
胡 春 香
HỒ XUÂN HƯƠNG
(1772 - 1822)
Nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương theo trích lược thông tin trên trang Wikipedia viết: "Hồ Xuân Hương (chữ Hán: 胡春香, 1772 - 1822) sống ở giai đoạn cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX. Tác phẩm tiêu biểu: Bánh trôi nước, Tự tình, Vịnh cái quạt, Cảnh thu, Vấn nguyệt, Động hương tích, Họa nhân, Đá ông bà chồng, Duyên kỳ ngộ, Hỏi trăng, Hương đình cổ nguyệt thi tập, Núi Ba Đèo, Hữu cảm, Vịnh hằng nga, Tát nước, Tặng tình nhân, Mời khách ăn trầu,…
海 屋 籌
蘭 橈 隨 意 漾 中 流
景 比 山 陽 更 覺 幽
生 面 獨 開 雲 露 骨
斷 鼇 爭 崎 客 回 頭
馮 夷 疊 作 擎 天 柱
龍 女 添 為 海 屋 籌
大 抵 始 皇 鞭 未 及
古 留 南 甸 鞏 金 甌
胡 春 香
HẢI ỐC TRÙ
Lan nhiêu tùy ý dạng trung lưu
Cảnh tỉ sơn dương cánh giác u
Sinh diện độc khai vân lộ cốt
Đoạn ngao tranh kị khách hồi đầu
Bằng Di điệp tác kình thiên trụ
Long Nữ thiêm vi hải ốc trù
Đại để Thủy Hoàng tiên vị cập
Cố lưu Nam điện củng kim âu.
Hồ Xuân Hương
Dịch thơ:
HÒN ĐŨA
1.
Giữa dòng khoan nhặt nhẹ tay chèo
221Tuyển dịch thơ DANH NHO VIỆT NAM
Gần núi cảnh quan thêm vắng teo
Mỏm đá chơ vơ, mây uốn lượn
Sườn non lồ lộ, khách nhìn nheo
Bằng Di dựng cột nâng trời sập
Long Nữ thêm Hòn đỡ điện xiêu
Roi ngựa Thủy Hoàng chưa quất tới
Xứ Nam lưu giữ vững vàng neo.
N.Đ.N
2.
Mái chèo khua nhẹ giữa dòng
Tới đây non nước một vùng lặng yên
Mây vờn, đá trọc dựng lên
Sườn non lồ lộ, khách liền ngó coi
Bằng Di dựng cột chống trời
Thêm Hòn Long Nữ đỡ nơi điện này
Thủy Hoàng chưa đến nơi đây
Xứ Nam lưu giữ đến nay vững bền.
詠 石 夫 婦
家 室 和 平 立 海 隅,
從 容 歲 月 一 閒 遊。
東 回 西 領 鄰 啼 婦,
北 向 南 山 笑 望 夫。
締 糽 義 長 天 地 並,
唱 隨 聲 動 海 山 秋。
往 來 或 問 渠 孫 子,
石 在 山 頭 人 在 舟。
胡 春 香
VỊNH THẠCH PHU PHỤ
Gia thất hoà bình lập hải ngu,
Thung dung tuế nguyệt nhất nhàn du.
Đông hồi tây lĩnh lân đề phụ,
Bắc hướng nam sơn tiếu vọng phu.
Đế đính nghĩa trường thiên địa tịnh,
Xướng tuỳ thanh động hải sơn thu.
Vãng lai hoặc vấn cừ tôn tử,
Thạch tại sơn đầu nhân tại chu.
Hồ Xuân Hương
Dịch nghĩa:
VỊNH VỢ CHỒNG ĐÁ
Nhà cửa vợ chồng yên bình dựng nơi góc biển
Thong dong năm tháng chỉ chơi nhàn nhã
Từ Đông ngoái về núi Tây như kề gần gọi vợ
Từ Bắc hướng xuống núi Nam, như cười ngóng chồng
Cái nghĩa gắn bó lâu như trời đất dựng lên
Tiếng ca hát trải từ khi biển núi hình thành
Du khách qua lại hỏi trẻ con
Đá thì ở trên núi còn người thì ở dưới thuyền.
Dịch thơ:
VỊNH VỢ CHỒNG ĐÁ
Dựng nhà góc biển phía chân trời
Nhàn nhã quanh năm chỉ dạo chơi
Đông ngoảnh sườn Tây bên vợ gọi
Nam trông núi Bắc cạnh chồng cười
Nghĩa tình trời đất xây muôn thuở
Tiếng hát non sông trải khắp nơi
Du khách lại qua thăm hỏi trẻ
Đá thì trên núi, dưới thuyền trôi.
N.Đ.N.

Người gửi / điện thoại