
TRẦN BÁ LÃM ( TIẾP)
Dịch thơ:
VỊNH VŨ MIẾU
1.
Ngôi miếu bên sông ráng ửng hồng
Vọng Đài thấp thoáng ánh gươm trong
Lý Trần chưa có, nay vừa dựng
Thờ đấng anh hùng lập chiến công.
N.Đ.N.
2.
Bên sông ngôi miếu ráng hồng
Vọng Đài ẩn hiện sáng trong gươm này
Lý Trần chưa có, nay xây
Muôn đời thờ đấng cao dày chiến công.
詠 白 馬 祠
脈 引 盤 龍 傳 勝 地,
跡 留 白 馬 鎭 名 州.
高 王 往 事 俱 塵 土,
物 換 星 移 几 度 秋.
陳 伯 覽
VỊNH BẠCH MÃ TỪ
Mạch dẫn bàn long truyền thắng địa,
Tích lưu bạch mã trấn danh châu.
Cao vương vãng sự câu trần thổ,
Vật hoán tinh di kỷ độ thu.
Trần Bá Lãm
_______________________
Đền Bạch Mã được xây dựng từ thế kỷ 9 để thờ thần Long Đỗ (Rốn Rồng) - vị thần gốc của Hà Nội cổ. Năm 1010, khi Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, định đắp thành nhưng nhiều lần thành đắp lên lại bị sụp đổ. Vua cho người cầu khấn ở đền thờ thần Long Đỗ thì thấy một con ngựa trắng từ đền đi ra. Vua lần theo vết chân ngựa, vẽ đồ án xây thành, thành mới đứng vững. Thần được vua Lý Thái Tổ phong làm Thành hoàng của kinh thành Thăng Long. Văn bia hiện còn ở đền cho biết, đền Bạch Mã được tu bổ lớn vào niên hiệu Chính Hòa (1680-1705) đời Lê Hy Tông. Đến năm Minh Mạng thứ 20 (1839) lại được tu bổ thêm: sửa lại đền, dựng riêng văn chỉ, xây Phương đình, quy mô ngày càng rộng rãi, cảnh quan tôn nghiêm, nổi tiếng ở chốn đất thi.
Dịch nghĩa:
VỊNH ĐỀN BẠCH MÃ
Mạch chạy thế rồng cuộn lưu truyền là đất đẹp
Dấu còn in đền Bạch Mã phù trợ nơi danh tiếng
Chuyện xưa Cao Biền đều hóa bụi đất
Vật đổi sao dời trải biết bao thu.
Dịch thơ:
VỊNH ĐỀN BẠCH MÃ
1.
Thế đất rồng nằm nơi thắng địa
Dấu xưa Bạch Mã trấn danh đô
Cao Biền chuyện cũ thành tro bụi
Vật đổi sao dời đã mấy thu!
N.Đ.N.
2.
Rồng nằm đất đẹp lưu truyền
Dấu xưa Bạch Mã giữ gìn danh đô
Cao Biền chuyện cũ thành tro
Sao dời vật đổi bao thu qua rồi!
詠 節 婦 封 臺
靈 魄 已 隨 江 水 逝,
一 心 愿 作 嶺 頭 雲.
香 沉 粉 謝 情 猶 昨,
金 扁 輝 煌 映 水 紋.
陳 伯 覽
VỊNH TIẾT PHỤ PHONG ĐÀI
Linh phách dĩ tùy giang thủy thệ,
Nhất tâm nguyện tác lĩnh đầu vân
Hương trầm phấn tạ tình do tạc,
Kim biển huy hoàng ánh thuỷ văn.
Trần Bá Lãm
_______________________
Nguyên chú thích của tác giả:
Đài nằm trên bờ sông Tô Lịch, địa phận phường Yên Thái. Trong phường có người phụ nữ xinh đẹp cùng chồng làm nhà trên bờ sông. Thời Trần, giặc Nguyên xâm lược, đi đâu cũng bạo ngược, giết chồng cướp vợ, thảm cảnh khôn kể. Một buổi, giặc Nguyên qua sông, thấy người phụ nữ này thì xông tới bắt, bà chạy thẳng xuống sông tự tử. Người chồng trốn không kịp, cũng chết. Sau khi dẹp được giặc Nguyên, dân ở đó tâu lên vua Trần, vua đề cao tiết hạnh, ban vàng bạc, dựng đài phong trên sông Tô Lịch để thờ.
Vua ban cả biển vàng treo chính giữa cửa đài, tên là "Tiết phụ phong đài". Cuối thời Mạc, đài bị phá hủy, dấu cũ cũng mai một.
Dịch nghĩa:
VỊNH ĐÀI PHONG TIẾT PHỤ
Hồn phách thiêng đã trôi theo nước chảy
Một lòng nguyện làm mây đầu núi
Hương chìm phấn nhạt tình còn như cũ
Biển phong chữ vàng huy hoàng in làn nước lăn tăn...
Dịch thơ:
VỊNH ĐÀI PHONG TIẾT PHỤ
Phách thiêng theo nước chảy không còn
Lòng nguyện làm mây đứng đỉnh non
Tình vẫn như xưa, hương phấn nhạt
Bảng phong soi nước mãi vàng son.
詠 忠 烈 廟
畫 象 遺 容 儼 若 存,
帝 君 南 北 共 推 尊.
將 君 一 赴 英 雄 骨,
廟 祀 千 秋 節 義 魂
伯 覽
VỊNH TRUNG LIỆT MIẾU
Hoạch tượng di dung nghiễm nhược tồn,
Đế quân nam bắc cộng thôi tôn.
Tướng quân nhất phó anh hùng cốt,
Miếu tự thiên thu tiết nghĩa hồn.
Trần Bá Lãm
________________________
Chú thích của tác giả:
Miếu ở phía Tây thành. Hoàng triều Hy Tông Hoàng đế vào niên hiệu Chính Hòa thứ 6 (1685) cho lập thờ Hán Thọ Đình hầu Quan Thánh đế quân, thờ kèm cả hai vị Quan Bình, Châu Thương. Trong miếu có hình và thờ kèm cả công thần tuẫn nạn Lê Lai. Khi Thái tổ Cao Hoàng đế (Lê Lợi) khởi nghĩa, chống nhau với quân
Minh, bị vây rất gấp. Lê Lai xin làm theo chuyện Kỷ Tín xưa. Vua khâm phục khí tiết mà bằng lòng. Lai bèn đi đến cửa giặc xin hàng. Người Minh cho là vua thật, bèn giết đi. Vua nhờ đó mà thoát. Sau khi dẹp giặc Minh, phong Lê Lai làm Tuẫn nạn đệ nhất công thần, ban quốc tính.
Dịch nghĩa:
VỊNH MIẾU TRUNG LIỆT
Tượng và hình vẽ uy nghiêm trang trọng như vẫn còn đó
Nam Bắc đều cùng suy tôn Đế quân
Tướng quân một phen phó thác xương cốt anh hùng
Miếu thờ ngàn năm linh hồn tiết nghĩa.
Dịch thơ:
VỊNH MIẾU TRUNG LIỆT
Hình tượng uy nghiêm hiện vẫn còn
Đế quân Nam Bắc thảy suy tôn
Tướng quân dâng hiến trọn xương cốt
Lăng miếu ngàn thu khắc nghĩa ân.
詠 布 丐 大 王 祠
肯 交 北 吏 虐 生 靈,
感 激 雄 心 舉 義 兵.
功 徳 如 天 長 仰 慕,
千 秋 尊 號 有 餘 馨.
陳 伯 覽
VỊNH BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG TỪ
Khẩn giao Bắc lại ngược sinh linh,
Cảm kích hùng tâm khởi nghĩa binh.
Công đức như thiên trường ngưỡng mộ,
Thiên thu tôn hiệu hữu dư hinh.
Trần Bá Lãm
______________________
Nguyên chú (của tác giả):
Đền tại phường Trùng Quang, huyện Vĩnh Thuận, thờ Bố Cái Đại vương. Vương họ Phùng tên Hưng, người Đường Lâm. Thời Bắc thuộc, An Nam Đô hộ là Cao Chính Bình chấp chính, thuế má nặng nề, dân sống không nổi. Vương dấy binh đánh Bình, thắng lợi, lên trị vì. Sau khi Vương mất, người trong nước mến mộ công đức, tôn làm Bố Cái Đại vương, lập đền thờ. Tục gọi phụ là bố, mẫu là cái, nên có tên hiệu như vậy. Xã nhà cũng có đền thờ.
Chú thích:
Đền thờ Bố Cái Đại vương nay không còn.
Dịch nghĩa:
VỊNH ĐỀN THỜ BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG
Chẳng lẽ mặc cho quan lại phương Bắc ngược đãi dân lành
Khơi dậy chí lớn dấy quân khởi nghĩa
Công đức như trời mãi ngưỡng mộ
Ngàn thu tên hiệu tôn vinh mãi thơm danh.
Dịch thơ:
VỊNH ĐỀN THỜ BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG
Yên sao khi giặc hại dân lành
Ý chí anh hùng dấy nghĩa binh
Công đức như trời luôn ngưỡng mộ
Ngàn thu tên hiệu mãi tôn vinh.

Người gửi / điện thoại