bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
BÀI VIẾT MỚI
PHẢN HỒI MỚI

VŨ NHO 085 589 0003

CÁM ƠN ANH NGUYỄN BÁ CƯỜNG!ĐÂY COI NHƯ CUỘC TRAO ĐỔI HỌC THUẬT XUYÊN BIÊN GIỚI CỦA NHỮNG NGƯỜI LÀM NGHIÊN CỨU!GS TRẦN ÍCH NGUYÊN LÀ NGƯỜI CÓ NHIỀU CÔNG SỨC CHO VĂN HỌC VIỆT NAM!

 

Đinh Y Văn

Cảm ơn Tổng biên tập! Tôi không chủ ý “vịnh mùa thu” mà chỉ mạo muội “vịnh”…bác Nguyễn Khôi. Giữa thực trạng dường như không “còn khoảnh trời nào để cho thơ”, bác Nguyễn Khôi vẫn có “Thu Hà Nội 2026”!

 

vũ nho 085 589 0003

Hai bác cao tuổi vịnh mùa thu Bác khôi thấy nóng, bụi bay mù Bác Y Văn lại thấy trời man mát Hai bác khác mà CHUNG nét THU!

 

Đinh Y Văn

Kính bác Nguyễn Khôi: THU NGUYỄN KHÔI 2026/ Hà Nội cuối thu vẫn đợi thu/ Mặc cho nắng nóng, bụi toang mù/ Lớp lớp cao tầng ngoi lên thở/ Nguyễn Khôi vẫn thấy khoảnh trời Thơ! ĐYV

 

VŨ NHO 085 589 0003

VŨ NHO ĐƯỢC BIẾT LÊ THU PHƯƠNG QUỲNH LÀ CON GÁI CỦA TS PHẠM THU PHƯƠNG, THỨ NỮ CỦA THẦY PHẠM LUẬN, MỘT CHUYÊN GIA HÀNG ĐẦU VỀ  VĂN HỌC TRUNG ĐẠI TỪNG CÔNG TÁC TẠI ĐHSP HÀ NỘI VÀ ĐHSP VIỆT BẮC. RẤ...

 

VŨ NHO 085 589 0003

CÂU CHUYỆN THẬT CẢM ĐỘNG VỀ CỤ BÙI DUY TÂN!TÔI CÓ DUYÊN ĐỌC CUỐN "VĂN KHOA CHÂN DUNG KÍ" CỦA NHÀ VĂN HỮU ĐẠT, ANH ĐẠT KỂ CỤ TÂN CÓ SÁNG KIẾN "ĐỔ NƯỚC MỘNG GIƯỜNG".  SAU NÀY CÁC CON CỤ MUA NHÀ CHO...

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 38
Trong ngày: 148
Trong tuần: 1577
Lượt truy cập: 2048260

ANH CHI giới thiệu

anh_chi_1

Trần Nhân Tông với văn chương và triết học Việt Nam
Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, con trưởng của vua Trần Thánh Tông,
sinh năm 1258, là năm thượng hoàng Thái Tông và vua Thánh Tông đánh tan giặc xâm
lược Nguyên Mông lần thứ nhất. Sách Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) viết về ông:
“... được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như vàng, thể chất hoàn hảo,
thần khí tươi sáng... Trên vai có nốt ruồi đen cho nên có thể cáng đáng việc lớn, ở ngôi
14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm. Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự
nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song, để
tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của
bậc thánh nhân”. Nói về mục đích xuất gia, lên núi Yên Tử đi tu của Trần Nhân Tông,
danh sĩ lớn Ngô Thì Nhậm (1746 – 1802) đã luận giải một cách thật xác đáng trong
sách Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh: “Mọi người thấy Đức Điều Ngự (tức Trần Nhân
Tông) là Tổ thứ nhất khi ra ở chùa Yên Hoa thì cho ngay là ngài xuất gia. Nhưng có
biết đâu, đương lúc bấy giờ, Đức tổ biết lấy thiên hạ làm chung, gặp buổi nước nhà yên
ổn song nước láng giềng ở ngay bên cạnh rất mạnh nên chưa thể yên tâm, mà việc đó
không thể nói ra, sợ lòng người dao động. Nhân thấy Yên Tử là ngọn núi cao, phía
đông nhòm mặt được tỉnh Yên, tỉnh Quảng, phía bắc có thể trông tới Lạng Sơn, Lạng
Giang, nên mới dựng tu viện, thường qua lại xem động tĩnh, khiến quân giặc ở ngoài
không thể gây những việc đáng lo ngại. Đó mới thật là vô lượng, lực đại thế chí Bồ
Tát...”.
Nói đến nhân vật lịch sử lớn Trần Nhân Tông, là nói đến một người anh hùng
quyết chiến giữ nước, một triết gia, một thi nhân lớn trong đời sống văn hóa tư tưởng
dân tộc Việt ta giai đoạn cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV. Khi còn là thái tử, Trần
Khâm đã được vua Trần Thánh Tông gửi cho theo học thiền với Thượng sĩ Tuệ Trung.
Tuệ Trung là tướng quân Trần Tung, từng hai phen cầm quân đánh giặc Nguyên Mông.
Khi giặc tan, tướng quân Trần Tung lui về phong ấp Tịnh Bang và đã ngộ đạo với Quốc
sư đại tăng, tức thiền sư Tiêu Diêu. Chính Trần Thánh Tông đã yêu kính tặng cho ông
hiệu Thượng sĩ Tuệ Trung. Bởi vậy, Trần Nhân Tông sớm hoàn thiện một trí tuệ lớn,
một tài năng và nhân cách lớn. Thời gian Ngài ở ngôi vua, đã hai lần đánh bại quân
xâm lược Nguyên Mông vào năm 1285 và năm 1288. Trong hai lần kháng chiến oanh
liệt, Trần Nhân Tông là ngọn cờ tiêu biểu của dân tộc, “cố kết nhân tâm” (chữ trong
ĐVSKTT viết về Ngài), lãnh đạo quân dân cả nước vượt qua mọi gian khổ hy sinh, làm
nên chiến thắng huy hoàng. Vào giai đoạn đầu cuộc kháng chiến năm 1285, khi giặc
mạnh ào ạt tấn công, Trần Nhân Tông đã viết lên đuôi chiến thuyền hai câu thơ đầy hào
khí và lòng tin vào sức mạnh tiềm tàng của nhân dân ta sẽ làm nên chiến thắng (bản
dịch thơ trong sách ĐVSKTT):

Cối Kê chuyện cũ người nên nhớ
Hoan Diễn còn kia chục vạn quân.
Hai câu thơ trên đã đi vào lịch sử như một giá trị bất diệt trong sự nghiệp đánh
giặc Nguyên Mông năm 1285. Và, đời vẫn truyền tụng, sau đại thắng giặc xâm lược

28
Nguyên Mông lần thứ ba,1288, trong buổi lễ dâng tù binh mừng chiến thắng tại Chiêu
Lăng, nhân thấy chân những ngựa đá trong lăng lấm bùn, Ngài đã làm hai câu thơ bất
hủ: Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã/ Sơn hà thiên cổ điện kim âu, (bài Tức sự Tạ Ngọc
Liễn dịch thơ):

Xã tắc hai lần siêu ngựa đá
Non sông ngàn thuở vững âu vàng.
Trong lịch sử văn hóa, lịch sử tư tưởng Việt Nam, Trần Nhân Tông có một vị trí
rất quan trọng. Ngài là một triết gia lớn, một thi nhân tiêu biểu của nước Việt ta nửa
cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV. Thuở thiếu thời, khi còn theo học Thượng sĩ Tuệ
Trung, Trần Nhân Tông có hỏi Thượng sĩ về bổn phận tông chỉ thiền. Thượng sĩ Tuệ
Trung đáp rằng: ‘‘Gốc của bổn phận thiền là soi sáng lại chính mình, không từ bên
ngoài mà được...’’. Nghe qua, Ngài đã thông suốt. Sau hai lần lãnh đạo dân tộc đánh
thắng giặc Nguyên Mông, năm 35 tuổi Ngài nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông.
Năm 41 tuổi, Ngài xuất gia, vào núi Yên Tử tu hành, lấy hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà,
trở thành Tổ đầu tiên của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Và Ngài đã thực sự trở thành
người đứng đầu một trường phái triết học của người Việt ta, là Triết phái thiền Trúc
Lâm.
Với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử thời Trần, Phật giáo nước ta đã phát triển rực
rỡ, thể hiện đầy đủ trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, tạo nên một dấu ấn đặc sắc trong lịch
sử tư tưởng nước nhà, mà người khởi tạo là Trần Nhân Tông. Ngài đã kiến giải hầu hết
những vấn đề triết học mà Phật giáo dặt ra, như vấn đề tâm, Phật; vấn đề có, không;
vấn đề sống, chết... Trần Nhân Tông cũng là con người của thực tiễn, nắm bắt được quy
luật sinh tồn tự nhiên, nên đã rất chủ động, tâm huyết trong việc đào tạo thế hệ tiếp nối.
Một lần đến châu Nam Sách (thuộc Hải Dương ngày nay), Ngài đã thu nhận Đồng Kiên
Cương (1284 – 1330) làm học trò, đặt tên cho là Thiện Lai, năm sau lại ban cho pháp
hiệu là Pháp Loa. Pháp Loa trở thành một trí thức tiêu biểu của Thiền phái Trúc Lâm
Yên Tử, đã biên soạn những sách Phật học có giá trị lớn, như Tham thiền chỉ yếu, Phát
nguyện văn, và viết nên tác phẩm Đoạn sách lục nổi tiếng... Đến năm 1308, Trúc Lâm
Đại Đầu Đà đã truyền Pháp giới cho thiền sư Pháp Loa làm Tổ thứ hai của Thiền phái
Trúc Lâm Yên Tử. Một trường hợp đáng kể nữa là thiền sư Huyền Quang (1254 –
1334), sau là Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm. Ông tên thật là Trần Đạo Tái, người
vùng Gia Lương, Bắc Ninh ngày nay, năm 21 tuổi đã đi thi và đỗ đại khoa. Theo sách
Tam tổ hành trạng thì Trần Đạo Tái thi đỗ nhưng không chịu làm quan mà xin vua
Trần cho vào núi tu hành, pháp hiệu là Huyền Quang. Ông được Trần Nhân Tông rất
yêu mến, cho luôn ở bên mình để kèm cặp, rồi giao cho soạn một số sách về Phật học,
như Chư phẩm kinh, Công văn tập và Thích khoa giáo. Trần Nhân Tông từng thốt lên
lời khen: ‘‘Phàm các sách đã qua tay Huyền Quang biên khảo thì không thể thêm hay
bớt chữ nào’’. Dưới sự đào tạo của Trần Nhân Tông, Huyền Quang trở thành một trí
thức uyên bác của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, chứng nhập sâu xa đạo pháp, và là
một bậc thầy tâm huyết trong giảng dạy Thiền học, có hàng ngàn môn sinh. Năm 1317,
thiền sư Pháp Loa bị ốm nặng và đã truyền Pháp giới cho Huyền Quang làm Tổ thứ ba
của Thiền phái Trúc Lâm. Lịch sử văn học Việt Nam cũng ghi nhận Huyền Quang là
một thi nhân lớn thời Trần, để lại cho đời những bài thơ, câu thơ đẹp vào bậc nhất thi

29
ca Việt Nam xưa. Trong đó, có bài phú Vịnh chùa Hoa Yên bất hủ, viết về vùng phúc
địa Yên Tử.
Tư tưởng triết học của Trần Nhân Tông có một đặc điểm nổi bật, là tinh thần
thực tiễn và rất táo bạo. Theo sách Tam tổ thực lục, có một học trò hỏi Điều Ngự Nhân
Tông: ‘‘Như thế nào là Phật?’’ Ngài trả lời: ‘Như cám giã dưới cối’. Lại một lần, học
trò hỏi Trần Nhân Tông: ‘‘Lúc giết người không để mắt thì như thế nào?’’ Ngài đáp:
‘‘Khắp toàn thân là can đảm’’... Là anh hùng, là triết gia, Trần Nân Tông còn là một thi
nhân có tâm hồn phóng khoáng, rộng lớn. Ngoài vẻ đẹp tao nhã, thơ Trần Nhân Tông
còn phảng phất phong vị thiền, gợi mở cho người đọc thấy một thế giới cao khiết, đơn
cử bài Trăng;

Bên song đèn rạng, sách đầy giường.
Khí lạnh đêm thu đượm giọt sương.
Thức dậy tiếng chày đà lặng ngắt,
Trên chùm hoa mộc trăng lồng sương
(Theo Hoàng Việt thi tuyển – NXB Văn Hóa, 1958)

Là vua và là Sư tổ mà Trần Nhân Tông còn động tâm về tình cảnh những khuê
phụ cô đơn, ôm nỗi oán hờn nơi phòng khuê, nên đã viết bài Khuê oán (dịch nghĩa):
Tỉnh dậy, cuốn mành nhìn hoa hồng rụng/ Chim oanh vàng lặng tiếng oán gió đông/
Ngoài lầu Tây mặt trời dửng dưng lặn/ Hoa đầu cành đều ngả phía Đông. Là Sư tổ, là
vua, nhưng trong cõi lòng Ngài vẫn trầm sâu những suy tư thật trần đời, đơn cử bài
Mạn hứng ở sơn phòng II (dịch nghĩa): Niềm thị phi rụng theo hoa buổi sớm/ Lòng
danh lợi lạnh lẽo với trận mưa đêm/ Hoa rụng hết, mưa tạnh, núi non tịch mịch/ Một
tiếng chim kêu, lại cảnh xuân tàn. Còn khi viết về quê hương, xóm mạc, thơ Trần Nhân
Tông luôn chan chứa một tấm tình chân quê bình dị, sâu thẳm, bài Từ phủ Thiên
Trường nhìn ra là một ví dụ (Ngô Tất Tố dịch thơ):
Trước xóm, sau thôn tựa khói lồng,
Bóng chiều dường có lại dường không.
Sáo mục đồng ngân, trâu về hết,
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
Trần Nhân Tông qua đời năm 1308 tại am Ngọa Vân, núi Yên Tử, sách Tam tổ
hành trạng có ghi lại khá tỉ mỉ sự kiện này: ‘‘Sáng ngày 1 tháng 2 bỗng thấy đêm
quang, sao sáng, nhà vua chợt hỏi Bảo Sá: Bây giờ là giờ gì? Bảo Sá thưa: Bây giờ là
giờ tý. Nhà vua nghe, đoạn đưa tay mở cửa sổ, trông ra mà nói: Đây là giờ của ta. Bảo
Sá liền hỏi: Điều Ngự định đi nơi nào? Vua đáp: Nhất thiết pháp không sinh, nhất thiết
pháp không diệt. Nếu biết được thế, các Phật hiển hiện, còn có gì đi và đến? Nói dứt
lời, Ngài liền phủ phục như hình con sư tử và tắt thở ngay tại sơn am. Pháp Loa vâng
theo di chúc Ngài, kính mang ngọc hài hỏa táng, lấy được hơn nghìn viên xá lị mang về
triều. Vua Anh Tông, là con Ngài, đem một phần xá lị táng vào lăng Quy Đức, phủ
Hưng Long (năm 1310), còn một phần để trấn ở tháp vàng trên núi Yên Tử, và sửa sang
lại ngôi chùa trên núi, đặt tượng vàng Đức Điều ngự để thờ...’’
Đã bảy trăm năm qua, tên tuổi người anh hùng, triết gia, thi sĩ Trần Nhân Tông
vẫn in đậm trong ký ức dân tộc. Ông là một dấu mốc lớn trên tiến trình văn chương và
triết học Việt Nam!

tay-bac7

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com