NGUYỄN ĐÌNH NHỮ dịch

黎 贵 敦
LÊ QUÝ ĐÔN
(1726 - 1784)
Lê Quý Đôn sinh ngày 2/8/1726 mất ngày 14/4 năm Giáp Thìn (11/6/1784). Ông là con tiến sĩ Lê Phú Thứ, quê ở huyện Diên Hà (nay thuộc thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà) tỉnh Thái Bình. Ông nổi tiếng thần đồng, có trí nhớ lạ lùng. Năm 18 tuổi đỗ giải Nguyên. Sau đó đỗ đầu các kỳ thi Hội và thi Đình. Bước quan bộ của Lê Quý Đôn khá lận đận, nhưng cũng có lần giữ trọng trách: Khi làm việc ở Ban quản tu Quốc tử quán; Thị giảng viện Hàn lâm; khi nhận việc trong phủ chúa; khi được phái đi sứ sang Trung Quốc. Khi mất ông được truy phong là Thượng thư Bộ công. Suốt đời ôm ấp hoài bão lớn. Công trình nghiên cứu và tác phẩm: Toàn việt thi lục; Quế đường thi tập “Đại việt thông sử”, “Phủ biên tạp lục”, “Kiến văn tiểu lục”, “Bắc sử thông lục”. “Thư kinh diễn nghĩa”, “Dịch kinh phu thuyết”, “Xuân thu lược luận”, “Quần thư khảo biện”. “Vân đài loại ngữ”.
東 究 山
一 山 卓 立 眾 高 隨
金 帶 迂 回 水 鳥 移
石 色 泉 聲 無 客 到
竹 情 花 意 有 僧 知
白 雲 過 塔 明 紅 樹
芳 草 橫 溪 闇 玉 芝
曾 是 先 朝 遊 豫 地
風 光 依 舊 自 前 時
黎 贵 敦
ĐÔNG CỨU SƠN
Nhất sơn trác lập chúng sơn tuỳ
Kim đới vu hồi thuỷ điểu di
Thạch sắc tuyền thanh vô khách đáo
Trúc tình hoa ý hữu tăng tri
Bạch vân quá tháp minh hồng thụ
Phương thảo hoành khê ám ngọc chi
Tằng thị tiên triều du dự địa
Phong quang y cựu tự tiền thì.
Lê Quý Đôn
______________________
Đông Cứu: núi Đông Cứu, tức núi Thiên Thai, thuộc huyện Gia Bình, Kinh Bắc (nay là huyện Gia Lương, Bắc Ninh). Núi này, một ngọn đứng sững, đất đá lởm chởm, bên cạnh có nhiều ngọn, chân núi sát với dòng sông, trên núi có chùa Thiên Thai là một thắng cảnh ở vùng Kinh Bắc.
Dịch nghĩa:
NÚI ĐÔNG CỨU
Một ngọn núi cao vót lên, các núi khác đều cao theo
Dòng sông nước mênh mang, chảy vòng quanh như cái đai vàng
Đá ánh màu, suối reo tiếng, không khách tục leo tới
Tình khóm trúc, ý bông hoa, chỉ có nhà sư hay biết
Đám mây trắng bay qua ngọn tháp, làm nổi màu cây hoa đỏ
Làn cỏ thơm mọc ngang dòng khe, che lấp cả giống cỏ ngọc chi
Đây từng là nơi chơi vui của vua triều trước
Phong quang nay còn phảng phất buổi xưa kia.
Dịch thơ:
NÚI ĐÔNG CỨU
Núi cao trùng điệp tận trời mây
Sông lượn vòng đai, nước cuốn xoay
Đá quý, suối reo, không khách vãng
Hoa tình, trúc ý, có sư hay
Cây hồng bên tháp mây che trắng
Cành ngọc ngang khe cỏ mọc dầy
Đây điểm vui chơi vua thuở trước
Cảnh xưa vẫn giữ đến ngày nay.
香 海 寺
幾 年 軒 豁 遠 塵 埃,
秋 水 春 山 一 鍳 開。
江 月 不 隨 流 水 去,
天 風 常 送 海 濤 來。
僊 棋 喚 客 催 詩 思,
玉 影 留 人 動 壯 懁。
盡 日 登 臨 無 限 興,
夕 陽 咫 尺 近 蓬 萊。
黎貴惇
HƯƠNG HẢI TỰ
Kỷ niên hiên khoát viễn trần ai,
Thu thuỷ xuân sơn nhất giám khai.
Giang nguyệt bất tuỳ lưu thuỷ khứ,
Thiên phong thường tống hải đào lai.
Tiên kỳ hoán khách thôi thi tứ,
Ngọc ảnh lưu nhân động tráng hoài.
Tận nhật đăng lâm vô hạn hứng,
Tịch dương chỉ xích cận Bồng Lai.
Lê Quý Đôn
Dịch nghĩa:
CHÙA HƯƠNG HẢI
119Tuyển dịch thơ DANH NHO VIỆT NAM
Chùa này cao rộng, xa cách chốn trần ai đã bao năm rồi
Nước mùa thu, núi mùa xuân, vẻ đẹp ấy như
tấm gương lớn mở ra trước mắt
Vầng trăng trên mặt sông không trôi đi theo dòng nước
Gió trời thường đưa sóng biển gầm gào vẳng tới
Bàn cờ tiên gọi du khách thôi thúc tứ thơ
Bóng ngọc lưu giữ người khiến tinh thần thêm phấn chấn hào hùng
Cả ngày lên cao nhìn xa ngắm cảnh hứng thú vô cùng
Dưới ánh chiều tà, cảnh Bồng Lai tưởng như gần trong gang tấc.
____________________
- Chùa Hương Hải: ngôi chùa cổ nằm ở xã Phú Vệ, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương.
- Bồng Lai: theo truyền thuyết là tên một trong ba quả núi có tiên ở (Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu). Đây nói cảnh đẹp tuyệt trần.
Dịch thơ:
CHÙA HƯƠNG HẢI
Chùa cao xa cách chốn trần ai
Sông núi như gương sáng trải dài
Sông chảy trăng trôi in mặt nước
Gió vờn sóng vỗ rộn bên tai
Cờ tiên gợi khách niềm thi hứng
Dáng ngọc cho ta những cảm hoài
Ngày dạo trên cao thêm thú vị
Chiều về ngỡ chạm chốn Bồng Lai.
N.Đ.N.

Người gửi / điện thoại