiếc ấm đất Tử Sa khi pha thêm chút tro hoa bưởi”. Tất cả sống trong những ký ức ngọt ngào, trong những nỗi nhớ viên mãn, một khung trời mộng mơ, đẹp đến nao lòng giữa người đã mất, đã khuất và người đang sống. Họ sống cho nhau, vì nhau, trọn vẹn và hạnh phúc; họ vẫn đi bên nhau, yêu thương và gửi gắm, như chưa hề có sự biệt ly. Một không gian mở của người đi và người ở, người sống và người chết, người âm và người dương trong một thế giới lung linh như huyền thoại không hề cách xa. Một thế giới huyền ảo và mộng mơ. Một thế giới của con người và vì con người. Một thế giới trong tay, một thế giới mà chúng ta đang vất vả kiếm tìm?
Là chú Thụ, bà mẹ, cô cháu gái, là Mẩy, là hồn ma hàng xứ cùng những đau đớn đến tận cùng của mất mát chiến tranh “Bồ kết về làng”. Bồ kết nướng thơm cho mái tóc suôn nhưng cũng xua đuổi ma tà quỷ dữ. Cái chết truyền kiếp của kẻ xâm lược, cái chết giữ đất ông cha của người lính. Họ đã chết vì lý tưởng khác nhau, vì mục đích khác nhau; cái chết ấy từ đâu mang lại? Cái gì có thể gắn kết, cái gì có thể xoa dịu những linh hồn như thế ngoài tình yêu thương và con đường hiếu sinh, cái đích đến của mọi kiếp người?
Là Vũ, là Dũng, là những thủy thủ Myanmar, Malaysia, Campuchia làm thuê trên tàu đánh bắt cá trong “Đường về”. Là Liên, là An, là Quân trong chuyến trốn đi làm thuê xứ người đất khách ở “Thiên đường không màu”. Những cái chết thảm, những cái chết dường như biết trước, đoán trước. Những nỗi ê chề, nhục nhã của “vật chơi” nơi đất khách. Họ chấp nhận dấn thân không phải bởi sai lầm mà bởi tình yêu thương và mưu sinh. Họ sống vất vưởng và bị quên lãng giữa xã hội, thành kẻ lạc loài không nơi bấu víu, trông cậy. Họ khao khát tìm con đường sống, con đường ấm no, hạnh phúc; con đường để được như muôn người, thoát kiếp nghèo, kiếp khổ. Những cái chết, nỗi ô nhục ấy tội lỗi chính từ xã hội, từ những lọc lừa bạn hữu. Một xã hội quay mặt kiếp nghèo, hèn, phận bọt bèo của kẻ áo cộc, chân ngấn bùn không tìm đâu hạnh phúc.
Đọc Nguyễn Hải Yến rồi tôi cứ tự hỏi. Phận người áo cộc như thế vì đâu? Khi cuộc sống độc lập, tự do mà không có hạnh phúc? Biết đánh đổi bao nhiêu phận đời mong manh nữa để có được hạnh phúc giữa một thế giới bóng người - bóng ma cùng chung tồn tại, giữa những nhiễu nhương ngang trái hiện hữu từng ngày. Chị hay tôi hay chúng ta? Ai người trả lời cho những phận người như thế, đã thế và đang thế; cho những cuộc đời trôi dạt và tăm tối hay chỉ ta, chính ta tự tìm đến hạnh phúc trong huyền ảo, mơ hồ.
Với thủ pháp hiện thực và hiện thực huyền ảo, kết hợp đồng hiện, Nguyễn Hải Yến luôn đưa đến cho người đọc một sự bất ngờ giữa thực và ảo. Có nhiều phần, nhiều đoạn đọc đi rồi đọc lại bởi những đan xen giữa quá khứ và hiện tại, giữa âm và dương, giữa cái thăm thẳm và cái nhìn thấy. Ta sẽ gặp thấp thoáng danh sĩ Nguyễn Dữ trong “Người con gái Nam Xương”, nét liêu trai của Bồ Tùng Linh, để ta thấm hơn, ngấm hơn về những gì đang sống, sự đan xen người - ma trong chính cuộc sống hiện tại oi nồng và đầy bức bối.
Với thế mạnh ngôn ngữ dung dị và chân quê, văn của Nguyễn Hải Yến luôn mang đến một điều gì đó rất gần, rất thân thuộc và cái cảm giác ấy dẫn dụ, đưa ta đi suốt trang viết, mang đến cho ta cảm giác dường như câu chuyện ấy bắt gặp đâu đó, nghe thấy đâu đó và dường như có lúc ta sống như thế ở đâu đó; một giọng văn, chất văn của những phận kiếp áo cộc, chân ngấn bùn. Ấy là cái chung, trong Nguyễn Hải Yến cũng không kém phần dữ dội. Hiền mà sắc, ngọt mà sâu, ẩn dưới lớp sóng lăn tăn trên mặt nước là những con sóng ngầm âm thầm trong lòng sâu con chữ.
Khi đọc hết 10 truyện ngắn trong “Hoa gạo đáy hồ”, tôi tĩnh tâm nghĩ lại. Để đọc Nguyễn Hải Yến, có lẽ trong cái lung linh của ngôn từ, huyền ảo của câu chuyện, nếu tước bỏ các lớp “áo hoang đường” như khi đọc truyện cổ tích hay truyện truyền thuyết, mới có thể tìm đến cốt lõi, vỉa, tầng của tư tưởng, những điều Nguyễn Hải Yến muốn nói, gửi gắm. Có một Nguyễn Hải Yến như thế trên đường văn, người đi tìm căn nguyên của những nỗi thống khổ phận người áo cộc.
