
HOA XUYẾN CHI
HỒ BÁ THƯỢC
Bố mẹ đặt tên con là Đoài. Khuất Quang Đoài. Mọi người nói ở Xứ Đoài, đương nhiên con cái mang tên Đoài cũng lẽ thường tình. Đặt tên con, bố mẹ muốn cả đời con cái gắn bó với quê hương, bản quán. Khi đã “cột” được chân, nhất quyết con không thể đi đâu xa được.
Nhưng sự đời hay tréo ngoe. Cùng học với Đoài, thằng Tình con ông Tính cao to, đẹp trai, trông tướng mạo lắm. Mọi người thấy hắn thập thò đầu ngõ, đều có chung một suy nghĩ, hắn sẽ làm “to”. Địa phương hai ba lần gọi nghĩa vụ quân sự, hắn trốn sau cánh cổng, có sự hỗ trợ tích cực của đàn chó dữ, không ai dám bước chân vào nhà, kể cả chính quyền địa phương. Nhờ chó, thằng Tình cả đời ôm đít vợ, không xa Xứ Đoài lấy nửa bước.
Còn thằng Nhởi đi đứng kiểu chấm phẩy. Một tay chống hông, người nghênh ra phía trước, tay kia còn lại vung vẩy phía sau, thành ra dáng đi của nó nghiêng nghiêng, giật cục, như thể có người muốn ngáng chân hắn lại. Tướng mạo đã vậy, ai cũng bảo thằng Nhởi không bao giờ rời khỏi đít trâu. Nhưng thật không ngờ, hắn bỏ làng ra đi, nghe nói vào tận mỏ vàng Bồng Miêu rồi sau đó quay ra mỏ đá rubi Quỳ Châu, lần mò lên tận mỏ đá quí Lục Yên. Hắn đi làm giàu.
Không biết làm ăn thật thà, hay cướp giật kiểu gì, trong thời gian ngắn, hắn có rất nhiều tiền, liền bỏ nghề vàng bạc đá quí, buôn bán sang Trung Quốc, Lào, Thái Lan... Bỗng chốc trở thành đại gia. Hắn quay về làng bỏ ngay con vợ cũ, cưới con vợ mới, đẹp như hoa hậu nhất nhì thành Sơn Tây. Mở siêu thị lớn trên phố Xứ Đoài. Đấy, tưởng ru rú xó nhà, nào ngờ hắn đi khắp thiên hạ, vươn ra thương trường quốc tế?
Còn Khuất Quang Đoài, bố mẹ chỉ giữ được chân lúc cậu còn tuổi học trò. Đến khi học chưa xong lớp bảy, chiến tranh lan rộng ra cả nước, Đoài theo đoàn quân lầm lũi đi về phương Nam. Hắn xa Xứ Đoài từ ngày ấy. Trong suốt thời binh nghiệp, cũng là thời kỳ chiến tranh loạn lạc, bom đạn đã không làm gì được Đoài, mặc dù ở đâu có bom đạn, hắn mò đến. Đó là nghề nghiệp sinh tử, không phải ai cũng muốn làm. Cấp trên bảo:
- Cậu đã có hai mươi năm thâm niên. Nếu ra quân ngay bây giờ, chỉ có tiêu chuẩn phục viên, hưởng chế độ một lần. Cậu cố gắng chờ dăm năm nữa, đủ tiêu chuẩn về hưu. Cho phép cậu lựa chọn. - Thủ trưởng dễ dãi với hắn.
- Dạ, em xin về “hưu non”, hưởng chế độ một “cục”. Các cụ nhà em khi còn sống, muốn em ở Xứ Đoài cả đời. Bây giờ nếu em được về, các cụ dưới suối vàng chắc mãn nguyện lắm.
Thực lòng, Đoài không dại gì ra quân trong khi chỉ còn mấy năm nữa đủ ngày, đủ tháng. Làm suất lương hưu đâu phải dễ. Với lại ngần ấy thời gian, còn được lên một cấp là cái chắc. Vừa lên quân hàm, vừa được về hưu ai bảo không ham, nhưng cô vợ ở quê hối thúc:
- Đây là thời cơ có một không hai đấy, bố nó ạ.
Nghe vợ nói qua điện thoại, Đoài đâm hoang mang. Từ trước tới nay, vẫn nghĩ vợ mình “quê một cục”, chỉ được ngoan hiền không ai bằng. Giữa thời ngổn ngang chụp giật, lừa đảo như chảo chớp, vợ dám ra “tuyên ngôn” với chồng, đây là thời cơ thế này, thời cơ thế nọ… Nếu như lời khuyên của vợ hiện thực, quả nhiên cô ta hơn đứt chồng?
Nhưng ở nơi xa xôi cách lế, nói một câu có phải xong đâu. Cũng phải bàn bạc thấu tình đạt lý. Nhưng nói gì thì nói, Đoài vẫn chưa thật sự yên tâm, khi con đường công danh đang rộng mở phía trước, trong khi vợ một mực ép chồng về “hưu non”, nghe sai sai thế nào ấy. Cuối cùng, hắn báo cáo xin thủ trưởng tranh thủ phép ba ngày, về nhà bàn với vợ con để “chuẩn bị hậu phương”.
Nhìn bữa cơm vợ dọn ra, Đoài giật mình. Trong mâm cơm không nhiều món, nhưng bày ra đều món ngon: thịt gà luộc, gà rán, cá xốt cà chua, giá đỗ sống, lòng gà xào miến, chai rượu quê nút lá chuối. Bữa ăn thế này, chắc có chuyện lớn đây. Đoài không nhìn vợ, hỏi trống không:
- Con cái, các cháu đâu?
- Vợ chồng con cái chúng về bên ngoại có chút việc cả rồi. Anh không muốn vợ chồng mình, sống tự do một đêm hay sao?
- Em nói gì lạ thế? Một đêm là thế nào? Thôi ta ăn cơm đi, anh đói quá rồi. - Liếc qua bộ dạng của vợ, thầm nghĩ: Quái lạ, vợ làm sao ấy nhỉ, không lẽ cô ấy định cưới thêm vợ hai cho mình, hay còn điều gì khác?
Nghĩ thế, rồi ầm ờ vớ lấy chai rượu làm luôn hai chén. Vợ giằng chai ra, bảo uống ít còn đi ngủ. Nghe vợ nhắc đến chuyện ngủ, Đoài hào hứng hẳn lên. Đúng lúc nàng đi vào bếp, tranh thủ làm thêm ba chén nữa. Tăng thêm chút men, liền hô:
- Điều lệnh nhà binh: Điều thứ nhất: lính xa nhà…
Nhàn đỏ mặt:
- Từ từ đã anh, em sẽ cho anh cả đêm, ông tướng ạ.
- Anh không muốn làm ông tướng. Tướng tá kiểu gì quanh năm suốt tháng, lúc nào cũng kè kè vợ con bên mình, còn gì thú vị nữa. Anh chỉ muốn làm lính thôi.
- Vâng, anh là lính xa nhà đã hai mươi năm rồi đấy, liệu có còn… “tráng” được nữa không? Thôi được, anh ra bên cửa sổ cùng em ngắm ngoài trời, có điều gì thú vị không?
Nàng xích lại gần, Đoài ôm lấy vai vợ, cả hai tựa ngực vào chắn song cửa sổ, nhìn vào bầu trời đêm. Một cơ thể ấm nóng, mùi thơm đặc trưng đàn bà vừa ngậy, vừa nôn nao. Bao lâu rồi, Đoài mới cảm nhận được hương vị của vợ.
Một luồng gió mát đầu xuân, từ dưới khe tạt sang khu đồi, mang theo hơi ẩm, pha lẫn mùi ngai ngái của hoa xuyến chi:
- Khu đồi liền kề với nhà ta, đã nhiều năm bỏ hoang hóa từ ngày Hợp tác xã tan rã. Sang năm, họ bầu Hội đồng nhân dân các cấp, bộ máy ủy ban xã sẽ thay đổi lớn. Bí thư, chủ tịch và một số ban ngành đều là người họ Khuất nhà ta liên tục làm ba bốn khóa rồi. Khóa này, chắc nghỉ thôi. Những gì liên quan đến kinh tế, đất đai còn tồn đọng, họ giải quyết hết. Phần vì quyền lợi của họ hàng, phần cũng vì lợi ích của các bác ấy nữa. Em đã thăm dò ý tứ bác bí thư, bác chủ tịch rồi, họ ủng hộ nhà ta thầu khu đồi, ưu tiên gia đình bộ đội. Mấy năm nay, em đã âm thầm đào thử nhiều hố sâu, lấy đất, về trồng thử các loại cây lấy gỗ, cây ăn quả, rau dưa. Khẳng định, đất dưới khu đồi bỏ hoang trồng trọt được.
Những ngày anh ở chiến trường, em thường đứng bên cửa sổ này nhớ anh. Có một lần, em tò mò muốn tìm ngôi sao sáng nhất của chúng mình năm xưa. Lúc ấy, anh bảo ngôi sao sáng nhất, là người thân gần ta nhất. Anh đi xa, ngôi sao sáng nhất biến đi đâu mất. Bây giờ ngôi sao gần nhất, có phải anh không? Anh nhìn kỹ xem, có phải hơi ẩm làm cho các ngôi sao còn lại nhòe đi, vì trong lòng đồi, kho nước chưa được khai thác? Anh hãy về cùng em, biến vùng đồi này thành ốc đảo xanh tươi. Đó là ước mơ lâu nay của em. Anh thấy sao?
- Anh chẳng thấy gì, ngoài những bông hoa xuyến chi trên đồi. Anh còn nhớ, chúng mình đuổi nhau từ sườn đồi bên này, chạy sang sườn đồi bên kia. Lẽ ra em phải chạy chậm để anh bắt được, thậm chí em giả vờ ngã để anh ngã theo. Đó là cái cớ, chúng mình trao chút tình cảm trước ngày ra trận. Không phải chỉ mình anh muốn đâu, em cũng đang khao khát đó sao?
- Lúc ấy, em chỉ nghĩ mình là học sinh chạy nhanh nhất trong giờ tập thể dục, thể thao của trường, không nghĩ để anh bắt được. Đến lúc nhớ ra ngày mai anh lên đường nhập ngũ, phải nói điều gì với anh, nhưng lúc ấy đã quá muộn, vì hàng rào nhà em đã ở ngay trước mặt.
- Hình như em sợ anh phải không?
- Sao em phải sợ anh?
- Có thể em nghĩ ngày mai ra trận, đêm nay anh sẽ đòi hỏi ở em một điều gì đó thật sâu sắc như nhiều lứa đôi họ đã từng làm?
- Thế anh nghĩ, em sẽ cho anh những gì nào?
- Điều ấy chỉ mình em biết thôi.
- Anh đừng tưởng tượng quá đi như vậy. Chúng mình cùng học với nhau từ bé. Lớn lên, lại yêu nhau. Tuy hai nhà cách nhau một khu đồi, nhưng gìn giữ được cho đến bây giờ, quí lắm rồi. Anh ra đi bao lâu em vẫn chờ, tất cả là của anh. Đêm nay em chỉ cho anh một nụ hôn thôi, nhưng vì đèn nhà em hắt ra ngoài này sáng quá…
- Không sao đâu, cho dù ánh đèn nhà em, hay sấm chớp nổ ngay trên đồi này, anh vẫn cứ hôn em.
Hai người dựa vào cột hàng rào, thực hiện nguyện ước của nhau. Bỗng nghe “rầm”… hàng rào hoa bìm bìm đổ, tưởng một góc đồi bị sập. Cũng may, nhờ thảm hoa bìm bìm đỡ cho nên cú ngã không gây đau đớn gì. Bất ngờ, hai chú chó rình rập từ đâu đó lao ra chào đón, anh được tặng một cú ngoạm toạc quần từ mông xuống đầu gối. Em hoảng hồn kêu cứu. Nhưng hai hung thần, ngỡ tưởng được chủ nhà khuyến khích, nên tiếp tục lao vào nghênh chiến. Anh lộn mấy vòng rồi lăn xuống thung lũng, mới thoát được hai kẻ phá đám.
- Em hoảng sợ, không biết anh có bị thương ở đâu không. Vừa chạy, vừa gọi anh trong nước mắt, nhưng khu đồi vô tình lặng im đáng sợ. Sáng hôm sau, em lên chỗ tập trung tân binh, vẫn không thấy anh. Chạy sang bệnh viện cũng không. Hình như, anh tìm cách trốn em?
- Anh không trốn, nhưng thấy xấu hổ, nên không muốn gặp em.
- Hai năm sau, anh mới viết thư về cho em. Lúc nhận được thư, không biết mừng, hay giận nữa? Tính thù dai của anh, có từ bao giờ? Sao gan lỳ đến thế? Nhưng, nghĩ lại thấy thương và tội cho anh nhiều hơn. Thời gian yêu em, anh đã được gần em đâu, thậm chí một cái hôn cũng không? Em hỏi thật anh nhé, có phải vì chuyện đó, anh giận em, hay tại mấy con chó tấn công, làm anh sợ hãi?
- Cũng phải công nhận cả hai. Nhưng điều đáng sợ nhất với anh, nếu bị gãy chân hay bị thương ở đâu đó, lỡ mất đợt tuyển quân. Hơn nữa, đợt ấy họ tuyển thẳng bộ đội đưa vào chiến trường, lâu nay anh đang ao ước. Chuyện xảy ra không hay ho gì, nếu lộ ra bạn bè cười cho? Còn nữa, vào trong ấy nghĩ lại, thấy chuyện chúng mình thật không công bằng chút nào. Thằng Tình nhờ chó dữ, hắn được gần vợ, gần con, không phải xa Xứ Đoài. Còn mình vì hai con chó dữ, anh xuýt mất người yêu, còn phải đi xa.
- Anh đừng nghĩ thế, trong mắt em anh là chàng trai tốt, sau này thành người chồng tốt. Không có mối tình nào thú vị như tình của chúng ta. Nếu hai chú chó nhà em còn sống, không chừng anh còn phải cảm ơn chúng nhiều nữa đấy, vì sự trung thành, một mực bảo vệ em. Nếu không có sự canh chừng cẩn thận của hai chú chó, anh đã mất người yêu từ lâu rồi. Em không nói điêu đâu, thời gian anh vắng thư từ, nhiều chàng trai ngấp nghé đến tán tỉnh em. Họ tìm mọi cách để gặp, nhưng em đều tránh né. Không gặp được em, họ vượt đồi xuyến chi, mò đến tận nhà. Mới lấp ló đầu ngõ, nghe tiếng chó sủa “gầu, gầu” họ chạy mất dép không dám quay lại nữa. Còn anh, anh phải xem lại mình đi. Anh quá tự mãn, chỉ nhăm nhăm biết đến người yêu của mình thôi (đương nhiên điều ấy em thích rồi). Cái tệ của anh, không chịu làm quen với mấy chú chó, mới xảy ra chuyện đêm ấy. Không phải em cố tình, đưa anh về trước hàng rào nhà em đâu, vì chạy nhanh quá. Lúc nghĩ ra, không còn chỗ cho hai đứa mình nữa. Không ngờ, khi đứng trước hàng rào, mấy chú chó nhà em, đã canh chừng anh rồi. Lúc vừa ôm em, chúng tưởng “thân chủ” bị tấn công, nên mới nhảy vào can thiệp. Anh à, bây giờ chúng mình sắp già rồi, nếu anh muốn trẻ lại đến với cô nào, trước tiên hãy nhớ làm quen với mấy chú chó đã nhé, không lại xảy ra chuyện như hồi còn trẻ.
Nói xong, nàng nhìn chồng với ánh mắt tinh nghịch, cười giòn giã.
- Bây giờ anh đã có em rồi, không có cô nào chen vào, nên không phải làm quen với chúng nữa.
Nói xong, anh bế thốc nàng đến bên giường, chăn đệm xới tung lên dưới ánh đèn mờ mờ, ảo ảo. Không lẽ, đây là đêm tân hôn thứ hai của họ?…
Từ ngày có “Đồi sinh thái”, Đoài triệu tập anh em cựu chiến binh cùng đơn vị trước kia ở Lào. Đó là đơn vị công binh của Đoàn 559, làm nhiệm vụ bảo đảm giao thông từ Tà Beng về La Hạp. Những người ở xa không liên lạc được đành chịu, còn xung quanh Hà Nội, Đoài chắp nối không thiếu một ai. Một số cựu chiến binh trong hội thơ Xứ Đoài, cũng được anh mời tham gia cho rôm rả. Để tránh trùng lặp với nhiều hội ở Xứ Đoài, anh em đặt tên cho Hội trưởng của mình là Đoài Tiên Sinh. Nhàn nói với chồng:
- Đồng đội quí, tôn trọng anh là người sinh trước, đặt tên Đoài Tiên Sinh gắn với tên hội rất hay. Còn em gọi anh Đoài Tiên Sinh như mọi người hay gọi đại ca, hoặc soái ca, liệu có được không?
Đoài nghe vợ khích lệ lấy làm hãnh diện, cho rằng “Tiên sinh” ở hội này chỉ có mình anh ta thôi. Thật ra, nghe tên “Tiên Sinh” cũng hơi cổ một chút, nhưng được mọi người trọng vọng, quí mến nên cũng thích. Nhiều lúc vui vẻ với bạn bè, anh quên luôn tên “cúng cơm” của mình, xưng Đoài Tiên Sinh thế này, Đoài Tiên Sinh thế kia không chút ngượng mồm. Chồng đã vậy, cô vợ cũng rất tự hào về tên mới của chồng. Đó là cách, để cô giao dịch với khách hàng mỗi khi tiếp cận Đồi Sinh Thái, không chỉ mua được hàng sạch, giá rẻ của cô, khách còn được tiếp xúc với ông chủ có cái tên rất đáng kính.
Từ ngày Đoài nghe lời vợ về “hưu non” đến nay, ngót nghét bảy năm. Tiền vay ngân hàng đã trả xong, hai vợ chồng có một khu sinh thái gần ba vạn mét vuông. Ngoài vườn tược, nhà cửa khang trang còn mua được ô tô bán tải cho thằng con trai, có phương tiện đi giao dịch hoặc, chở hàng hóa khi cần.
Từ ngày hội Đoài Tiên Sinh ra đời, vợ chồng Đoài có vẻ thích thú lắm. Không chờ đến kỳ sinh hoạt như đã giao ước, mới xa nhau mươi ngày nửa tháng, đã thấy nhớ. Để tăng thêm tính hấp dẫn, Đoài sắm hàng chục cần câu, chuẩn bị sẵn mồi câu. Đương nhiên, các hội viên được gia chủ thết đãi bữa ăn trưa rất chu đáo, toàn đồ tươi sống dồi dào, lấy từ Đồi sinh thái. Đã thế, các hội viên câu được cá, gia chủ cho hội viên mang về. Nếu câu được ít, chủ nhà quăng chài đánh bắt thêm. Nhàn bảo:
Nói rồi, Nhàn xếp cá vào từng túi ni lông cho mọi người.
Không biết Đoài Tiên Sinh dạo này rỗi việc hay sao, có vẻ “sính” thơ. Mới có mấy chén rượu, đã thấy ngà ngà, cao giọng đọc:
“Thế cục vần xoay, càn khôn dời đổi
Bước thịnh suy, hồ dễ mấy ai hay
Mở cửa bốn phương Nam Bắc Đông Tây
Luồng gió mới thổi qua miền quê lụa”.
Một tay “thơ vườn” Xứ Đoài kêu lên: “Bác ơi, em nghe thấy quen quen”. Đoài Tiên sinh cười ngất:
-Tôi đọc hai câu nữa, các chú đoán thử coi.
“Núi vẫn cao, trời xanh kia vẫn rộng
Mà địa đồ rơi mất chữ Hà Tây,
Đông còn đây, Đoài vẫn còn đây
Mà ngơ ngác giữa phố phường Hà Nội…”
- Điếu Hà Tây, đúng là điếu Hà Tây phải không bác?
Nhìn vẻ mặt buồn rười rượi của Đoài Tiên Sinh, ai cũng nghĩ ông đang có điều gì tâm sự. Hỏi dồn mãi, ông mới chịu nói:
- Họ Khuất nhà tôi lâu đời nhất ở Xứ Đoài là cụ tổ Khuất Quỳnh Khang vào thời năm 1450, đến bây giờ không biết bao nhiêu đời rồi, nhưng giới văn sĩ cũng chẳng có mấy ai. May cho Xứ Đoài, thời tiền chiến có nhà thơ Quang Dũng, quê Đan Phượng, làm rạng danh một thời. Nhưng theo tôi, có hai bài thơ tôi tâm đắc nhất: Đó là bài “Tây tiến”, và “Đôi mắt người Sơn Tây”. Bây giờ có hội thơ Xứ Đoài, nhiều như “lá rụng mùa thu” nhưng cũng chẳng ăn ai (xin lỗi hai bạn thơ nhé). Tôi thích nhà văn Đại tá Khuất Quang Thụy quê Phúc Thọ hơn, vì “cả đời chỉ loay hoay viết về người lính”. Tôi thật sự cảm ơn ông ấy. Chợt đôi mắt của Đoài Tiên Sinh sáng bừng lên khi ông nói về nhà thơ, nhà văn hóa cổ đại Khuất Nguyên thời Chiến Quốc 278-340 TCN. Cụ Khuất có nhiều bài thơ bất hủ. Tôi đọc một đoạn trong bài thơ “Ngư Phủ”, các bạn thử nghe xem Ông Chài và Nhà Thơ nói gì với nhau nhé:
Ông Chài:
- Tam Lư đại phu đấy phải không? Làm sao đến nông nỗi ấy?
Khuất Nguyên:
- Mọi người đều say, mình ta tỉnh. Khắp đời đều đục, mình ta trong, vì thế mà bị đuổi.
Ông Chài:
- Thánh nhân không câu nệ theo đời mà biến thông. Mọi người đều uống say, sao không uống tràn cho ngất ngây đi? Khắp đời đều đục, sao không theo dòng mà sục ngầu lên… Lại cứ nghĩ sâu, làm cao đến nỗi bị đuổi…
Nói rồi, ông chài chèo thuyền đi, vừa đi vừa hát.
Khuất Quang Đoài tâm sự:
- Không phải tôi con cháu họ Khuất ở Xứ Đoài, mà dám với tới cụ Khuất cách đây mấy nghìn năm ở bên Tầu đâu? Tôi nghĩ thiên hạ say, mình tỉnh. Đời đục mình trong, chỉ có cụ Khuất làm được điều ấy thôi, vì Cụ là thánh sống. Mấy nghìn năm sau, giả dụ nếu được làm hậu duệ của Cụ, con cháu chẳng làm được trò trống gì, theo đít mấy con lợn cũng không xong, làm sao mà tỉnh, mà trong được? Nào, các bạn ta làm mấy chén cho ngất ngây đi?
Mọi người đứng dậy vỗ tay rào rào tán thưởng, nhưng Đoài Tiên Sinh lại gục xuống bàn. Mọi người nhốn nháo, Nhàn ngồi bên, bình tĩnh mở túi áo chồng lôi ra một lọ thuốc, lấy một viên nhét vào miệng chồng. Cô trấn an với mọi người:
- Nhà em bây giờ xúc động mạnh, huyết áp đột ngột tăng lên. Nhờ có thứ thuốc thần diệu này, sẽ tỉnh lại ngay thôi, các bác đừng ngại.
Sau hôm đọc, và bình thơ, nhiều tin xấu về bệnh của Đoài Tiên Sinh không ngừng tăng lên: Có tế bào lạ trong cơ thể, hoại tử hai khớp háng, tràn dịch phổi, cắt khối u dạ dày, suy giãn tĩnh mạch hai chân, áp lực mắt tăng đột biến, có thể biến tướng thiên đầu thống… Không lẽ thiên hạ có bao nhiêu bệnh nan y, Khuất Tiên Sinh dành hết cho mình?
Mặc dù mang nhiều trọng bệnh trong người, nhưng Đoài Tiên Sinh không mấy lo lắng. Nhàn, vợ ông không nói ra cho dù rất buồn, khuyến khích chồng tranh thủ tận hưởng mọi vui thú cuộc sống mang lại. Quĩ thời gian của chồng chẳng còn bao nhiêu. Thằng con trai tình nguyện, đánh xe đưa bố đi rong chơi khắp nơi…
Trong nhóm “Tam bom”, Khuất Quang Đoài được đơn vị giao phụ trách nhóm trưởng nhóm phá bom. Đội viên Vương Quốc Trung người làng So, Lê Trung Hiền người Tam Nông, Phú Thọ. Họ sống với nhau từ ngày đầu về đơn vị, nên coi nhau như ba anh em ruột, hẹn sau này sống chết thế nào cũng phải liên lạc được với nhau. Không ngờ, trong một trận máy bay rải thảm chất độc hóa học xuống đơn vị, Trung và Hiền bị nhiễm chất phóng xạ rất nặng. Đoài về đơn vị lấy vật tư ở La Hạp nên thoát nạn.
Ra quân, Vương Quốc Trung tưởng “sóng yên, biển lặng”, lấy vợ sinh con. Ai dè hai đứa con dị dạng, chết ngay từ lúc mới sinh ra. Không chỉ vợ chồng Trung hoảng loạn, cả dòng họ Vương ở làng So đều lo lắng, thương xót. Dù không muốn, nhưng Trung đã làm mọi cách để cho vợ đi lấy chồng khác. Toại nguyện của anh đã được đền đáp: vợ cũ của anh sinh con với người chồng mới được một trai, một gái. Anh nói đó là hạnh phúc trong mơ không phải ai cũng có. Anh nhận cha đỡ đầu hai đứa con của vợ cũ. Ngoài hạnh phúc dâng hiến, Vương Quốc Trung vẫn sống độc thân, nghèo túng và bệnh tật nơi quê nhà.
Số phận Lê Trung Hiền nghiệt ngã hơn. Về quê lấy vợ, chưa kịp sinh con, anh đã chết đau đớn vì chất độc da cam biến chứng ung thư, chưa kịp cho vợ mình được làm mẹ một lần dù kết quả đứa con sinh ra thế nào? Chồng mất, vợ gánh vác nuôi bố mẹ chồng khi cả ông lẫn bà, quanh năm ốm đau. Cô em chồng lớn lên, không biết xoay xở thế nào, khi gia đình rơi vào bế tắc.
Chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, đất nước một lần nữa lâm vào cảnh binh đao, gieo tai họa cho muôn dân. Nhưng với Hậu, cô em gái của Hiền coi là cơ hội, để cô thoát khỏi gia đình. Đối diện với mọi thách thức, cho dù tương lai xảy ra thế nào? Cô tình nguyện đi dân công hỏa tuyến, phục vụ chiến đấu trên mặt trận Vị Xuyên. Trong chiến dịch thu hồi cao điểm 468, bộ đội ta thương vong quá nhiều, Hậu tuy làm nhiệm vụ phía sau, nhưng trúng mảnh đạn đại bác của địch. Vết thương găm vào thái dương quá nặng, cô được chuyển qua nhiều trạm Quân y rồi cô về Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Bắc Giang, ở đó cho tới nay.
Sau khi đi thăm Vị Xuyên về, Đoài Tiên Sinh và Vương Quốc Trung ghé thăm Trung tâm điều dưỡng, nhân thể tìm người thân của Lê Trung Hiền. Khi xe tới nơi, thấy gần chục người đuổi theo một phụ nữ đang lên cơn điên loạn. Đi đầu Giám đốc, tiếp theo bà Phó Giám đốc và ít nhân viên. Nhiều bệnh nhân tâm thần kích động đứng chật cả lối, vỗ tay hoan hô. Hai vị khách vội mở cửa xe, rồi cũng lao theo đoàn người.
Bỗng nhiên cô gái đang chạy, liền ôm chầm người khách, nở nụ cười, reo lên:
- Ôi anh trai, anh Lê Trung Hiền của em.
Tất cả từ Giám đốc đến nhân viên đều sững sờ trước sự việc bất ngờ vừa xảy ra. Họ gỡ tay, dỗ dành nhưng cô không chịu. Người khách đành dìu cô cùng mọi người về Ban Giám đốc trung tâm.
Sau khi được làm rõ mối quan hệ, Giám đốc Trung tâm cảm ơn hai vị khách đã đến thăm, mặc dù cô Hậu bệnh nhân có nhầm lẫn khách với anh trai của mình, nhưng đó cũng là dấu hiệu tốt cho bệnh nhân dần dần hồi phục?
Thấy tình cảm của cô Hậu như vậy, Đoài Tiên Sinh nhã ý mời cô gái về Đồi Sinh Thái nghỉ dưỡng một thời gian. Không ngờ Giám đốc Trung tâm đồng ý ngay. Hơn thế, ông cử một nữ y tá cùng đi để tiện việc chăm sóc cho cô.
Chỉ có mười mấy ngày ở Đồi Sinh Thái, cô hết sức tỉnh táo, vui chơi, thậm chí cười đùa, chưa một lần lên cơn. Cô nhận ra Vương Quốc Trung, đã đến thăm bố mẹ cô, thắp hương cho anh trai cô trước đây, lúc ấy cô đang học cấp II. Đương nhiên, Hậu rất ngượng khi nhắc lại chuyện nhận “nhầm người”. Một tình cảm mới lạ với người thương binh bắt đầu le lói trong cô.
Đoài Tiên Sinh rất mừng nếu như hai người đến được với nhau, sống hạnh phúc, giúp nhau vượt qua mọi ốm đau, bệnh tật. Nhàn nói với chồng:
- Không lẽ nỗi đau xoa lên nỗi đau, có phải niềm hạnh phúc không anh?
Đoài Tiên Sinh đi lại như con thoi từ Đồi Sinh Thái đến Trung tâm điều dưỡng, để giải quyết chuyện tình cảm của hai người, đồng thời giải quyết chế độ chính sách, khi Hậu tự nguyện rời khỏi Trung tâm. Đương nhiên, Trung tâm rất hoan nghênh, cảm kích tấm lòng hào hiệp cũng như việc làm thiện nguyện của Đoài Tiên Sinh.
Ông về Tam Nông bàn với mẹ và chị dâu của Hậu về hạnh phúc của cô. Ông rất ngạc nhiên, khi gia đình cho biết Hậu mất tích hay xiêu bạt đâu đó, vì lâu nay không thấy cô liên lạc với gia đình. Hậu khóc, nói thật đã hai lần trốn trại về thăm bố mẹ và chị dâu. Cô chờ đến chập tối, nấp trong bụi cây để quan sát. Thấy bố mẹ và chị dâu ngồi trước cửa nhà dột nát, xiêu vẹo. Nhìn thấy cảnh tượng đó, lòng cô như xé nát. Dù lương tâm cắn rứt, bất hiếu với bố mẹ, cô không thể trở lại với gia đình trong tình trạng điên dại xảy ra bất cứ lúc nào. Thôi, cứ để mọi người coi cô đã chết, còn hơn phải để tâm đến mình, đang sống heo hắt ở đâu đó. Cô lầm lũi ra đi, gửi gắm quãng đời còn lại vào Trung tâm duyên nợ này.
Cùng lúc, Đoài Tiên Sinh về làng So của Vương Quốc Trung. Gia cảnh của Trung đơn giản hơn nhiều. Sau khi chia tay vợ, Trung vẫn ở vậy, một thân một mình, cùng căn nhà cấp bốn cha mẹ để lại. Đoài Tiên Sinh dự tính, nhà cửa sau này sẽ bàn giao cho cô em gái quản lý. Còn Trung, chuyển khẩu về Đồi Sinh Thái. Ông nói, đó là cách tốt nhất để chăm sóc sức khỏe cho bạn. Sau khi lấy vợ, hai người sẽ có nhà riêng, được “biên chế” thành công nhân của Đồi Sinh Thái. Lương công nhân, và phụ cấp thương binh là cơ sở bảo đảm cuộc sống lâu dài cho đôi vợ chồng “trẻ”.
Sau khi mọi việc giải quyết xong, Đoài Tiên Sinh tuyên bố với mọi người rằng, ông không có bệnh tật gì hết. Chẳng qua, ông muốn dành chút thời gian cho mình và bạn bè. Việc ông tuyên bố lấp lửng, giống như một quả bom hỏa mù, làm mù mờ tất cả. Nhiều người tin, không ít người không tin về những lời ông nói ra. Nhưng điều quan trọng, họ thông cảm với ông nhiều hơn, không ai trách ông về sự không nhất quán đó. Ngược lại, họ thấy mừng khi ông không có bệnh tật gì, vẫn là Đoài Tiên Sinh, một doanh nhân mải chơi, nhiều hơn mải làm.
Hai vợ chồng ông loay hoay mất nửa ngày, mới ngăn được căn phòng cho đôi vợ chồng chuẩn bị cưới. Lúc ngồi nghỉ uống nước, bất chợt ông để ý đến cái tráp kê trong góc phòng. Đó là ý tưởng từ ngày đầu tiên làm ra để dùng chung cho hội viên lúc đi tắm, hoặc đi câu, họ cất vật dụng cá nhân vào đó. Lúc về tự lấy ra. Vì thế, mỗi Hội viên đều có chìa khóa riêng. Từ khi có tráp, ông không để tâm đến nó nữa.
Ông đến gần tráp gỗ, thận trọng nâng lên rồi hạ xuống, quả nhiên tráp rất đẹp. Màu sơn xuống nước, đen bóng. Riêng nơi tra ổ khóa bị mòn vẹt cả sơn. Ông nghĩ, tráp này chắc hẳn đã được mở ra, đóng lại nhiều lần. Ông tò mò muốn mở ra xem trong đó có gì, liền bảo vợ mang chùm chìa khóa từ phòng của ông xuống. Khi tráp vừa mở, bất ngờ tiền giấy trong tráp ùa ra. Nhàn kêu lên:
- Ôi, tiền, tiền!
- Tiền đâu nhiều thế này? - Ông ngạc nhiên, kêu to hơn cả vợ. Ông vội đóng sập lại, rồi ghé mông ngồi lên. Mặt ông tái mét. Vợ ông, mặt còn tái hơn. Thậm chí, bà còn mếu máo, xuýt phát khóc khi thấy ông trừng mắt nhìn bà, như muốn hỏi.
- Của bà phải không?
Gần như bà không thở được, chứ nói gì đến việc trả lời. Thay vì cất lời để xác nhận, bà lắc đầu. Im lặng một lúc, rồi bà lại trừng mắt nhìn thẳng vào mặt ông như muốn hỏi, khiến ông hoang mang, lắc đầu quầy quậy, ra ý bảo:
- Không, không phải của tôi.
Vợ dịch lại rồi cùng chồng ngồi lên tráp. Tựa như thêm sức nặng của hai người, tráp gỗ không thể bay đi đâu được. Cả hai im lặng, nghe rõ cá dưới ao quẫy lên mặt nước đớp bóng.
- À, chết tôi rồi!
- Sao hả anh?
- Đây là tiền của anh em hội Đoài Tiên Sinh. Anh thật vô tâm quá. Làm ra tráp này, anh đâu có nghĩ mọi người để tiền vào đó. Từ ngày có Hội, mỗi lần đến chơi, đồng đội âm thầm đặt tiền vào đây. Vừa rồi nghe tin anh có bệnh, tiền thăm hỏi lại tăng lên đây mà. Thật là…
Vợ nói:
- Mấy năm nay, tấm lòng chân thành của vợ chồng mình, không lẽ đồng đội hiểu nhầm chăng? Chiêu đãi một chút, cá mú một chút trở thành việc bán mua? Em đau lòng lắm.
- Không, em đừng nghĩ thế. Mình chân thành, anh em cũng rất chân thành. Có điều ta sơ suất quá. Nếu không có đám cưới, ta đâu hề hay biết, có tiền ở trong tráp?
Hai vợ chồng khiêng tráp lên nhà trên, khóa cửa rồi đi vòng quanh khu Đồi Sinh Thái. Lâu lắm họ mới có dịp sóng đôi với nhau thế này. Đêm không trăng, không sao, nhưng đèn điện khu đồi sáng trưng, vẽ lên một đường cong tuyệt đẹp. Đoài Tiên Sinh thầm thì bên tai vợ:
- Trong tháng này, em chọn ngày tốt để tổ chức đám cưới cho Hậu Hiền. Toàn bộ chi phí do chúng mình chi trả, không lấy tiền mừng của khách mời. Tiệc cưới, đặt hàng từ thành phố mang về. Cũng hôm cưới, ta xin lỗi bạn bè và chia số tiền trong tráp ra.
- Anh định ra sao?
- Chia đôi. Một nửa làm quĩ của Hội, giúp các gia đình khó khăn. Một nửa làm nhà cho đôi vợ chồng mới cưới, nếu còn thiếu, Bà giám đốc Đồi sinh thái bù vào được không?
Nhàn bỏ tay khoác, vít cổ chồng, rồi hôn tới tấp vào mặt, vào môi, ào ào như sao tua rua liếm vào bầu trời đêm… Nhàn nói trong hơi thở gấp gáp:
- Em sẽ làm nhà cho vợ chồng Hậu Hiền, làm thêm một số căn nữa để đón gia đình cựu chiến binh về đây nghỉ miễn phí. Anh thấy không, hàng rào bìm bìm và thảm hoa xuyến chi có đáng yêu không? Em muốn lưu lạị chút kỷ niệm ngày xưa của chúng mình đấy.
Đoài Tiên Sinh muốn ôm hôn vợ, bù lại cái hôn năm nào bị chó nhà nàng phá đám. Bất giác nhìn lại phía sau, thấy hai chú chó, đang ngoe nguẩy vẫy đuôi mừng rỡ.
Sơn Tây7/2018
Người gửi / điện thoại