Từ xưa đến nay, tình yêu luôn là đề tài quen thuộc của mọi loại hình nghệ thuật- đặc biệt là thơ ca. Hỏi có nhà thơ nào lại không ít nhất một đôi lần trải lòng với đề tài này? Bởi tình yêu hay thơ viết về tình yêu, luôn là những cảm xúc chân thành, nâng đỡ tâm hồn mỗi lúc khó khăn, giúp con người vững vàng hơn trong bộn bề cuộc sống. Đọc tập “Thơ tình Việt Nam chọn lọc”- NXB Văn hóa, 2014, tôi ấn tượng với bài thơ Mùa xuân đánh rơi tình yêu của Nguyễn Thị Hồng Ngát. Ấn tượng không phải tác giả là người nổi tiếng (Nhà thơ- nhà biên kịch) mà chính là sự cuốn hút từ câu chữ, giọng điệu và ý nghĩa nhân văn của bài thơ. Dù đây là một câu chuyện tình buồn, nhưng không phải vì thế mà kém đi phần hấp dẫn. Mà trái lại, nó dẫn dụ người đọc bằng trái tim nhân hậu, yêu thương của người phụ nữ, nên dễ tạo được sự đồng cảm.
Ngay từ tựa đề bài thơ đã đem đến cho tôi cảm giác tò mò. Sao lại đánh rơi tình yêu? Ở đây, động từ “đánh rơi” được đặt trước “Tình yêu” làm cho cái trừu tượng cụ thể hơn, hay đó chỉ là cách nói để cái đã mất đỡ phần xa xót đó chăng? Mà lại đánh rơi vào mùa xuân mới là điều đáng nói. Mùa xuân là mùa của tuổi trẻ, tình yêu, mùa sum họp, mùa đơm hoa kết trái… Nhưng mùa xuân đối với người thơ lại là mùa ghi dấu một kỉ niệm buồn, vì cái điều “trót đánh rơi”. “Trót” là lỡ làm, lỡ để xảy ra điều gì đó để rồi hối tiếc (nhưng cũng đành chịu). Tình yêu trong bài thơ cũng vậy, tác giả ví tình yêu là “Mảnh tình như áo vắt vai”, biện pháp so sánh: So sánh giữa cái trừu tượng (tình yêu) với cái cụ thể (áo) làm cho điều mà người thơ muốn nói cụ thể hơn. Mà chiếc áo vắt vai (có vẻ hờ hững) nên dễ bị đánh rơi chăng? Có thể lắm chứ, nên “trót đánh rơi” là điều dễ hiểu? “Trót đánh rơi” là cách nói để tình yêu không tròn có phần nhẹ đi. “Trót đánh rơi” nên mới phải đi tìm? Không phải là người vô tình, dễ quên nên người thơ cất công tìm, mà tìm đâu có thấy? Cái đã mất không thể tìm lại, dù cố gắng đến đâu. Vì sao thế? Hai giả thiết được đặt ra: “Chắc là rơi chẳng đâu xa/ Chắc ai đã nhặt đem về nhà phơi”.“Chắc ” là từ có ý nghĩa phỏng đoán, được lặp lại hai lần, cho ta hiểu nhân vật trữ tình đã ý thức được sự mất mát. Hay nói khác đi, chiếc áo tình yêu ấy đã thuộc về tay kẻ khác. Dù vậy, người phụ nữ trong bài thơ không dễ quên, không dễ dứt tình, dù tình yêu đã trở thành xưa cũ, người thơ vẫn chân thành bày tỏ lòng mình: “Riêng ta thương mến, riêng người dửng dưng”. Vâng, người phụ nữ khi yêu là như vậy. Họ sâu sắc và nhân hậu lắm, dù ở trong nghịch cảnh họ vẫn không thôi thương mến người đã vô tình với mình? Còn người thì sao? Không một dấu hiệu nào chứng tỏ người còn nhớ, chứ đừng nói là lưu luyến. Người tiếp tục trên hành trình chinh phục tình yêu mới, với một tâm thế mới: “Đầu không ngoảnh lại”...
Bài thơ viết về một tình yêu tan vỡ. Nói cho đúng thì đó là một sự phản bội “có mới nới cũ”. Không phải thế, sao người ấy lại dửng dưng? Sao người đi khuất nẻo đường dài mà không hề ngoảnh lại để lòng Ta ngổn ngang buồn? Trong tâm trạng ấy, mỗi sự tác động của ngoại cảnh cũng làm nhân vật trữ tình chạnh lòng: “Mùa xuân tiếng hú gọi bầy/ Ta ngơ ngác giữa chốn này tìm ai”. Có buồn nào hơn khi giữa mùa đoàn tụ, sum họp, Ta trót đánh rơi tình yêu để rồi cứ “ngơ ngác” tìm, mà chẳng biết tìm ai và để làm gì? Tôi chắc người thơ hỏi để mà hỏi thế thôi, chứ trong lòng đã biết rõ câu trả lời. Tình yêu đôi khi thật khó lý giải. Từ láy “ngơ ngác” diễn tả chính xác tâm trạng và tình cảnh của nhân vật trữ tình khi ấy? Biết rằng tình đã nhạt phai lâu rồi, biết rằng người ta đã quên mình, nhưng không hiểu sao người phụ nữ trong thơ vẫn day dứt đến vậy! Không thế sao vẫn đi tìm dù biết là vô vọng? Phải chăng, đó là cách để chiêu tuyết cho người tình bội bạc, hay đó chỉ là cách làm nhẹ vơi nỗi lòng? Dù gì thì người thiệt thòi chỉ là Ta, người đau xót cũng chỉ là Ta mà thôi.
Hai câu thơ cuối đưa người đọc trở về thực tại: “Cũ ta nhưng lại mới người”. Cặp từ chỉ sự đối lập mới, cũ nói lên sự trớ trêu của tình yêu. Với Ta, chiếc áo tình yêu đã cũ rồi, nhưng với người khác, nó lại hoàn toàn mới. Đó là quy luật hoán đổi. Người đã đi “khuất nẻo đường dài”, để lại trong ta một nỗi buồn khôn tả. Cho dù bề ngoài có vẻ như không có gì xảy ra, nhưng bên trong là khổ đau, vô vọng khi tình yêu bỗng dưng đứt gánh giữa đường. Phép ẩn dụ, so sánh ở câu thơ cuối “Không mưa mà lại gấp mười lần mưa”, cho ta hiểu chính xác hơn về điều đó.
Bằng thể thơ lục bát đằm thắm, ngọt ngào, Mùa xuân đánh rơi tình yêu của Nguyễn Thị Hồng Ngát đã đem đến cho độc giả sự đồng cảm về một cung bậc buồn của tình yêu. Bài thơ hấp dẫn bởi từ ngữ, hình ảnh giản dị, giọng điệu nhẹ nhàng lắng sâu, rồi lan tỏa như một nỗi buồn dịu nhẹ về một tình yêu đã thành quá vãng. Nói về mất mát xót đau nhưng không cay đắng, hằn học; dẫu có tiếc nuối nhưng vẫn trân trọng nâng niu. Đó vừa là vẻ đẹp nhân văn của bài thơ, vừa là cách yêu, cách cảm nhận tình yêu của những người phụ nữ nói chung và Nguyễn Thị Hồng Ngát nói riêng đó chăng?
Nguyễn Thị Bình