
Thơ Hàn Dũ (trung Đường TQ)
48. Nguyên tác: Phiên âm Hán - Việt:
聽穎師彈琴 THÍNH DĨNH SƯ ĐÀN CẦM
韓愈 (768-824) Hàn Dũ (768-824)
昵昵兒女語, Nật nật nhi nữ ngữ:
恩怨相爾汝。 Ân oán tương nhĩ nhữ.
劃然變軒昂, Hoạch nhiên biến hiên ngang,
勇士赴敵場。 Dũng sĩ phó địch trường.
浮雲柳絮無根蒂,Phù vân liễu nhứ vô căn đế,
天地闊遠隨飛揚。Thiên địa khoát viễn tuỳ phi dương.
喧啾百鳥群, Huyên thu bách điểu quần,
忽見孤鳳凰。 Hốt kiến cô phụng hoàng.
躋攀分寸不可上,Tê phan phân thốn bất khả thướng,
失勢一落千丈強。Thất thế nhất lạc thiên trượng cường.
嗟余有兩耳, Ta dư hữu lưỡng nhĩ,
未省聽絲篁。 Vị tỉnh thính ti hoàng.
自聞穎師彈, Tự văn Dĩnh sư đàn,
起坐在一旁。 Khởi toạ tại nhất bàng.
推手遽止之, Thôi thủ cự chỉ chi,
濕衣淚滂滂。 Thấp y lệ bàng bàng.
穎乎爾誠能, Dĩnh hồ nhĩ thành năng,
無以冰炭置我腸。Vô dĩ băng thán trí ngã trường.
NGHE SƯ THẦY DĨNH ĐÁNH ĐÀN TRANH
Thì thầm như những lời tình tự của lũ trẻ,
Điều ân huệ và mối hận thù luôn đan xen vào nhau.
Âm thanh bỗng nhiên chuyển biến,
Cứ như dũng sĩ xông ra chiến trường.
Lại tựa mây bay, như nhành liễu phất phơ không gốc rễ,
Tự do bay lượn giữa trời đất bao la.
Như trăm loài chim ríu rít,
Bỗng nhiên chỉ thấy con chim phượng cô đơn.
Tiếng đàn không thể lên cao tới cực đỉnh,
Bỗng mất đà rơi xuống từ ngàn trượng.
Tiếc rằng ta chỉ có đôi tai,
Chưa hiểu hết tiếng tơ tiếng trúc.(tiếng đàn, tiếng sáo)
Nay được nghe sư thầy Dĩnh tấu đàn,
Ta có cảm xúc, hết đứng lại ngồi.
Vội đưa tay ra dấu xin ngừng lại,
Nước mắt tuôn rơi ướt sũng áo khăn.
Thầy Dĩnh ôi! Tài nghệ tấu đàn của thầy quá tuyệt vời,
Xin đừng gieo băng giá, tro nóng vào lòng ta nữa.
NGHE SƯ THẦY DĨNH ĐÁNH ĐÀN TRANH
Tiếng bỗng nhiên chuyển đổi,
Bổng như mây, thướt tha tựa liễu,
Giữa đất trời tùy ý lượn bay.
Muốn vút lên mà sao không thể?
Bỗng mất đà ngàn trượng rơi ngay.
Đã gieo băng bỏ lửa lòng tôi!
*) Dĩnh sư là thầy tăng người nước Thiên Trúc tới Trung Quốc tấu đàn cầm trong niên hiệu Nguyên Hoà (806-820) đời Đường Hiến Tông. Thiên Trúc đời Đường là dịch âm nước cổ Ten-Jiku, nay trong nước Nê-pan, phía đông bắc Ấn Độ.