bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
BÀI VIẾT MỚI
PHẢN HỒI MỚI

VŨ NHO 085 589 0003

CÁM ƠN ANH NGUYỄN BÁ CƯỜNG!ĐÂY COI NHƯ CUỘC TRAO ĐỔI HỌC THUẬT XUYÊN BIÊN GIỚI CỦA NHỮNG NGƯỜI LÀM NGHIÊN CỨU!GS TRẦN ÍCH NGUYÊN LÀ NGƯỜI CÓ NHIỀU CÔNG SỨC CHO VĂN HỌC VIỆT NAM!

 

Đinh Y Văn

Cảm ơn Tổng biên tập! Tôi không chủ ý “vịnh mùa thu” mà chỉ mạo muội “vịnh”…bác Nguyễn Khôi. Giữa thực trạng dường như không “còn khoảnh trời nào để cho thơ”, bác Nguyễn Khôi vẫn có “Thu Hà Nội 2026”!

 

vũ nho 085 589 0003

Hai bác cao tuổi vịnh mùa thu Bác khôi thấy nóng, bụi bay mù Bác Y Văn lại thấy trời man mát Hai bác khác mà CHUNG nét THU!

 

Đinh Y Văn

Kính bác Nguyễn Khôi: THU NGUYỄN KHÔI 2026/ Hà Nội cuối thu vẫn đợi thu/ Mặc cho nắng nóng, bụi toang mù/ Lớp lớp cao tầng ngoi lên thở/ Nguyễn Khôi vẫn thấy khoảnh trời Thơ! ĐYV

 

VŨ NHO 085 589 0003

VŨ NHO ĐƯỢC BIẾT LÊ THU PHƯƠNG QUỲNH LÀ CON GÁI CỦA TS PHẠM THU PHƯƠNG, THỨ NỮ CỦA THẦY PHẠM LUẬN, MỘT CHUYÊN GIA HÀNG ĐẦU VỀ  VĂN HỌC TRUNG ĐẠI TỪNG CÔNG TÁC TẠI ĐHSP HÀ NỘI VÀ ĐHSP VIỆT BẮC. RẤ...

 

VŨ NHO 085 589 0003

CÂU CHUYỆN THẬT CẢM ĐỘNG VỀ CỤ BÙI DUY TÂN!TÔI CÓ DUYÊN ĐỌC CUỐN "VĂN KHOA CHÂN DUNG KÍ" CỦA NHÀ VĂN HỮU ĐẠT, ANH ĐẠT KỂ CỤ TÂN CÓ SÁNG KIẾN "ĐỔ NƯỚC MỘNG GIƯỜNG".  SAU NÀY CÁC CON CỤ MUA NHÀ CHO...

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 23
Trong ngày: 326
Trong tuần: 1725
Lượt truy cập: 2048725

HOÀNG LIÊN SƠN giới thiệu

 Hoàng Liên Sơn và

 

 

THEO LỐI BÒNG BONG

(Về tập thơ Bởi vì mây vẫn trắng của Nguyễn Đức Hạnh)

 

Nguyễn Đức Hạnh đã có cái tên tập thơ rất khiêu khích Bởi vì mấy vẫn trắng. Và câu

thơ mà từ đó cái tiêu đề này đi ra còn khiêu khích hơn:

 

“Mây vẫn trắng bởi vì mây vẫn trắng”- Bởi vì mây vẫn trắng

Ý là chúng ta sẽ chỉ có thể cảm thấy thơ Hạnh hay, còn cụ thể là hay ở đâu và hay như

thế nào, Hạnh thách chúng ta giải mã gọi tên ra, hoặc có được thì cũng tầm “mây vẫn trắng bởi

vì hôm nay trời vẫn cao trong và gió nhẹ như mùa thu năm nào” là cùng.

Và cứ theo thế mà suy, việc tập thơ không phân chia cấu trúc rõ ràng, không ghi năm

sáng tác dưới mỗi bài thơ cũng là cách tạo thêm chút chướng ngại trên hành trình giải mã của

bạn đọc?

Sinh ra và lớn lên ở tỉnh miền núi Tuyên Quang, Nguyễn Đức Hạnh sở hữu nhiều bài

thơ đại cảnh: Sông Lô, Bức tranh Tam Đảo…. Có những đại cảnh đơn thuần là vẽ đẹp như:

 

“ngựa khua ròn bước miền sông Chảy

ruộng bậc thang nghiêng những nếp chiều”

Nhưng phần lớn là trong cảnh có tích hợp tình:

“bây giờ phiên chợ tan nhanh lắm

Như là em đã biết làm dâu” – Một chút chiều sông Chảy

Người thơ cảm nhận tự tin và sâu sát như một người… đi chợ chuyên nghiệp vậy!

Hạnh có nhiều câu thơ viết vừa hay vừa rành mạch, chính xác:

“không phải nắng cuối mùa sao đã nhạt” – Bài ca xứ sở

“một người đi dang dở mấy khung trời” – Bởi vì mây vẫn trắng

Tả cảnh:

“lắt nhắt sẻ nâu như bóng những đồng tiền” – Vỏ trấu

“tã sương chiều

êm ả cay cay” – Ngày xưa

Tả tình yêu rất ngắn mà rất kỹ:

“biền biệt yêu nhau ngày em khóc” – Tuyên Quang

 

2

 

Cách ví von rất lạ:

“đôi mắt ướt đẹp như mùa thổ cẩm” – Bức tranh Tam Đảo

Hai khái niệm tưởng như chẳng ăn nhập, chẳng liên quan gì để có thể ví von so sánh với

nhau!

Tuy nhiên, thành tựu của Hạnh đã vượt xa những cái hay cái đẹp kiểu này. Tôi sẽ đi vào

chi tiết cái “vượt xa” ấy ở phần sau.

* * *

 

Vốn dân học giỏi toán, nhưng lên phổ thông trung học chàng lại quyết chuyển sang văn

và thi vào khoa văn Đại học Tổng hợp (nay gọi là Đại học khoa học xã hội và nhân văn) với

tham vọng “cứu nhân loại”. Và tham vọng này đã bị dội một gáo nước lạnh khi thấy những cái

ghế băng làm bằng gỗ xẻ của giảng đường không có chỗ tựa lưng!

Không cứu được nhân loại thì chàng chuyển sang một mục tiêu khả dĩ hơn là cứu tình

yêu và tâm hồn. Nhưng xem ra ít tâm hồn cần chàng cứu thế nào đó nên thơ tình của chàng u

ám một cách tuyệt vọng và chết chóc:

 

“cho anh xin khâm liệm những thư tình” – Lời vĩnh biệt

“em có biết lá hoàng hôn bạc mệnh”- Những buồn xưa nông nổi

“tôi nằm xác dưới cơn mưa bụi đời”- Gửi….

“anh vuốt mắt cho niềm vui cuối cùng” – Mặc cảm

Tuy nhiên chính điều đó cùng với tài năng lại tạo ra những câu thơ cực kỳ độc đáo, cũng

có thể “đóng dấu bản quyền” bởi dường như là cây bút đầu tiên lựa chọn cách diễn đạt này

trong thơ tình.

Ngôn ngữ “chết chóc” hiện diện cả ở ngoài vùng thơ yêu:

“nhìn con cuốc rũ xương

chơm chớm biết mình sẽ khổ” – Ngày xưa

“mùa đã chết trong chùm cây vắng quả” – Có một mùa hè

Và phải mãi sau này khi là sự chết (kiểu tả thực) thì mới được đề cập đến một cách thân

thương và ấm áp:

 

“xin nguyện ước thanh bình như kiếp cỏ

như mai sau một nắm đất miền đồi” – Bài ca xứ sở

 

3

Hạnh trở lại với tình yêu “không bao giờ bị phản bội” của mình, yêu quê vật vã:

“con đi rứt lòng sỏi đá

cơn mưa dột từ rừng cọ

mẹ thương con còm cõi nụ chè” – Tuyên Quang

Tình vỡ đem đến buồn đau (tất nhiên rồi), nhưng cũng đem đến cả sự giác ngộ cho

chàng trẻ tuổi trong bài Thì tôi ở lại:

 

“thời gian ngọn bấc tôi lừa cả tôi”

Vừa nhận ra thế nhưng chàng lại vẫn tiếp tục tự lừa mình như sau:

“ai dìu nhau đến mùa thương

vẫn còn tấm tức con đường ngày xưa”

Chắc cũng có tí chút gọi là “gái nhớ tình xưa” chứ “tấm tức” thì hơi hiếm.

Nhưng dù tự lừa, chàng mô tả trạng thái tình yêu vẫn rất độc đáo:

 

“bây giờ vất vưởng tình yêu”

“bây giờ em bỏ đi đâu

để tôi nheo nhóc những câu thơ tình

bây giờ tôi chỉ một mình

trái tim bé quá chả dành cho ai”

Những chữ vất vưởng, nheo nhóc, trái tim bé quá quả là thần tự, và góp phần tạo nên

một bài thơ toàn bích, ít cay nghiệt nhiều thiết tha, luôn nằm trong top những bài thơ hay nhất

của anh.

 

* * *

 

Sau cơn bạo bệnh tình si, trái tim sục sôi của chàng có phần hạ nhiệt, đằm thắm hơn,

nhưng lại bòng bong ngay từ trong đơn vị câu thơ:

 

“em mười lăm tít tắp tuổi học trò” – Bởi vì mây vẫn trắng

Tôi tưởng từ tít tắp thường để bổ nghĩa cho một danh từ chỉ không gian chứ không phải

thời gian?

 

4

 

Rồi:

“đến bây giờ bờ cát đã xanh xao” – Bài ca xứ sở

Tả bờ cát gì mà như tả người vậy?

Hoặc bòng bong trong định hướng yêu thương, lúc bi quan với sự hời hợt:

“thấm gì một chút mưa giông

rồi ra như thể nặng lòng mai sau” – Gửi người ở xứ đồng Chằm

Khi lại tỏ ra nhút nhát:

“ta sợ bài ca bén lửa

hát cho nhau dai dẳng suốt cuộc đời” – Sông Lô

May mà rút cục cũng có lúc đoan quyết, nghĩa là đã ra cái mối của mớ bòng bong:

“bụi xuân lắc rắc sang nhau

mắt ai vừa nhói dao cau Thuận Thành” – Dao cau Thuận Thành

Vẻ đằm thắm của chàng trội thêm, khi hồi nhớ tình áo trắng:

“mảnh mai em một bóng hình thơ nhỏ

nón trắng về đâu

thơ thẩn một vòm trời” – Với em ngày cũ

Thuở yêu mà tay không biết làm gì hơn ngoài cầm cỏ:

“bông cỏ biếc lòng tay vụng dại” – Với em ngày cũ

Hoặc câm nín vụng về:

“một hôm anh chẳng biết nói gì

đành lóng ngóng tìm cái mình chưa mất

đành im lặng sợ một điều chân thật

rồi chợt mơ về chiếc lá cuối đông rơi” – Chim chích

Cái câu cuối của khổ thơ này lại tô đậm thêm lý lịch “bòng bong” của chàng!

Mà thực ra, khi bảo “bòng bong” không có nghĩa là tôi đánh giá thấp tư duy thơ của

chàng, nó là đặc điểm chứ không phải nhược điểm. Và đôi khi chất bòng bong ấy lại tạo ra

những “thần cú”, chẳng hạn trong những câu thơ sau, thuộc kiểu cấu trúc thường gặp trong thơ

Nguyễn Đức Hạnh.

 

5

 

“cứ như người nhẹ dạ đến thiêng liêng” – Bởi vì mây vẫn trắng

“em xinh đến độ ngày xưa ngại ngùng” – Gửi người ở xứ Đồng Chằm

“mơ hồ sương khói đến day dưa” – Một chút chiều sông Chảy

“suối môi em quyến rũ đến bạc tình” – Viên đạn thẳng vào tim

Nhưng không đóng dấu bản quyền của Hạnh cấu trúc này được vì có “hoa cuối mùa sặc

sỡ đến lo âu” ra trước mất rồi.

Hoặc khiến chúng ta tiếp tục hoang mang:

“anh tin đời xa xót ở bàn tay” – Lời vĩnh biệt

Niềm tin sao lại nằm ở bàn tay hay liên quan đến bàn tay? Và tôi lại nhớ có lần nhà thơ

(văn) quá cố Bùi Hứa Hiệp nói: “văn xuôi càng đúng ngữ pháp càng tốt, thơ càng sai ngữ pháp

càng tốt”.

Tương tự, có các câu:

“lỡ miệng đong đầy chai” – Và thơ và rượu…

Tôi tưởng phải là lỡ tay?

“thôi đừng nhắc anh về tưởng niệm

Tiền Hải chiều nay cổ kính sương mờ” – Tiền Hải

Hình như người ta thường chỉ dùng từ tưởng niệm khi dành cho người đã … đi xa?

Tôi đã từng nghĩ lối cấu trúc đều đặn mỗi khổ bốn câu rất phổ biến trong tập thơ tạo cảm

giác thơ anh về hình thức như thể thơ thời sinh viên nối dài. Và cách mà các địa danh cụ thể lần

lượt được gọi tên cũng khiến tôi cảm thấy như dòng thơ dư địa chí, tức cảnh sinh tình vậy.

Tuy nhiên khi đã thấm cái chất bòng bong của anh, tôi hiểu rằng nếu chất đó lại còn

cộng hưởng với nhịp điệu mới, với không vần, câu so le quá dài quá ngắn cùng tính khái quát

quá cao của “dư địa chí”…. thì có thể làm quá tải cả những độc giả mà sức lặn ngụp khỏe như

tôi.

Và cũng vì vậy, tôi hoàn toàn đồng cảm tán dương nhà thơ trong ý hướng của mình:

“lần mò theo lối bòng bong mà về” – Miệt chiều

Có thể nhiều người sẽ nghĩ lối sáng sủa rành mạch còn chẳng ăn ai, nhưng thế mới là

Nguyễn Đức Hạnh bởi cảm nhận thế nhưng về cơ bản anh vẫn làm chủ được lối đi riêng của

mình, và luôn về đích.

 

6

Rồi thì Hạnh đã về đến đâu? Hạnh bỗng nhiên diễn tả được tình yêu trong trạng thái trẻ

trung sôi nổi, đắm say và dường như hạnh phúc:

“bất chợt phố Hà Đông ngạt thở

cả đất trời nóng bỏng ngực thanh mai”

“tà áo mỏng Thiên đường rừng rực cháy” – Viên đạn thẳng vào tim

Những câu thơ làm tôi nhớ ngày chàng muốn học văn để “cứu nhân loại”!

Thấm mệt, chàng dỗi:

“ta về bán mớ bòng bong

quanh đi quẩn lại là xong kiếp người” – Tay trắng

Tôi biết là chàng chỉ dỗi tạm thế thôi, chứ đi đâu được khi đã trót:

“rượu cay và thơ đắng

còng tay vào nhân gian” – Và thơ và rượu

 

Chàng sẽ tiếp tục vào ra cái mớ bòng bong những sợi tơ thơ óng ả bền chắc, để từng

mùa lại dâng đời nong thơ vàng rực!

 

* * *

 

Giống bất kỳ ai, tình đầu đời của chàng cũng là mẫu tử. Tình yêu với mẹ là thứ tình

thuần khiết, nghiêng về chiều thụ hưởng. Nếu có chút vất vưởng nào thì người mẹ đã gánh cả:

 

“một đời mẹ đong từng hạt nước

đong từng nắm đất

cho con lớn lên bằng sức vóc nương đồi”

“Bàn chân đi mềm lại con đường” – Gửi Đồng Văn

Và rất gần với tình mẹ, là tình yêu quê hương ở Hạnh, thứ tình ít chới với bởi chẳng bao

giờ bị phụ bạc ruồng rẫy, hơn nữa còn là bệ đỡ vô điều kiện:

“Sông Lô phảng phất một đời người” – Tuyên Quang

Nhưng ít chới với thì có lúc lại có bề hơi … nhạt:

“Ta ngồi nướng sắn để buồn vui” – Một chút chiều sông Chảy

Gần không nồng nàn, xa không bứt rứt:

 

7

 

“bây giờ chim núi bay về núi

bỏ lại đằng sau những chỉ màu” – Một chút chiều sông Chảy

Nhưng chính ở tình cảm không sắc dục này, sức sáng tạo của Hạnh rất đáng kể.

Anh tạo ra khái niệm lạ:

“cây nói dối bên những chùm săng lẻ” – Với em ngày cũ

Anh dựng hình ảnh bay bổng lãng mạn và có phần sáo:

“Bóng mi dài ai tạc khúc tình ca” – Bức tranh Tam Đảo

Anh tổ hợp từ ghép kiểu “dư địa chí” tạo nét phóng khoáng:

“Em ẩn hiện một nỗi buồn Tam Đảo” – Bức tranh Tam Đảo

Anh mang theo dấu vết vô thức của dân văn khoa, chẳng hạn chữ hiu hiu từ:

“Gió hiu hiu thổi một và bông lau” – Truyện Kiều

Sang:

“Đồng cói hiu hiu màu chiều” – Tiền Hải

“Anh hiu hiu làm ngọn gió lang thang” – Lời vĩnh biệt

Hạnh tạo ra cách dùng mới với nghĩa mới cho từ đã cũ:

“thiu thiu buồn bông cỏ” – Tuyên Quang

Rất khác với cách dùng truyền thống: Thiu thiu buồn …. ngủ.

Hoặc:

“nắng chới với trong chiều tê tái” – Với em ngày cũ

Thì vẫn là từ chới với mang cái nghĩa rõ mồn một nhưng lại không đi với “người” như

cách diễn đạt truyền thống.

Hay:

“nắng đã gầy khô dưới bí bầu” – Nợ nhân duyên

Từ gầy khô thường để tả cỏ cây dưới nắng, nay dùng tả chính nắng!

 

* * *

 

8

Có chút tài năng thế, cộng với cả thời áo trắng được sống trong “Những mùa con gái”,

chàng tự tin đến có phần phộng phạo về tầm vóc của bản thân, hay dùng đại từ nhân xưng “ta”:

 

“Đây mái rạ khói nhà ta thương lắm” – Bởi vì mây vẫn trắng

“Ta lại hát bài ca xứ sở” – Bài ca xứ sở

Nhất là khi chuyện có vẻ ở trong tầm kiểm soát:

“em đã hẹn lòng ta từ cổ tích” – Bức tranh Tam Đảo

Thậm chí khi chàng ở vị thế tạm gọi là “thủ phạm”:

“Ánh mắt ngày xưa còn nghi ngại bước ta về” – Sông Lô

Thì chàng còn mang tâm “đại từ” đầy trắc ẩn:

“em bây giờ ra sao

đôi mắt ấy ngóng chờ ai cuối hạ” – Với em ngày cũ

Và quả thực, Hạnh xứng đáng với chăm bẵm nâng niu. Anh đã sáng tạo những câu thơ

như thuần từ bản năng, mang ý tứ mơ hồ hoặc có khi chẳng ý tứ gì, mà lại rất ám ảnh:

“Bên đồi thêm một nhánh củi khô” – Một chút chiều sông Chảy

Những câu thơ mà nghĩa đen dường như sai nhưng nghĩa bóng lại rất thú vị, trong bài

Thành Tuyên một nét thu:

 

“Bến sông giờ cũng vắng

Chuyến đò sang Tràng Đà”

Những khổ thơ biến điệu từ nghĩa đen thuần túy:

“ta nhặt viên đá trắng

ném lên đồi hoa mua”

Sang đan cài nghĩa đen cùng nghĩa bóng:

“những ngày xưa xa lắc

im lìm không tiếng thưa”

Và những sáng tạo nho nhỏ thì “hằng hà sa số”:

Là hình ảnh phi thực và đảo ngôi “gặm nhấm” trong “mây cô đơn gặm nhấm nỗi buồn

anh” – Lời vĩnh biệt.

Là đẩy trạng thái của tâm sang của thân trong “mụ mị ngón thon” – Đêm.

 

9

Là sự bẻ lái ngoạn mục để câu thơ giữ nguyên sức gợi mà không sa vào dung tục trong

“anh hôn lên đứt cúc đèn màu!” – Mặc cảm.

Đèn màu thì làm gì có cúc?

 

* * *

 

Tuy nhiên, tất cả những sáng tạo nho nhỏ lấp lánh ấy sẽ ít giá trị nếu không cùng nhau

tạo thành những bài thơ hay.

Chúng ta thử cùng xem một ví dụ, bài Dưới vòm mưa.

Có thể là mây trắng đã ngang sông

Em đứng đợi một tàn xuân tóc tết

Về nghĩa đen, mây trắng đã (bay) ngang (qua dòng) sông hay chưa thì nhìn là biết, sao

còn “có thể”? Nhưng sẽ không đáng thắc mắc bởi vì mây này đơn giản chỉ là sự ẩn dụ của một

sự biến dịch của thiên nhiên và con người. Và người con gái ở đây cũng có hành vi khá ngược

đời là đợi “một tàn xuân” trong khi cô ấy còn trẻ trung kiểu “tóc tết”.

Và óc quan sát, khả năng dùng chữ điêu luyện của Hạnh bắt đầu thể hiện: “hoa thức

nắng” – diễn xuôi nó sẽ là “hoa đánh thức ánh nắng”.

Anh tiếp tục sáng tạo khái niệm “quá trăng” trong “quá trăng về mưa kín phủ bờ lau”.

Anh tạo khoảng cách xa vời giữa đối tượng nhân hóa - ẩn dụ “mưa” và người trai trong

“mưa sốt ruột lên trang mười bảy tuổi”.

Anh lập từ láy chưa từng có trong từ vựng “lấp thấp” (chứ không phải thâm thấp) trong

“lối cúc tần lấp thấp mấy hàng sương”.

Anh gián tiếp kể một cảnh tình tứ bởi “đêm cúi mặt một lần trăng nhòa nhạt”.

Anh để độc giả tự “viết” thêm những ý thơ của mình cùng với từ “bông may” trong câu:

“thôi để buồn em thương kiếp bông may

để im lặng mênh mông thời con gái”.

Bài thơ buồn một nỗi buồn nhẹ, trong, và kết bởi ý thơ đầy bao dung nhẫn nại:

“em chỉ biết vườn em như đất ấy”

Ví dụ tiếp theo, bài Miệt chiều.

Tôi thử gõ google thì chữ miệt là cách miền Nam hay dùng khi gọi một vùng không gian

nào đó, chẳng hạn miệt vườn Tiền Giang. Tuy nhiên Hạnh đem gắn với khái niệm thời gian thì

tôi cũng không phản đối.

 

10

Hạnh vào bài theo lối “giả tự sự”, như bắt đầu kể một câu chuyện: “rồi chiều…”. Và ở

ngay câu thơ đầu tiên đã xuất hiện một ý thơ rất khiêu khích:

 

“nắng nhẩn nha buồn”

Thường người ta sẽ dùng từ nhẩn nha khi thưởng thức hoặc quá lắm là khi làm một cái

gì đó, chứ dùng với chữ “buồn” rất lạ tai! Nhưng mà từ đó lại gợi một ý tưởng đột biến là biết

đâu “buồn” quả đang là một món đáng để nhấm nháp?

“gió liêng biêng gió tôi gờn gợn say”

Từ liêng biêng tượng hình tạo cảm giác nghiêng đổ, nhưng không “hãi” bằng từ “gờn

gợn”. Và trong cái gờn gợn ấy thi sĩ thấy:

“chim muông lạc lõng vườn mây

người ta áo mỏng trắng tay bạn bè”

Mây, chứ không phải cây nhé. Và phận người thì đã như chim! Khi muốn tìm một điểm

tựa ổn cố trong quá khứ thì:

 

“ấu thơ mất hút chẳng về được đâu”

Khi hướng tới tương lai lại:

“xin từ biệt nhé mai sau

đá buồn mực tím xót vào ngực tôi”

Gợi liên tưởng tới “tuổi đá buồn” của Trịnh!

“nắng mưa mục cả cõi lòng

lần mò theo lối bòng bong mà về”

Cõi lòng chàng đã thành một thứ gỗ! Tuy nhiên, dù nhìn vào “ở đây, bây giờ” có đáng

buồn thế nào, thi sĩ cũng không tuyệt vọng. Chàng sẽ vẫn tìm về với bản thể chân như của

mình, dù có phải qua bao lối rối như bòng bong, dù rất nhiều chới với. Tương tự như có nhà

phê bình đã bình tác phẩm Ông già và biển cả: Thiên nhiên có thể tiêu diệt nhưng không thể

khuất phục được con người.

 

Hà Nội, tháng 10 năm 2022

vbnhuy

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com