bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
BÀI VIẾT MỚI
PHẢN HỒI MỚI

VŨ NHO 085 589 0003

NHÀ VĂN DIÊM LIÊN KHOA, TÁC GIẢ TIỂU THUYẾT " NGƯỜI TÌNH CỦA PHU NHÂN SƯ TRƯỞNG" ( VŨ CÔNG HOAN DỊCH ) ĐÃ VÔ CÙNG ĐỀ CAO " NỖI BUỒN CHIẾN TRANH". CÓ THỂ NÓI LÀ RẤT ĐỀ CAO. KHÔNG HỀ CÓ THÁI ĐỘ SÔ VANH ...

 

vũ nho 085 589 0003

CÁM ƠN BÁC ĐINH Y VĂN/ BÌNH LUẬN THƠ CŨNG VIẾT BẰNG BÀI THƠ/ TỪ NGỮ CÓ SẴN BẤT NGỜ/ THÀNH BÀI THƠ MỚI...RẤT LÀ...NÊN THƠ!

 

Đinh Y Văn

ĐÔNG CẢM… CẢM / Tuổi tuy đã chớm đông rồi / Còn nằm nhớ hạ, còn ngồi tiếc xuân / Thế là lòng vẫn thanh tân / Đông về, chống gậy bần thần… nhớ em! (Quá nửa số chữ trong “Đông cảm…cảm” mượn của nhà thơ ...

 

VŨ NHO 085 589 0003

Một truyện hay của  nhà văn THÁI BÁ TÂN!CÁI KẾT ĐÁNG SUY NGẪM: bao giờ tôi cũng nhắc mình cẩn thận không để bóng rơi vào chỗ bẩn, không dẫm lên bóng người khác và cũng không để người khác dẫ...

 

VŨ NHO 085 589 0003

Cám ơn nhà văn, nghệ sĩ điện ảnh Cầm Sơn!Rất sinh động và ấn tượng!TBT Vũ Nho

 

VŨ NHO 085 589 0003

CÁM ƠN BÁC ĐỖ CHIÊU ĐỨC! QUẢ LÀ TUYỆT VỜI KHI BÁC CUNG CẤP THÊM TƯ LIỆU VỀ BÀI THƠ CỦA SƠ CỤ VÀ CHÚ TIỂU ĐỂ MINH HỌA VÌ SAO CHÙA LẠI THỈNH CHUÔNG LÚC NỬA ĐÊM!CHÚC BÁC ĐỖ CHIÊU ĐỨC VUI KHỎE, THÊM NHIỀU...

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 27
Trong ngày: 232
Trong tuần: 967
Lượt truy cập: 1261935

TẢN VĂN HỒ BÁ THƯỢC

 

TRƯỚC NGÀY CHIẾN DỊCH

 

                                                                    Tản văn Hồ Bá Thược

 

 Giấy “ra vào thành”

Kinh thành Thăng Long xưa hình thành ba lớp, bao gồm Kinh thành, Hòang thành và Tử Cấm thành, trải qua các thời kỳ, Lý, Trần, Lê, chúa Trịnh, Quân đội Pháp và hiện tại Quân đội nhân dân Việt nam.

Hoàng thành xây dựng theo bốn hướng. Phía bắc giáp phố Phan Đình Phùng, phía nam Điện Biên, phía Đông Lý Nam Đế, phía tây Hoàng Diệu. Tương ứng với bốn hướng là bốn cổng duy nhất Bắc, Nam, Đông, Tây. Giữa Hoàng thành con đường Nguyễn Tri Phương, bị chắn bởi hai cổng Bắc, Nam. Gần đây, Uy ban nhân dân thành phố Hà Nội mở thông đường Nguyễn Tri Phương phục vụ cho nhân dân đi lại bình thường.

Các sĩ quan làm việc trong Hoàng thành được cấp “Giấy ra vào Thành”. Cùng giấy đó, nếu làm việc với cơ quanTổng cục được đóng thêm chữ C, vào khu nhà rồng (Tử Cấm thành) đóng chữ A. Vào được  hai khu C, hoặc khu A,  lại qua hai cổng, được cảnh vệ kiểm tra nghiêm ngặt.

Đầu năm 1975, không khí trong Hoàng thành Thăng Long bỗng nhộn nhịp lạ thường. Xe cô ra vào nối đuôi nhau. Việc kiểm soát giấy “Ra vào thành” rất nghiêm.  Trước đây cảnh vệ trực gác, quen mặt các sĩ quan là cho vào thành ngay. Vào những ngày này, nhất thiết sĩ quan phải có giấy “Ra vào thành”. Còn không quay về nhà, không nỉ non, eo xèo gì hết.

Ở một nơi “kín cổng cao tường” việc canh gác cẩn mật cũng là chuyện thường tình. Nhưng là nơi vua chúa từng ở, quan lại triều đình hành lễ, đến lượt các sĩ quan quân đội làm việc trong Tổng hành dinh không chỉ an toàn tuyệt đối mà còn tôn vẻ nơi “thâm cung, bí sử” được mọi người tò mò, kính nể.

Không trừ một ai

Chuyện xảy ra ở thành cửa Bắc - Cửa dành riêng cho cơ quan Tổng cục Hậu cần và Tổng cục Kỹ thuật. Một chiếc xe con vừa đến, bấm còi inh ỏi như muốn vào thành gấp, nhưng cổng không mở. Một người đàn ông mặc thường phục xuống xe, vừa lúc chiến sĩ cảnh vệ bước đến. Ông yêu cầu mở cổng cho xe vào, nhưng cảnh vệ từ chối, yêu cầu phải có giấy “Ra vào thành”. Hình như có sự đôi co gì đó, khiến cán bộ của Lữ đoàn chạy ra, nhìn thấy chiếc xe quen thuộc của tướng Đinh Đức Thiện, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, vội dập gót đứng nghiêm:

-Báo cáo Thủ trưởng! Tôi xin lỗi, vì đồng chí cảnh vệ mới đến làm nhiệm vụ thành cửa Bắc, luân phiên canh gác theo qui chế của Lữ đoàn, không nhận ra xe của Thủ trưởng. Tôi sẽ gác thay để chiến sĩ cảnh vệ lên xe, theo yêu cầu của đồng chí thư ký. Một lần nữa, tôi thay mặt đơn vị xin lỗi Thủ trưởng.

Chạy được một đoạn trên đường Nguyễn Tri Phương gần đến cổng khu C, xe thủ trưởng thả chiến sĩ cảnh vệ xuống đường. Chắc hẳn Chủ nhiệm Tổng cục không trách phạt vì chiến sĩ cảnh vệ làm đúng nguyên tắc, chấp hành nghiêm chỉ thị cấp trên.

Tuy nhiên, lỗi này còn do cả thư ký đi cùng thủ trưởng. Đáng lẽ thư ký phải gọi điện báo cho Lữ 144 mở cổng trước khi xe của Chủ nhiệm đến. Bởi không còn đơn thuần giấy “ra vào thành” nữa, còn là trách nhiệm bảo vệ an toàn cho lãnh đạo. Nhưng nói đi thì cũng phải nói lại. Trách cứ viên thư ký cũng không đúng lắm, bởi thời kì đó làm gì có ifone  đâu mà ok. Nếu gọi được cú điện thoại hữu tuyến cũng mất vài tiếng đồng hồ, hẳn xe ô tô của Tướng Đinh Đức Thiện đã chạy được vài trăm cây số rồi.

Việc kiểm tra hàng ngày ở cổng cửa Bắc, cửa Đông, Cửa Nam gắt gao, nhưng cổng cửa Tây không diễn ra như vậy. Do không biết hay cố ý gì đó, một lần tôi dắt xe đạp xin qua cổng Tây, nhưng đều nhận được cái lắc đầu của người chiến sĩ cảnh vệ. Nhìn thấy dáng vẻ cảnh vệ cao to, nghiêm túc, tôi đã có ý ngần ngại. Để cầu may, tôi vẫn nài nỉ xin ra cổng bằng được. Người cảnh vệ buộc lòng trả lời, giọng không sõi tiếng kinh.

-Nghiêm cấm người qua cổng này.

Về phòng làm việc, tôi nói chuyện, Trưởng phòng cười ngất:

-Cổng Tây chỉ dành riêng cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Mỗi lần Đại tướng vào thành làm việc, xe chạy từ nhà, lướt qua đường Hoàng Diệu đã tới cổng Tây mở sẵn. Sau này nghe nói để bảo đảm an toàn hơn, người ta làm đường hầm riêng cho Đại tướng. Tin hay không tuỳ mọi người - Trưởng phòng nói tiếp:

- Cậu nói lính cảnh vệ cao to, đẹp trai, không sõi tiếng kinh là đúng đấy.

Từ thời vua chúa tới nay, tuyển chọn cảnh vệ kinh thành Thăng Long hầu hết đều chon người dân tộc ưu tú nhất, vì họ có độ tín cao và lòng trung thành tuyệt đối. Ông kể thêm, có hai người bạn cùng một thôn bản, gác hai cổng khác nhau. Bạn gác cổng Nam, có việc ra ngoài, tiện thể xin vào cổng Bắc. Nhưng người gác cổng Bắc kiên quyết không cho vào, qui định của Lữ đoàn phải chấp hành triệt để.

Ở đây không có chuyện : “Nhất thân, nhì quen, tam quyền, tứ chế”…

Sĩ quan bản đồ

Đầu năm 1975, Phòng Tác chiến Cầu đường Cục Vận tải được lệnh rời khu B, chuyển vào Hoàng thành làm việc. Chưa có thông tin từ cấp trên đưa xuống, nhưng tôi cảm nhận có điều gì đó không bình thường sắp diễn ra. Giống như không khí ngột ngạt trước cơn bão. Đặc biệt các sĩ quan đi lại khẩn trương, nét mặt căng thẳng, áp lực công việc nặng nề.

Thông đường 20, nối Đông Tây Trường Sơn - Từ cán bộ giao thông, tôi chuyển sang ngạch Quân đội với cấp hàm chuẩn uý chuyên nghiệp. Thời đó, trong chiến trường mọi người đều mặc đồ lính, không quân hàm, quân hiệu. Trông bên ngoài, ai cũng giống ai. Tôi chuyên trách bảo đảm giao thông suốt ngày trên đường, mọi người gọi tôi là Sĩ quan cầu đường. Tôi thấy ngồ ngộ, có vẻ đậm chất nghề nghiệp, ưng luôn. Dạo ấy bom từ trường rộ lên, đường sá tắc lung tung, QK4 gọi ra tập huấn rà phá bom ở Nam Yên 3 ngày. Từ đó tôi có tên mới Sĩ quan bom mìn. Chưa hết, về cơ quan tham mưu Cục Vận tải, Tổng cục Hậu cần, tôi lại được khoác tên mới Sĩ quan bản đồ vì tôi viết chữ đẹp, thông thạo cắt dán các mảnh nhỏ ghép thành tấm bản đồ lớn, ghi thêm các dữ liệu tối mật lên bản đồ. Mỗi ngày, các dữ liệu dịch dần về phía nam, tôi linh cảm ta sắp đánh lớn. Còn đánh lớn mức độ nào, cấp trên cũng chưa đoán được, huống hồ tôi mới chỉ là “Sĩ quan bản đồ” thôi.

Trực giác mách bảo, sau 3-4 năm ta lại có một chiến dịch lớn. Khởi đầu chiến tranh 1964-1965, bốn năm sau Tổng tiến công Mậu thân 1968. Bốn năm sau Chiến dịch Đường 9 – Nam Lào 1972. Bốn năm tiếp theo 1975-1976 là chiến dịch mà tôi đang nghĩ có thể lớn hơn các chiến dịch trước đó.

Trong ghi chép và đưa các dữ liệu lên bản đồ hàng ngày, có cảm giác hôm trước đưa lên, hôm sau lạc hậu mất rồi, vì diễn biến chiến sự “ leo thang” liên tục nên tôi vật vã với mớ bản đồ. Tất nhiên Cục trưởng không hài lòng vì tôi không đáp ứng yêu cầu của Sở Chỉ huy. Để khắc phục, tôi làm 1 bản đồ duy nhất đính lên tấm gỗ dán, làm khung rất đẹp. Các vị trí đứng chân của Hậu cần, Binh trạm, Trung đoàn xe, trạm giao liên, hàng hoá… Các đơn vị chiến đấu của ta và của địch như Trung đoàn, Sư đoàn, Quân đoàn, các mũi tiến công… bằng bìa cát tông có màu sắc phân biệt, được di chuyển bằng đinh ghim gắn lên bản đồ. Các số liệu và diễn biến chiến sự do các sĩ quan thuyết trình bằng văn bản. Tấm bản đồ này được cấp trên đánh giá rất cao.

Người đóng thế?

Cascadeur, tiếng Anh là người đóng thế. Trong một số cảnh quay nguy hiểm, diễn viên không đáp ứng được yêu cầu vai diễn, phải nhờ đến người đóng thế. Hoặc trong môi trường chính trị phức tạp, đôi khi cũng cần đến người đóng thế để bảo đảm an toàn cho các yếu nhân. Dù tin hay không tin,Tổng thống Nga Putin hoặc Chủ tịch nước Tập Cẩm Bình, người có sức ảnh hưởng lớn đến thế giới hiện đại, cũng có thể dùng đến người đóng thế khi cần thiết. Điều đó không làm hại ai, chỉ làm lợi cho bản thân và đất nước họ.

Năm 1971 tham gia chiến dịch giải phóng Cánh Đồng chum – Long chẹng. Bạn Lào nói với tôi rằng Vàng Pao có tới hàng chục người đóng thế. Đúng vậy, ở một đất nước có nhiều kẻ thù nghịch và muốn bảo toàn tính mạng, Vàng Pao chọn người đóng thế, tôi tin là chuyện có thật.

Ở nước ta, trong chiến tranh từ cổ chí kim, tôi chưa từng nghe chuyện các nhân vật đóng thế. Có chăng phương pháp nghi binh, đánh lừa địch thì chiến dịch này, hay trận đánh kia đều có. Đây là một nhân tố rất quan trọng trong nghệ thuật quân sự, lấy “ít thắng nhiều”, lấy “yếu thắng mạnh”, đôi khi đánh lừa đối phương, mà thành công rất lớn.

Sau khi ta giải phóng Tây Nguyên được ít ngày, kẻ địch tá hoả mới biết Đại tướng Văn Tiến Dũng đã có mặt ở Tây Nguyên. Trong khi CIA cho rằng Đaị tướng đang ở Hà Nội. Vì hàng ngày vẫn thấy Đại tướng Văn Tiến Dũng ngồi trên xe ô tô quen thuộc, “sáng cắp ô đi, chiều cắp ô về”, từ nhà vào Hoàng thành. Chiều Hoàng thành về nhà. Vỡ trận Tây Nguyên, kẻ địch kinh hoàng, khiếp vía. Chỉ huy chiến dịch không ai khác Tổng Tham mưu trưởng trực tiếp lãnh đạo. Không lẽ quân đội ta có đến hai Đại tướng Văn Tiến Dũng? Nghi ngờ cũng phải thôi. Một người đang “thưởng ngoạn ở Hà Nội, một người đang đánh cho địch vỡ mật ở Tây Nguyên. Cứ cho là đóng thế, hay cú lừa địch ngoạn mục cũng được.

Trong sách Tàu “Binh pháp Tôn Tử” hay “Tôn Tẫn binh pháp” người ta dùng mưu mẹo để đánh lừa, tiêu diệt đối phương. Ở ta, chẳng nhẽ Nghệ thuật Quân sự kém lắm hay sao? Nói thật, không ở đâu làm được điều khủng khiếp đến thế, chỉ một trận Tây Nguyên mà “tan tác chim muông”. Chỉ mong, sau này Quân đội ta cũng nên “giải mật” người đóng thế Đại tướng ngồi trên xe đó là ai? Ý tưởng kịch bản tuyệt vời này là tập thể hay cá nhân? Sừng sỏ như CIA cũng phải bẽ mặt, nhục nhã?

Cũng tại mặt trận Tây Nguyên, Trung tướng Khuất Duy Tiến, dày công xây dựng “Kế hoạch B” bằng 10 trang viết tay. Đây là kế hoạch Nghi binh, đánh lừa địch. Ông chuẩn bị kế hoạch dày công, ròng rã 4 tháng trời từ tháng 11/1974 đến tháng 3/1975. Trong “Kế hoạch B” nghi binh của Trung tướng Khuất Duy Tiến, ông chọn PLâycu mở màn chiến dịch, dàn quân bố trận chuẩn bị đánh. Địch tưởng ta đánh thật, liền điều quân từ Ban Mê Thuột lên giải cứu. Đúng thời cơ ta đánh chiếm Buôn mê thuột. Mất vị trí chiến lược quan trọng , địch kéo quân về ứng cứu , bị ta đánh chăn, địch vỡ trận chạy về duyên hải miền trung, cũng bị đánh chặn trên đường7 ở Cheo Reo, Phú Bổn…

Chiến dịch Tây Nguyên tháng 3 năm 1975, ngoài tài nghệ “ điều binh khiển tướng” của các tướng lĩnh tham gia chiến dịch, kịch bản nghi binh đánh lừa địch của trung tướng Khuất Duy Tiến được coi là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự của Quân đội ta. Cấp trên đánh giá chiến dịch Tây Nguyên “một năm đánh địch bằng hai mươi năm”.

Xa lộ Hà Nội

Mỗi sáng Cục trưởng lên giao ban Tổng cục, tôi và đại uý Phan Huy Chương liên tục khiêng tấm bản đồ lên Sở chỉ huy Tổng Cục cho đến ngày chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng.

Tháng 3/1975, mặt trận Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng giải phóng. Đầu tháng 4/1975, Đại tá Nguyễn An, Cục trưởng Cục Vận tải được lệnh lên Bộ Tổng Tham mưu làm việc. Lần đầu tiên tôi, Phan huy Chương được vào Khu A - Khu Nhà rồng mang theo tấm bản đồ quí giá. Sau buổi làm việc, tâm trạng Cục trưởng rất phấn chấn. Ông nói:

- Hai cậu về báo cáo với anh Quốc Kỳ, chuẩn bị cho tôi tài liệu Xa lộ Hà Nội, báo cáo ngay kết quả.

- Báo cáo thủ trưởng, rõ! – Miêng hô rõ to, nhưng mặt nghệt ra, kinh ngạc. Mãi rồi tôi cũng cất được lời.

- Dạ thưa thủ trưởng Xa lộ Hà Nội ở đâu ạ?

Là tướng tá nhà binh, nhưng thủ trưởng rất nho nhã, tế nhị. Biết chúng tôi hô “rõ”, nhưng trong lòng không biết cấp trên cần tài liệu Xa lộ Hà Nội để làm gì. Ông mỉm cười, trấn an sĩ quan của mình:

- Mang tên xa lộ Hà Nội, thực chất đoạn đường này nằm bên nách phía đông Sài Gòn, từ Biên hoà đến cầu Sài Gòn. Điều tra kỹ xa lộ Hà Nội có thể bảo đảm cho máy bay vận tải khi cần có hạ cánh được không?

Nói xong, thủ trưởng lên xe chờ sẵn trước cổng khu A. Chúng tôi đi bộ đưa tấm bản đồ về Sở chỉ huy Cục. Trên đường về, hai người đoán già, đoán non. Có lẽ quân ta tiến đánh, bao vây Sài Gòn dài ngày, dự kiến phải dùng đến máy bay vận tải đáp xuống xa lộ để tiếp tế hậu cần cho bộ đội?

Chiều hôm ấy, tôi được phái sang Cục Bản đồ xin tài liệu. Ngoài tấm bản đồ doTrung Quốc mới in, nhưng số liệu từ thời thuộc Pháp, Cục Bản đồ chẳng có tin tức gì về con đường. Sang Cục Tác chiến, họ nói chỉ có tin tức chiến sự thôi, còn con đường mới nghe tên, sang Bộ Giao thông, hẳn có tin tức.

Có ai đó, mách bảo sang bên Uỷ ban thống nhất Trung ương may ra có tài liệu vì họ chuyên trách về miền Nam. Tôi cất công ra phố Đội Cấn, tìm đến trụ sở Uỷ ban thống nhất Trung ương. Sau này Uỷ ban không còn ở đó, chuyển thành khách sạn La Thành. Đi hết các phòng ban, không ai hay biết về xa lộ. Khi về, Cục trưởng hỏi

-Cậu sang bên ấy, có số liệu gì không?

-Báo cáo thủ trưởng, không ạ!

-Thế họ nói sao?

-Dạ! Họ tưởng tôi là cán bộ đến Uỷ ban thống nhất liên hệ xin xác minh lý lịch của ai đó ở trong Nam, khi ra Bắc tập kết chưa lập gia đình lần nào. Đó là yêu cầu cần và đủ để uỷ ban xác nhận cho lấy vợ hoặc lấy chồng ngoài Bắc. Ngoài ra chẳng Uỷ ban chẳng biết con đường nào?

Cục trưởng mỉm cười biết tôi pha chút đùa. Ông chỉ thị, bằng cách nào đó phải có được tài liệu.

Tôi sang Cục II - Cục tình báo. May quá, họ cung cấp được chút ít tư liệu về xa lộ Hà Nội – Sài Gòn. Tuyến xuất phát từ Hố Nai ( Biên Hoà) về cầu Sài Gòn dài 30 km, mặt đường rộng 80 mét, rải bêtông átfan, 6 làn xe.

Nhớ lại năm 1976, một năm sau đó, tôi đi xe giao liên từ Hà Nội vào Sài Gòn. Lúc xe chạy đoạn đưỡng xa lộ từ Biên Hoà vào Sài Gòn, giật mình vì mặt đường chỉ rộng có 24 mét, không phải 80 mét như tài liệu thu thập được. Té ra Tổng cục 2 không nói rõ 80 mét là thước đo lường Anh hay là thước đo lường quốc tế. Một thước Anh bằng 0,304 mét của ta. Tính đổi bằng 24 mét.

Cũng may lực lượng của ta tiến vào Sài Gòn nhanh quá, không bao vây, áp sát nên không dùng tới sân bay dã chiến. Hơn nữa mặt đường Xa lộ, hai bên đường cột điện bằng cây thông Mĩ cao thấp khác nhau, dây điện hai bên đường loằng ngoằng, làm sao máy bay hạ, cất cánh an toàn được? Thật hú vía.

Ai là người đốt pháo mừng đầu tiên?

Trong Hoàng thành có bốn bếp ăn lớn phục vụ cho bốn cơ quan. Đó là bếp Hậu cần, bếp Kỹ thuật, bếp Chính trị và bếp Bộ tổng Tham mưu. Khác với mọi lần, hôm nay 30/4 đã gần 12 giờ trưa mà nhà ăn Hậu cần vẫn còn nhiều người nán lại. Họ túm tụm thành từng nhóm, rì rầm với nhau. Nhóm của tôi, một cậu cẩn thận đảo mắt nhìn xung quanh, rồi nói rất nhỏ:-

- Này, các bạn biết gì chưa?

- Tôi vặc lai - Chuyện gì?

- Ta giải phóng Sài Gòn rồi đấy- Ông bạn nói xong, mặt nghệt ra, vẻ thiếu tự tin.

Tôi nói luôn

- Ngày “cá tháng tư” qua lâu rồi đấy, nhưng cậu nghe tin ở đâu?

- Cũng không biết nữa. Thấy mọi người xì xào bàn tán, em nói lại thôi

- Thôi đừng tung tin bừa bãi nữa, phải cảnh giác. Đây là luận điệu “diễn biến hoà bình” đấy. Không chừng bên Quân pháp, họ“sờ gáy” ông bạn ạ.

-Vâng, em sẽ cẩn thận hơn.

Như thường lệ, đầu buổi sáng và đầu buổi chiều làm việc, kèn đồng của Bộ Tổng Tham mưu vang lên ba hồi báo hiệu bắt đầu thời gian làm việc trong Hoàng thành. Tiếng kèn cất lên trang trọng, thôi thúc, dục dã như một bản hùng ca tráng lệ. Nhiều năm sau khi nghỉ hưu, tiếng kèn ấy luôn sống động trong tôi, một ký ức thật tuyệt vời.

Sau ba hồi kèn đồng bắt đầu giờ làm việc buổi chiều vừa dóng lên, thấy Trưởng phòng Nguyễn Quốc Kỳ gần như vừa đi, vừa chạy rồi đổ ào vào phòng như một cơn lốc. Mọi người giật mình, đứng phắt cả dậy. Mặt Trưởng phòng trắng bệch, mồm cứng lại. Cuối cùng  ông cũng thốt lên được bằng lời:
- Ta! Ta… giải phóng Sài Gòn rồi – Nói xong, tưởng ông ngất luôn, mọi người ào lên, đứng vây lấy ông.

- Có thật không? Tin ở đâu?  Trưởng phòng vẫn hay nói đùa cơ mà?

- Không, không, đây là thật. Tôi vừa gặp ông Đức cụt ( Cục trưởng Cục Tác chiến) ở cổng Khu A. Ông nói ta giải phóng sài Gòn rồi, về phổ biến cho anh em. Tôi chưa kịp hỏi, ông đã lẩn vào sau cánh cổng Khu A.

Hình như để minh chứng lời nói của Trưởng phòng, bên kia đường Lý Nam đế, một tràng pháo rộ lên, xen lẫn tiếng nổ pháo đùng. Tiếp theo các nhà lân cận. Cuối cùng cả phố Lý Nam Đế pháo nổ tưng bừng, không dứt. Tôi thoáng nghĩ pháo Lý Nam Đế và pháo quân đội ta tấn công thành Sài Gòn, không biết pháo nào to hơn, dòn dã hơn? Khói pháo bốc lên, cùng với xác pháo cuộn thành từng đám, bay từ phố Lý Nam Đế sang bên Hoàng Thành.

Chao ôi! Cơm ăn, áo mặc còn thiếu, làm sao pháo Bình Đà lại nhiều đến thế? Không lẽ pháo bánh và khát khao ngày chiến thắng nén lại hàng chục năm nay, bây giờ như “tháo cũi, sổ lòng” vỡ oà ngày vui trọng đại?

Ngày thứ tư trong tuần

Cả buổi chiều, gần như không ai muốn làm việc. Họ sung sướng, rạo rực, lâng lâng như say rượu ngọt.Thấy tôi bồn chồn, đi ra, đi vào.Trưởng phòng xởi lởi cho phép:
      -Chiều nay cậu không làm Sĩ quan bản đồ nữa, thu xếp về nhà ngay, báo tin cho vợ con mừng.

Pháo nổ đã lan dần sang Đường Cột cờ, Cửa Nam rồi đến phố Vọng. Còn Từ Vọng theo Quốc lộ 1 về đến quê vợ tôi, không xao xác tiếng pháo nổ như trong nội thành. Con người, nhà cửa, cây cối vẫn im ắng như xưa nay sinh ra, bây giờ vẫn thế. Có lẽ chưa ai báo vui tin cho họ?

Vừa dựng chiếc xe đạp  ngay hồi nhà, thằng con trai đã reo lên:

- Hôm nay mới thứ tư mà Ba đã về, mẹ ơi.

Tôi vừa lau mồ hôi, vừa nói to, đến nỗi ở trong nhà, vợ ló cửa nhìn

-Vợ ơi, các con ơi, giải phóng Sài Gòn rồi, hoà bình rồi. Hoà bình rồi!

Bây giờ vợ mới bước ra, buông một câu

-Thế là anh không phải đi đánh trận nữa, phải không? – Nói xong cô ta lủi đi đâu đó. Một lúc sau quay về, trên tay cầm một xâu cá tươi rói. Vợ thanh minh:

-Em ra mom sông Nghi Xuyên, thuyền chài chỉ đánh được ngần này cá mòi. Hôm nay nhà mình liên hoan đúng thứ 4, ngày 30 tháng 4, nhà 4 người và 4 con cá mòi đặc sản…

Vào ngày này, tôi còn nhớ như in cách đây nửa thế kỷ, gia đình quây quần bên bữa cơm chiều liên hoan ngày Giải phóng Sài Gòn thứ tư, ngày 30 tháng 4, năm 1975 sao mà ấm cúng, đơn sơ, ngọt ngào hạnh phúc đến vậy.

Cho đến một lần kỷ niệm ngày giải phóng Sài Gòn vào thứ 4 ngày 30 tháng 4 năm 2003, tôi thật sự ngạc nhiên thấy thời gian quay lại giống như cái hồi thứ tư, ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tôi đem điều này hỏi đến nhà nghiên cứa khoa học Nguyễn Phúc Giác Hải. Ông giải thích rằng sau chu kỳ 28 năm thì lặp lại đúng thứ 4, ngày 30 tháng 4 trở lại như cũ. Theo đó, chu kỳ 28 năm, các năm 2031, 2059 đều rơi vào thứ 4, ngày 30, tháng 4 v.v… Vì vậy các nhà Thiên văn lịch pháp từ cổ chí kim căn cứ vào chu kỳ 28 lập nên Lịch Vạn Niên

Ôi, ngày thứ tư trong tuần, sao tuyệt diệu đến thế?

                                                         

                                     HBT thứ 4, ngày 30/4/2025.


In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com