
NGUYỄN ĐÌNH NHỮ dịch
黃 德 梁
HOÀNG ĐỨC LƯƠNG
(1460 - 1497)
Hoàng Đức Lương 黃 德 梁 là văn thần đời Lê Thánh Tông (1460-1497), không rõ năm sinh, năm mất, quê ở làng Cửu Cao, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, sau dời về ở làng Ngọ Kiều, huyện Gia
Lâm, trấn Kinh Bắc, nay thuộc ngoại thành Hà Nội. Năm Mậu Tuất (1478) ông đỗ Nhị giáp tiến sĩ (Hoàng
giáp), làm đến Tham nghị. Khoảng năm Kỷ Dậu (1489), ông làm Phó sứ sang Trung Quốc giao thiệp với nhà Minh. Khi về được thăng Tả thị lang bộ Hộ. Trong Toàn Việt thi lục, Lê Quý Đôn có sưu tập 25 bài thơ của ông.
長 信 宮 二 絕
体 弱 霜 應 覺,
衿 寒 秋 亦 悲.
不 辭 雙 淚 盡,
心 事 有 誰 知.
黃 德 梁
TRƯỜNG TIN CUNG NHỊ TUYỆT
Kì nhất
Thể nhược sương ưng giác
Khâm hàn thu diệc bi
Bất từ song lệ tận
Âm sự hữu thùy tri.
Hoàng Đức Lương
Dịch nghĩa:
Bài 1:
Cơ thể gầy yếu sương xuống là biết
Chăn lạnh mà thu cũng buồn
Chẳng nói nên lời hai hàng lệ cạn khô
Nỗi niềm này có ai thấu tỏ.
Dịch thơ :
HAI BÀI THƠ HAY VỀ
CUNG TRƯỜNG TIN
1.
Sương rơi, người thấy yếu
Chăn lạnh, thu thêm sầu
Chẳng nói, khô dòng lệ
Nỗi niềm ai biết đâu!
2.
Người yếu, gặp sương xuống biết ngay
Chăn mền lạnh giá, thu buồn thay
Lời không thành tiếng, hàng châu cạn
Tâm sự bao điều, ai có hay.
二 其
恩 斷 猶 疑 夢
燈 寒 不 作 花
粧 成 凝 曉 坐
更 欲 洗 鉛 華
黃 德 梁
Kỳ nhị:
Ân đoạn do nghi mộng
Đang hàn bất tác hoa
Trang thành ngung hiểu tọa
Cánh dục tẩy diên hoa.
Hoàng Đức Lương
Dịch nghĩa:
Kỳ 2
Ân huệ hết còn ngỡ là giấc mộng
Đèn lạnh không thành những đốm lửa
Trang điểm xong ngồi lặng trong sáng sớm
Lại muốn tẩy sạch phấn son.
_________________
- Cung Trường Tín: Là kiến trúc quan trọng nhất trong quần thể kiến trúc cung Trường Lạc đời Hán, trong thành Trường An. Các thái hậu triều Hán thường ở cung điện này, nay không còn.. Lý Bạch cũng có bài thơ “Trường Tín cung”.
Dịch thơ:
Bài 2
1.
Hết ân còn ngỡ mộng
Đèn lạnh lửa đâu còn
Trang điểm xong ngồi lặng
Lại lau sạch phấn son.
2.
Nghĩa ân đã hết ngỡ chiêm bao
Đèn lạnh không thành những đốm sao
Trang điểm lặng ngồi trong buổi sáng
Lại lau chẳng để chút son nào.
范 道 富
PHẠM ĐẠO PHÚ
(1462 - 1539)
Phạm Đạo Phú 范 道 富 (1462 - 1539), quê ở thôn Phạm Xá, xã Yên Nhân, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, thi đỗ Đồng tiến sĩ xuất thân năm 1490. Năm Ất Mão (1495) ông tham gia Viện Hàn lâm với chức Hàn lâm viện kiểm thảo, sau thăng đến Hình bộ Tả thị lang. Sau khi mất, ông được vua Lê Thế Tông sắc phong truy tặng là Tham tri, ban cho thuỵ là Trung ý trung đẳng thần. Sự nghiệp thơ văn của Phạm Đạo Phú còn lại không nhiều, hiện còn 15 bài thơ phụng họa với vua Lê Thánh Tông trong hai tập Văn minh cổ xuý và Quỳnh uyển cửu ca.
奉 和 御 拜 謁 山 陵 感 成
春 回 草 木 盡 鮮 妍,
萬 里 青 山 染 綠 煙。
旌 旆 飄 蕭 晴 霧 外,
舳 艫 飛 戾 夕 陽 邊。
朝 宗 碧 水 滔 滔 逝,
拱 北 丹 心 耿 耿 懸。
多 幸 斯 臣 逢 聖 代,
巍 巍 孝 治 日 中 天。
范 道 富
PHỤNG HOA NGỰ CHẾ BÀI YẾT SƠN LĂNG CẢM THÀNH
Xuân hồi thảo mộc tận tiên nghiên,
Vạn lý thanh sơn nhiễm lục yên.
Tinh bái phiêu tiêu tình vụ ngoại,
Trục lô phi lệ tịch dương biên.
Triều tông bích thủy thao thao thệ,
Củng bắc đan tâm cảnh cảnh huyền.
Đa hạnh tư thần phùng thánh đại,
Nguy nguy hiếu trị nhật trung thiên.
(Văn minh cổ xúy)
Phạm Đạo Phú
Dịch nghĩa:
VÂNG HỌA BÀI CỦA ĐỨC VUA:
LỄ Ở SƠN LĂNG CẢM XÚC THÀNH THƠ
Xuân về cây cỏ hết thảy đều tươi tốt,
Muôn dặm núi xanh được nhuộm màu khói biếc.
Cờ quạt bay phần phật trong tiết trời quang đãng,
Thuyền bè lướt nhanh bên cảnh chiều tà.
Nước biếc hướng về nguồn cuồn cuộn chảy,
Lòng son chầu về phương bắc rờ rỡ treo.
Bề tôi nhiều may mắn gặp đời vua sáng,
Nền hiếu trị sừng sững như vầng nhật giữa trời.
Dịch thơ:
VÂNG HỌA BÀI CỦA ĐỨC VUA: LỄ Ở SƠN LĂNG CẢM XÚC THÀNH THƠ
Xuân về cây cỏ thảy đều tươi
Muôn dặm núi xanh nhuộm khói trời
Cờ quạt tung bay nơi khí thoáng
Thuyền bè nhẹ lướt chốn chiều rơi
Hướng nguồn nước biếc băng băng chảy
Chầu bắc lòng son khắc khoải treo
May gặp bề trên vua đức sáng
Dưới nền hiếu trị ánh dương soi.
N.Đ.N.

Người gửi / điện thoại