“Chúng bắn người đàn ông trước. Những người đàn bà chúng để sau. Anh chết ngay trong phát đạn đầu. Óc vọt ra, máu loang vạt áo sơ mi. Người vợ bị chúng chỉ mặt, kéo ra, lôi đi. Sóng biển như gầm thét, máu và… máu”
Trên đây là trích đoạn từ “Lửa trên thuyền” trong tiểu thuyết “Thuyền” của nhà văn Nguyễn Đức Tùng. Anh hiện định cư ở Canada, vốn là bác sĩ. Cách đây gần nửa thế kỷ, anh vượt biển tìm miền đất mới. Cuốn sách được xuất bản và phát hành chính thống, bởi Nhà Xuất bản Phụ nữ. Một cánh cửa mở ra cho hy vọng…
Được kể bởi ngôi thứ nhất, điểm nhìn của người trong cuộc, “Thuyền” là câu chuyện bi thương của hành trình vượt biên, mà Liên Hương và nhân vật “tôi” xuyên suốt tác phẩm. Trong biến động thời cuộc, người phụ nữ và trẻ em là những đối tượng dễ bị tổn thương và đau đớn nhất. “Thuyền” trở thành từ khóa cho đề tài ấy. Khi gõ vào đó sẽ hiện lên rất nhiều tình thế, trạng thái của tâm lý, của cảm xúc: Trốn chạy, sợ hãi, đói khát, thất lạc, cướp biển, hãm hiếp, tự tử, hy vọng, tự do…Vì thế, “thuyền nhân”, cái từ ấy đồng nghĩa với chấn thương tâm lý, một vết hằn sâu trong ký ức. Nhiều chi tiết nếu đọc trong đêm sẽ không thể nào ngủ được. Câu chuyện “Thủy táng” đứa bé trong hoàng hôn, câu chuyện về người cha nhảy xuống biển để vớt chiếc dép nhựa cho con, bị cá mập cắn lôi đi, để lại một vệt máu loang dài trên sóng, câu chuyện về những người phụ nữ vượt biển không thành, họ bị đưa đẩy vào các khu đèn đỏ của các nước Đông Nam Á, họ bị mất hút vào hố đen số phận… “Kể lại sự thật đau thương không phải là một lựa chọn dễ dàng”.
Tiểu thuyết trở về từ dòng chảy của văn chương hải ngoại. Trong tinh thần hòa hợp, đó là một bộ phận của văn học dân tộc. Đọc “Thuyền”, tôi chợt nhớ câu thơ của Du Tử Lê: “Nếu tôi chết, hãy đưa tôi ra biển”.
Sự im lặng của thời gian bị đập vỡ bởi những con sóng đến từ ký ức. Từ dã man đến văn minh, trong tiến trình lịch sử ấy, thân phận/ số phận con người vẫn không hết mong manh, lưu lạc. Đau thương, ám ảnh, nhưng “Thuyền” không hề có cái nhìn hằn học, hận thù, văn chương vì thế trở nên thiên lương cao cả. Bộ lọc của văn hóa coi trọng giá trị nhân bản và bản lĩnh người cầm bút giúp “Thuyền” chở được ánh sáng của tâm hồn, thanh lọc và chỉ đường để đi về phía trước. “Viết lại cái chết làm cho chúng chiếu sáng trên khuôn mặt những người chưa kịp sống”.
Hư cấu và phi hư cấu, nhưng sự thật cần được gọi đúng tên. Đâu đó cho rằng, để hướng tới tương lai, nên bắt đầu, nên ngoái lại từ những gì tốt đẹp, từ sự hoan hỉ. Nhưng với một dân tộc “chỉ riêng khổ đau là hoành tráng”, thì chớ nên ngăn nước mắt lại. Hãy để cho họ được khóc, dù chỉ một lần thôi, nước mắt của lịch sử, của ký ức, nước mắt sẽ tẩy trùng, sẽ làm sạch những tì vết trên gương mặt của sự thật. Máu sẽ tự khô trong tình tự dân tộc. Trên sóng biển, nhà văn chợt nhận ra “nước biển chính là những giọt lệ”, trong đó có mẹ mình, nói như Xuân Diệu “trái đất ba phần tư nước mắt/ đi như giọt lệ giữa không trung”.
Hiện hữu và ký ức, kỷ niệm cứ đan cài, xoắn xít trong nhau, dệt nên bức tranh đồng hiện. Thời gian không mất đi, nó vẫn đồng hành và “chúng ta nhìn mọi vật rõ hơn qua làn nước mắt”. Khi trôi nổi giữa sinh tử trên biển, tác giả thường nghĩ/ nhớ đến mẹ, đến những người phụ nữ. Và xứ sở lại hiện về trong những trang viết như sương khói cổ tích thật đẹp và cảm động: “Bà kể rằng, thỉnh thoảng vẫn nhìn thấy bạn bè ngày trước gặp nhau trên bến đò. Trên chiếc đòn gánh, họ ngồi vây quanh mẹ tôi. Họ ngồi như thế từ tờ mờ sáng, không có con đò nào cập bến. Người lái đò đi đâu mất. Họ ngồi đó suốt ngày suốt đêm, trở thành những cây liễu bên sông. Mỗi khi trăng lên, trăng lặn, mặt trời mọc, họ ngẩng đầu, hất mái tóc ra xa… như những sợi tơ trời”.
Tiểu thuyết gồm rất nhiều những tiểu tự sự, những câu chuyện nhỏ: Biển động, cơn sốt, chim biển, chiếc dép, mái tóc, đường về… Đó là những mảnh vỡ của ký ức, của thân phận. “Thuyền chết máy, cánh buồm kết lại bằng sơ mi, váy phụ nữ, khăn quàng, rách tơi tả…”. Ước mơ tự do hóa thành cái lông vũ của cánh chim trời, mà một thuyền nhân luôn mang bên mình, “anh để nó trong túi áo ngực, phập phồng, ấm, nồng nàn, trên trái tim đập loạn nhịp”. Dẫu đã gần nửa thế kỷ, nhưng người cầm bút vẫn như đang sống và viết trên mặt nước bồng bềnh của ký ức, “đôi khi như từ chân sóng nhìn lên”. Nhiều khi hư và thực, liêu trai và mộng mị đã tạo ra một văn phong khá đa dạng và biến hóa: “Trong giấc ngủ có tiếng động rì rào, tiếng di chuyển của thế giới loài người…Một người cầm đèn đi trong bóng tối, người ấy đánh thức tôi, cầm lấy tay tôi dẫn qua những ngổn ngang người… Nhiều năm sau tôi tỉnh dậy một lần nữa”. Trong đêm tối, trong những chuyển động lớn của con người rất cần có người cầm đèn.
Bên cạnh những trang gió dữ dội như những ngọn sóng ập đến, lại hiện lên ngày biển lặng dành cho suy tưởng, suy tư, thấm đẫm trữ tình và đầy chất thơ. “Khuôn mặt em trong khoảng tối mờ như một tiếng chuông”. Thi ảnh thật mê dụ. Tôi nhớ mãi gương mặt ấy, gương mặt chỉ còn lại trong tiếng vọng từ phía đại dương… Không theo tuyến tính thời gian, “Thuyền” không ít lần rẽ ngang bởi những đoạn trữ tình ngoại đề. Giao diện mở ra những khoảng trống của trần thuật. Triết luận mà tinh tế. Trí tuệ và cảm xúc. Tác phẩm là diễn ngôn mở, không đóng khung các đường biên, không phán xét, không chú trọng nói về nguyên nhân tại sao họ phải ra đi. “Sống để kể lại”, để đồng bào mình cùng tham gia vào câu chuyện. Tất cả rồi sẽ nguôi ngoai, chỉ hiện lên, chỉ còn lại máu đỏ da vàng. Cuốn tiểu thuyết giúp chúng ta, những người đang sống thấy và hiểu cả khoảng mờ, phần khuất lấp của lịch sử. Không chỉ là ký ức cá nhân, đó còn là ký ức dân tộc. “Muốn biết tương lai hãy lắng nghe tiếng thì thầm của quá khứ”.
“Người sống sót tiếp tục kể lại câu chuyện của họ. Người anh hùng tiếp tục im lặng, trầm tư bên tách trà bốc trà. Những kẻ tranh cãi vẫn tiếp tục tranh cãi. Trăng lên, con chim về muộn, hót lần cuối cùng trước khi chọn chỗ ngủ trên nhành cây gió thổi”.
Đêm đã khuya, trang cuối đã gập lại, tôi vẫn nghe thấy sóng đâu đây. Xin gửi tặng anh bài thơ “Với biển”, như lời cảm ơn tác giả Nguyễn Đức Tùng, bởi anh đã đến từ một con thuyền chở đầy ký ức:
Bên mảnh vỡ
bao hiện vật trở về từ chân sóng
mảnh bể dâu in bóng những con thuyền