bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
BÀI VIẾT MỚI
PHẢN HỒI MỚI

vũ nho 085 589 0003

CÁM ƠN NHÀ THƠ NGUYỄN ĐỨC BÌNH ĐÃ CỘNG TÁC! CHÚC ANH SỨC KHỎE, MAY MẮN!

 

NGUYỄN ĐỨC BÌNH - ĐT :0969781942

Xin trân trọng cám ơn BBT Trang TÁC PHẨM VÀ BẬN ĐỌC !

 

VŨ NHO 085 589 0003

NHÀ THƠ LỪNG DANH HỒI NÀONHƯ NHÀ NHIẾP ẢNH LỪNG DANHUNG DUNG ĐỘC HÀNH XE BUÝTCHẢ QUAN TÂM AI BIẾT HAY KHÔNG BIẾT!ẤY LÀ...PHẨM CHẤT...CÔNG DÂN!

 

VŨ NHO 085 589 0003

Gay cấn thật chứ không đùa!May mà chú đã là Đảng viên!Hồi hộp phết!

 

VŨ NHO 085 589 0003

THƯA CÙNG BÀ CON GẦN XAbÁC ĐINH Y VĂN NHÀ TALÀ DÂN GIA VIỄN VỐN LÀ ĐỒNG CHIÊMCHÚNG TÔI BỢI LỘI ĐÃ QUENVỀ MÔN CHÈO THUYỀN CHẲNG CHỊU KÉM AICHÈO TAY CŨNG ĐÃ KHÁ TÀICHÈO CHÂN ĐỘC ĐÁO CHẲNG AI SÁNH TÀY!

 

vũ nho 085 589 0003

CÁM ƠN BÁC ĐINH Y VĂN ĐÃ CÒM VỀ CHUYỆN ...TÔI CÒM ANH TÂN TÔI CÓ THÓI QUEN ĐỌC DẦN VÀ GHI CẢM TƯỞNG...NẾU CẦN PHẢI GHI CŨNG LÀ MỘT CÁCH BÁO ĐI RẰNG TÔI ĐÃ ĐỌC...VÀ GHI LỜI BÌNH!

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 42
Trong ngày: 156
Trong tuần: 1305
Lượt truy cập: 1717842

ANH CHI giới thiệu

           anh_chi_1

        

Nguyễn Phi Khanh, nhà thơ lớn của thời tao loạn
Ông tên thật là Nguyễn Ứng Long, mãi ngoài bốn mươi tuổi mới đổi thành
Nguyễn Phi Khanh. Nhưng, có một thực tế là, từ xưa đến nay, những thư tịch viết về
ông hầu hết đều ghi tên ông là Nguyễn Phi Khanh, nhất là trong những bộ sách kinh
điển, trong các giáo trình và từ điển. Vậy nên ở đây, chúng tôi viết là Nguyễn Phi
Khanh để bạn đọc tiện theo dõi.
Về năm sinh, năm mất của Nguyễn Phi Khanh lâu nay nhiều sách chép không
thống nhất. Trong sách Thơ văn Nguyễn Phi Khanh – NXB Văn Học ấn hành 1981, Bùi
Văn Nguyên và Đào Phương Bình tuyển dịch và giới thiệu, do có tham khảo các đại
diện nhiều chi họ Nguyễn Phi Khanh từ Cao Bằng, Vĩnh Phú… đến Thanh Hóa, nên
viết trong Lời giới thiệu: “Nguyễn Phi Khanh (1356 – 1408)…” Chúng tôi cho rằng, đó
còn là nghi vấn, bởi, sách Lịch huyện đăng khoa cùng gia phả họ Nguyễn ở Nhị Khê
đều ghi “Nguyễn Phi Khanh đỗ Thái học sinh khoa Giáp Dần 1374, niên hiệu Long
Khánh II đời Trần Duệ Tông...”. Năm thi đỗ, ông 20 tuổi, vậy là khớp với gia phả họ
Nguyễn ở Nhị Khê viết Nguyễn Phi Khanh sinh năm 1355. Tổ tiên ông người xã Chi
Ngại, huyện Phượng Nhỡn, trấn Kinh Bắc (nay là Chí Linh, tỉnh Hải Dương). Có thể tổ
phụ Nguyễn Phi Khanh về cư ngụ ở Nhị Khê rồi mới sinh ông, chí ít ông đã gắn bó với
làng quê này từ thời thơ ấu. Và rồi, khi vừa trưởng thành, ông đã lấy tên làng Nhị Khê
làm tên hiệu cho mình. Sách Các nhà khoa bảng Việt Nam cũng ghi “Nguyễn Phi
Khanh người xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc…”. Nhị Khê xưa thuộc huyện Thượng
Phúc, trấn Sơn Nam Thượng. Đến đời Minh Mạng (1820 – 1840) trấn được chia nhỏ ra
để lập tỉnh thì Nhị Khê thuộc Hà Nội. Đầu thế kỷ XX, Nhị Khê chuyển thuộc tỉnh Hà
Đông. Ngày nay, thôn Nhị Khê, xã Nhị Khê thuộc huyện Thường Tín, Thủ đô Hà Nội.
Thời thơ trẻ, Nguyễn Phi Khanh có theo học Trạng nguyên Hồ Tông Thốc làm
quan Thừa chỉ Hàn lâm viện ở Thăng Long, như bài thơ Dâng quan Thừa chỉ Hồ Tông
Thốc, Nguyễn Phi Khanh đã viết (Trần Lê Văn dịch thơ):
Mang cặp sách ở Kinh kỳ hai chục năm
Thường ân hận thiếu cái duyên đỗ đạt…
Không có duyên đỗ đạt sớm, nhưng từ tuổi trẻ Nguyễn Phi Khanh đã nổi tiếng
học rộng, tài cao. Bởi thế ông được Tư đồ Trần Nguyên Đán chọn làm kiểm chính, dạy
kèm cặp cho con gái trong nhà. Học trò của Nguyễn Phi Khanh là Trần Thị Thái. Cả
hai đang độ xuân xanh, nên quyến luyến nhau một cách tự nhiên. Thế rồi, Trần Thị
Thái có mang. Quá sợ, Nguyễn Phi Khanh bèn bỏ trốn. Nhưng thật may, quan Tư đồ dã
chủ động cho người đi tìm Phi Khanh về và đồng ý gả con gái cho chàng thư sinh bạch
diện. Cảm kích trước thịnh tình của bố vợ, Nguyễn Phi Khanh càng ra sức học hành.
Đến năm 1374, vừa hai mươi tuổi, ông đi thi và đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ). Nhưng khi
đó, thượng hoàng Trần Nghệ Tông vẫn giữ quan điểm rằng, bọn lấy vợ phú quý là kẻ
dưới phạm người trên, bỏ không dùng. Chỉ một lời phán “bỏ không dùng” của thượng
hoàng mà Nguyễn Phi Khanh phải lui về Nhị Khê sống 27 năm trời, làm nhà nho

31
nghèo, mở trường dạy học để nuôi thân và nuôi con. Và, ông còn có thơ, đơn cử đôi
câu trong bài Thú vui vườn cũ, (Trần Lê Văn dịch thơ):

Loạn xong, vườn cũ nhà xưa
Trẻ thơ sáu tuổi đã ưa sách rồi…
Theo học giả Phan Huy Chú (1782 – 1840) “trẻ thơ sáu tuổi” là Nguyễn Trãi.
Phan Huy Chú có viết cụ thể: “Người cha sinh ra Nguyễn Trãi là Phi Khanh thường
làm phòng đọc ở cái gò trong làng, dời nhà đến đấy ở. Rồi tại đây, sinh ra Nguyễn
Trãi…”. Cha, con Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi sống ở Nhị Khê. Còn bà Trần
Thị Thái, dẫu khi ở Thăng Long, lúc ở Côn Sơn, nhưng theo phép xưa, thuyền theo lái
gái theo chồng, hẳn có nhiều ngày tháng về sống ở Nhị Khê. Sau Nguyễn Trãi, ông, bà
có thêm bốn người con nữa là Nguuyễn Phi Bảo, Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Bằng và
Nguyễn Phi Hùng. Suốt 27 năm trời sống tại Nhị Khê, Nguuyễn Phi Khanh dồn tâm
sức vào việc dạy học, và những ưu tư, suy ngẫm về thời thế, ông trút cả vào thơ. Tập
Nhị Khê thi tập của ông, viết từ những năm còn trẻ đến lúc “cảnh già đã xồng xộc tới”,
ghi lại chân thực thân phận ông với những vất vả long đong mấy chục năm trường. Bài
Sống nơi thôn xóm phác họa nơi Nguyễn Phi Khanh dạy học (Trần Lê Văn dịch):

Vài gian nhà học khuất trong lau lách
Cỏ ao, vườn rừng vào giấc mộng thơ
Sương phủ mái nhà trĩu nặng…
Xúc cảm thơ Nguyễn Phi Khanh thật sâu và rất trần đời, ý tứ mạnh bạo thể hiện
đời sống đầy biến động đương thời, dân tình khổ sở liêu siêu vì giặc Chiêm Thành đến
quấy phá, vì loạn Dương Nhật Lễ và do thiên tai, mất mùa … Bài Vào núi tránh giặc
cướp, những câu thơ tả thực, đọc thấy đau nhói:
Mẹ già sáu mươi tuổi, cách xa ngàn dặm
Một thân một mình loạn lạc hai năm trời…
Những câu chữ trong bài Nỗi xúc động vì việc ở quê xin gửi trình Băng Hồ tướng
công như vẽ nên một bức tranh đời sống ngột ngạt (bản dịch của Tạ Ngọc Liễn): Ruộng
nương nghìn dặm đỏ như lửa cháy/ Làng quê than vãn không biết cậy trông ai… Bằng
bút pháp của bậc đại gia, ngôn ngữ thơ Nguyễn Phi Khanh vừa cao sang vừa thực đời:
Lưới tham quan vét vơ cùng kiệt/ Sinh mạng dân như dầu mỡ tiêu hao. Với một tâm
hồn lớn, sống và viết trong một xã hội đầy tao loạn, những câu thơ Nguyễn Phi Khanh
nhiều khi đau đớn đến thảng thốt (bài Đêm thu, Đào Phương Bình dịch): Sầu mới hận
xưa khó mà dẹp yên/ Mối tình nam bắc chiêm bao cũng thấy sợ! Đó là thơ được tạo nên
bởi nỗi đau khổ của một trí tuệ lớn trong trạng huống bị bất lực trước đời sống đầy tai
ương. Còn bài Cảm xúc buổi sớm thu, thấy đời nhiều xô dạt mà thân phận nhà thơ thật
cô lẻ (Tạ Ngọc Liễn dịch thơ):

Khách buồn tỉnh giấc nằm ôm gối,
Lòng nghĩ, ngồi im, đốt nén hương.
Sân trước quét sầu trông lá rụng
Bên trời ứa lệ đếm chim hồng…
Hơn bảy trăm năm trước mà cái tôi trữ tình của bậc đại nho Nguyễn Phi Khanh
sâu sắc và mạnh mẽ đáng kinh ngạc. Có thể nói, trong các nhà thơ thời Trần - Hồ,
Nguyễn Phi Khanh là một thi nhân ôm trong lòng nhiều trăn trở, day dứt và khổ buồn

32
nhất. Đã có lúc, ông muốn dứt bỏ đi (Tạ Ngọc liễn dịch): Ba mươi năm trót vướng vào
cái hư danh ở đời/ Thôi trở về quê nhà cho quên hết chuyện thị phi (bài Cảm hứng ở
xóm núi). Nhưng đâu có thể dứt bỏ được, khổ buồn và lo nghĩ vẫn bám riết lấy ông,
(bài Mùa thu bị ốm, Tạ Ngọc Liễn dịch):

Muôn việc trái ngang, đêm dằng dặc
Ngậm sầu, trăn trở đếm canh tàn!…
Thời Trần - Hồ, hiếm thấy những thi nhân nặng lòng với việc của dân của nước
như Nguyễn Phi Khanh, đến mức những câu thơ trong bài Đáp lại vần thơ Xuân rét của
Thái học sinh Đạo Khê, nỗi thương cảm của ông đối với người dân như là tình ruột thịt
(Tạ Ngọc Liễn dịch nghĩa): Xót thương muôn dân đều là đồng bào của ta/ Dưới những
mái nhà chen chúc bao khuôn mặt cóng lạnh… Dường như, số phận riêng của nhà thơ
hòa đồng với thân phận của đại đa số dân chúng, nên mới có được thơ như vậy!
Những năm tháng Nguyễn Phi Khanh sống và viết Nhị Khê thi tập, vương triều
Trần đang suy tàn. Quyền bính trong triều đình rơi vào tay Hồ Quý Ly, nhân vật đại
diện cho thế lực chính trị mới đang lên. Người đương thời có ý kỳ vọng ở Hồ Quý Ly.
Đời sống xã hội đầy biến động. Con đường số phận Nguyễn Phi Khanh cũng vập vào
những biến cố thật lớn, thật đau lòng. Bà Trần Thị Thái theo bố về ở Côn Sơn, mang
theo mấy đứa con, càng trở nên cách biệt với ông. Tới đận này, Nguyễn Phi Khanh đã
sống cùng người thiếp họ Nhữ và sinh được hai con trai là Nguyễn Nhữ Soạn và
Nguyễn Nhữ Thạch(1). Bởi vậy, tình thơ của ông có phần ngậm ngùi hơn (bài Cắm
thuyền tại lăng nhà Nguyễn, Đào Phương Bình dịch): Ngậm ngùi thay cuộc trăm năm/
Quay lưng bóng xế thơ ngâm một mình. Và, sự đời ngổn ngang cũng nhiều hơn trong
tâm trí ông (bài Sáng mồng một tháng Ba thức dậy, Đào Phương Bình dịch):

Chín khiếu bảy tình, thân một tấm
Trăm lo ngàn nghĩ, việc muôn bề…
Biến cố vẫn dồn thêm vào tấm thân Nguyễn Phi Khanh: Bà Trần Thị Thái qua
đời. Rồi đến năm 1390, bố vợ ông là Trần Nguyên Đán cũng qua đời. Và rồi nhà Hồ
thay thế nhà Trần, Nguyễn Phi Khanh được Hồ Quý Ly dùng làm Học sĩ Viện hàn lâm
kiêm chức Tư nghiệp Trường quốc tử giám. Khi đó ông mới 46 tuổi. Đến năm 1407,
cuộc kháng chiến chống xâm lược Minh của nhà Hồ thất bại, Nguyễn Phi Khanh cùng
nhiều người khác bị giặc bắt đưa sang Trung Quốc. Năm đó ông 53 tuổi. Đây là cuộc
chia ly đau thương nhất, bị dứt khỏi quê hương đất nước, xa lìa các con. Trong cuộc
chia ly bi tráng này, Nguyễn Trãi có theo cha lên đến Mục Nam Quan thì Nguyễn Phi
Khanh bắt con quay về tìm cách báo thù nhà, đền nợ nước. Việc Nguyễn Trãi sau này
gia nhập nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi khởi xướng, rồi trở thành danh nhân văn hóa
thế giới, anh hùng giải phóng dân tộc, được người đời coi là một việc làm nối chí người
cha. Và, trong các con trai của Nguyễn Phi Khanh gia nhập nghĩa quân Lam Sơn ngay
từ những ngày đầu để báo thù nhà đền nợ nước, không chỉ mỗi Nguyễn Trãi, mà còn có
cả Nguyễn Nhữ Soạn(2)!
Về Nguyễn Phi Khanh, ông sống tiếp hai mươi năm nơi đất khách quê người và
qua đời năm 73 tuổi. Chúng tôi nghĩ, một thi nhân giàu lòng yêu nước, thương dân và
tâm hồn chất chứa thật nhiều sự đời như ông, những năm cuối đời chắc lại càng đau
buồn, lại tiếp tục thổ lộ qua thơ văn… Nhưng, cơ hội tiếp cận thơ, văn Nguyễn Phi

33
Khanh viết nơi xa xứ đối với chúng ta hôm nay là vô cùng mong manh. Bởi, ngay cả
tác phẩm Nhị Khê thi tập của ông cũng từng bị thất lạc mất! May mà sau hơn bốn thế
kỷ, có Dương Bá Cung (1795 – 1868) cũng là người Nhị Khê, đã cất công sưu tập, chép
lại 77 bài, nên còn có được Nguyên Phi Khanh thi văn(3) cùng Bài ký động Thanh Hư
Nguyễn Phi Khanh viết năm 1384, là áng văn rất nổi tiếng trong văn học sử Việt Nam
ta!
Lẽ đời thật sâu xa, lòng thương yêu quê hương, đất nước và tư tưởng nhân bản
của Nguyễn Phi Khanh cũng như tài văn chương đầy cá tính của ông đã để lại dấu ấn
rất rõ nơi tâm hồn và tư tưởng các con ông, đặc biệt là ở Thi hào Nguuyễn Trãi. Bởi,
đối với những bậc hiền tài thực sự, gian nan và khổ đau chỉ làm chí khí lớn hơn, tâm
hồn cao cả hơn, như Nguyễn Trãi đã viết (Trần Lê Văn dịch thơ):

Nước càng dồn đến, bể càng cả
Đất một chồng thêm, núi một cao...

Thanh Am 2022
A.C

…………..
Chú thích:
(1) và (2): Theo cuốn Nguyễn gia gia phả (gia phả dòng họ Nguyễn Nhữ Soạn), hiện được lưu
giữ tại Viện Hán Nôm. Sách này có đoạn: “Lê Thái Tổ cao hoàng đế khởi nghĩa ở núi Chí Linh, tổ ta
(Nguyễn Nhữ Soạn) với Ngô Sĩ Liên (sử gia lớn, tác giả chính yếu bộ Đại Việt sử ký toàn thư) cùng
làm thư ký ở Lam Sơn…”. Sách Nguyễn gia gia phả còn ghi cụ thể: Nguyễn Nhữ Soạn cùng Ngô Sĩ
Liên viết sách Lam Sơn thực lục (một pho sử rất quan trọng và chuẩn mực mà chính Lê Thái Tổ trực
tiếp viết bài tựa, ký là Lam Sơn Động chủ).
(3): In trong quyển II, bộ sách Ức Trai di tập.

tay-bac7

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com