Ở Nam Kỳ Lục Tỉnh, nhất là ở vùng đồng bằng sông nước như quê tôi :"Cái Răng Bá Láng Vàm Xán Phong Điền..." nầy, khoảng thập niên 50, 60, 70 của Thế kỷ trước, tất cả gái trai già trẻ trong làng trong xóm ngày thường không có gì để giải trí tiêu khiển, ngoại trừ thỉnh thoảng có một đoàn cải lương, hát bội hay hát dù-kê (của người Miên) về hát ở Thị trấn Cái Răng ra thì không có gì để vui chơi tiêu khiển nữa cả ! Cho nên, ngày thường thì cánh đàn ông, kể cả các cụ già, thanh niên và các em bé trai 7, 8 tuổi chỉ biết quây quần bên bàn Cờ Tướng để giải buồn cho qua ngày đọan tháng mà thôi; Còn các bà các cô các chị thì khi rảnh rổi lại trải chiếu gây sòng sát phạt nhau cho vui bằng Bài Tứ Sắc.
Nên mặc dù rất ít người biết chữ Nho, nhưng các con bài Tướng Sĩ Tượng 將帥士仕相象, Xe Pháo Ngựa 車俥炮砲馬傌, Chốt đỏ Chốt xanh 卒兵... thì tất cả mọi người nam phụ lão ấu đều rất rành và nhận ra ngay là con cờ hoặc con bài nào một cách chính xác. Vì là hai môn tiêu khiển hằng ngày, nên "Thục năng sanh xảo 熟能生巧" Việc gì đó làm thét quen rồi, lâu ngày thì sẽ sinh ra khéo léo, giỏi giang, nên lại có những "biệt danh" riêng cho những người xuất sắc, như Ông Hai "Tiền mã hậu pháo", Chú bảy "Song xa", thằng Ba thì chuyên về "Pháo đầu Mã đội"... Còn Tứ sắc thì có "Bà Tám Tứ sắc", "Thím Ba Tứ sắc", "Cô Hai Tứ sắc"... Lúc ban đầu còn đánh "ăn chơi", lâu dần để cho có thêm hào hứng nên thành "ăn thiệt"; Và khi đã "nóng máy" rồi thì lại đâm ra sát phạt lẫn nhau, tuy không đến nỗi táng gia bại sản nhưng nợ nần chồng chất... làm cho câu hò tiếng hát cũng đâm ra có hơi hám của tiền bạc như :
Hò hơ... Cái Răng, Bá Láng, Vàm Xán, Phong Điền...
Anh có thương em thì cho bạc cho tiền...
Đừng cho lúa gạo ờ...
Đừng cho lúa gạo xóm riềng họ cười chê !...
Vì là hai bộ môn giải trí và tiêu khiển trường kỳ, không những ở quê tôi mà là chung cho tất cả các làng xóm của đồng bằng sông Cửu Long nói riêng, cho cả vùng Nam Kỳ Lục Tỉnh nói chung; Nên lại có những từ chuyên môn phát sinh và đi thẳng vào cuộc sống hằng ngày một cách tự nhiên, như từ ...
CU-KI : Thằng đó nó sống Cu-Ki có một mình, không bà con thân thích gì cả ! Như ta đã biết, TỨ SẮC là bộ môn cờ bạc giải trí do người Hoa sáng tạo ra và phổ biến rộng rãi ở nông thôn Việt Nam ta do người Triều Châu (còn gọi là Tiều Châu hay Người Tiều) thường sống hòa nhập vào nông thôn với nghề làm ruộng làm rẫy, và cách hòa nhập dễ "hoà nhập nhất" là lấy vợ Việt Nam, nên lại có rất nhiều từ phát sinh kể cả trong bộ môn Tứ Sắc như từ đã nêu trên :
CU-KI là âm Tiều Châu của chữ Nho CÔ CHI 孤枝. CÔ là Cô độc; CHI là Cây bài; Nên CU-KI là cây bài lẻ, không thành đôi mà cũng không thành liền Xe Pháo Ngựa hay Tướng Sĩ Tượng gì cả. Một Đôi trong Tứ sắc gọi là "TỤI" là âm Tiều Châu của từ ĐỐI 對 là Đôi. Nên lại phát sinh thêm một thuật ngữ là "Gần ĂN Xa TỤI". Có nghĩa : Cây bài của nhà trên đánh xuống là gần thì mình có thể lấy một cây Cu-Ki xuống ăn cây bài đó; Còn nếu người đánh ở "ngang sông" thì phải hô "TỤI" để giựt đôi. Ngoài ra, có 4 cây bài cùng một mầu cùng một nước thì gọi là "HOẰNG"(được 8 điểm) do âm Tiều Châu chữ HOÀN 完 là Hoàn chỉnh đủ bộ mà ra; Chỉ có 3 cây bài giống nhau thì gọi là một "KHẠP" do âm Tiều Châu của từ KHÁP 榼 là cái hộp đựng đồ ăn, nếu người ta đánh cây thứ tư ra cho mình, thì gọi là "KHUI KHẠP" là KHAI KHÁP 開榼 là "Mở nắp hộp ra" (là được 6 điểm)...
Nhắc đến chơi cờ tướng thì cũng không thể không nhắc đến bài thơ "ĐÁNH CỜ NGƯỜI" của Bà Chúa Thơ Nôm là nữ sĩ Hồ Xuân Hương cho được. Một hôm, sau giờ học chữ Nho mõi mệt, tôi và ông bạn Liêu Chương Cầu lật thơ của Bà Chúa ra đọc chơi tiêu khiển. Giở đến bài "Đánh Cờ Người" ông bạn tôi khoái chí đọc to lên :
Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người...
Hẹn rằng đấu trí mà chơi,
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết.
Tôi cũng không chịu thua đọc tiếp :
Nào tướng sĩ dàn ra cho hết,
Để đôi ta quyết chí một phen.
Quân thiếp trắng, quân chàng đen,
Hai quân ấy chơi quen đà đã lửa.
Ông bạn Liêu Chương Cầu cao giọng đọc tiếp:
Thoạt mới vào chàng liền nhảy Ngựa,
Thiếp vội vàng vén phía tịnh lên.
Hai xe hà, chàng gác hai bên,
Thiếp sợ bí, thiếp liền nghểnh sĩ.
Tôi cũng hăng máu đọc tiếp theo :
Chàng lừa thiếp đương khi bất ý,
Đem tốt đầu dú dí vô cung,
Thiếp đương mắc nước xe lồng,
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu.
Ông bạn tôi cao hứng đọc tiếp :
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chửa chịu,
Thua thì thua, quyết níu lấy con...
Bỗng... ông bạn tôi ngưng ngang, hỏi :
... quyết níu lấy con... là Níu lấy con gì vậy ?!
Tôi thích thú cười lớn đáp :
... thì là con... Ngựa, chứ con gì ?
Ông bạn tôi lại thắc mắc hỏi :
... sao lại là con Ngựa, mà không phải là con gì khác !?
Tôi càng cười lớn hơn đáp :
... thì... Câu của ông đọc hồi nảy đó "Thoạt mới vào chàng liền nhảy NGỰA". Chàng nhảy NGỰA, thiếp không Níu con NGỰA thì Níu con gì ?! Thôi, còn hai câu đọc cho hết bài đi "cha nội"!
Ông bạn tôi bèn dứt điểm :
Khi vui nước nước non non,
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà !
........................
Đó là câu chuyện vui hồi ngày còn trẻ. Nay nhân năm NGỌ kể lại chuyện... "Níu con NGỰA" cho VUI VẺ trong những ngày Xuân mà thôi.
Chúc cho mọi người, mọi nhà đều có được một cái Tết AN KHANG THỊNH VƯỢNG !
杜紹德
Đỗ Chiêu Đức