
MỘT CUỐN SÁCH THƠ DỊCH LỤC BÁT ĐỘC ĐÁO
(Lời Giới thiệu cuốn thơ dịch “Hoa hồng của Saadi”- dịch giả Trần Mạnh Tuân)
Phó giáo sư -Tiến sĩ Trần Mạnh Tuân là giảng viên chuyên ngành kỹ thuật trường Đại học Thủy lợi Hà Nội. Một nhà giáo chuyên ngành kỹ thuật nhưng anh lại có tâm hồn nghệ sĩ đầy lãng mạn với sở thích thơ phú, dịch thuật, nhiếp ảnh... Anh đặc biệt hứng thú và có sở trường về thơ Lục bát. Ngay từ khi còn khá trẻ, đang tại chức, anh đã sáng tác nhiều bài theo thể thơ này và từng là Biên tập viên Trang thơ Lục bát Việt Nam (www.lucbat.vn).
Là một trí thức thành thạo tiếng Anh và biết ít nhiều tiếng Nga, tiếng Hán, những năm gần đây, Trần Mạnh Tuân cũng là một dịch giả, hội viên Câu lạc bộ Thơ dịch Hội Nhà văn Hà Nội - một CLB chuyên về thơ dịch, dường như duy nhất của cả nước. Cuốn sách thơ dịch “Hoa hồng của Saadi” được anh trình làng lần này đã bước đầu khắc họa chân dung một nhà thơ – dịch giả có phong cách riêng về dịch thơ: Đó là chuyển ngữ thơ tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Hán... sang thể thơ Lục bát rất Việt Nam.
Con người Việt Nam, từ thuở nằm trên nôi, tâm hồn đã thấm đẫm những lời hát ru Lục bát của người mẹ; cả cuộc đời gần gũi, gắn bó với thơ Lục bát qua ca dao, tục ngữ, dân ca, truyện thơ dân gian, qua thưởng thức những vần thơ tuyệt tác trong Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du và bao nhà thơ nổi tiếng khác của dân tộc các thời kỳ. Vì vậy, chọn thể thơ Lục bát khi dịch thơ nước ngoài, dịch giả - nhà thơ Trần Mạnh Tuân đã khéo chọn chiếc cầu ngôn ngữ rất hợp lý và độc đáo để thơ nước ngoài đến với người đọc Việt Nam bằng thể thơ vô cùng quen thuộc với thị hiếu và tâm hồn của người Việt.
Trong cuốn sách này, khi chọn những bài thơ tiếng Anh (của Vương quốc Anh và một số nước dịch sang tiếng Anh), thơ tiếng Nga, tiếng Hán để chuyển ngữ sang thể thơ Lục bát, dịch giả - nhà thơ Trần Mạnh Tuân đã tập trung vào những bài thơ có nội dung trữ tình. Những bài thơ diễn tả tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương, con người, tình yêu lứa đôi... rất phù hợp với vần điệu Lục bát giàu tính nhạc, du dương trầm bổng, nhịp nhàng, uyển chuyển và duyên dáng; phản ánh những cung bậc tình cảm sâu lắng, thiết tha từ sâu thẳm lòng người.
Phong cảnh ở các nước phương Tây khác phong cảnh Việt Nam; thơ trữ tình ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên phương Tây qua các thể thơ truyền thống và hiện đại của họ lại càng khác biệt. Vậy mà những bài thơ được sưu tầm, lựa chọn và dịch sang thơ Lục bát, người đọc lại thấy thật dung dị, gần gũi: Tóc xuân sớm ướt đầm sương/ Bình minh rọi cửa bốn phương rực hồng/ Phía tây đảo nhỏ ngóng trông/ Bản hòa ca ấy chung lòng chào xuân (Đến với mùa xuân - W. Blake, Vương Quốc Anh). Trong bài thơ Nhớ làng của V. Fortunatov (Nga), thiên nhiên nước Nga hiện lên cũng rất thân quen với người Việt từ những câu dịch Lục bát: Con đường nhỏ dẫn bước theo/ Con sông nho nhỏ sớm chiều lặng trôi/ Sương long lanh dưới ánh trời/ Con chuồn chuồn đậu phao tôi buông cần. Những hình ảnh về con đường, dòng sông, hạt sương, con chuồn chuồn... không hề xa lạ với người Việt; cách sử dụng từ láy “nho nhỏ”, “long lanh” trong câu thơ dịch khiến cảnh vật càng trở nên có màu sắc đẹp đẽ, huyền ảo, thơ mộng.
Bài Mùa thu của R.Rike (Áo) có những vần thơ được dịch: Lá rơi từ khoảng xa xôi/ Vườn kia lá héo từ trời xuống đây/ Ngập ngừng rơi phủ buồn dày/ Nặng nề dương thế đêm ngày vẫn rơi. Đọc những câu thơ dịch tả cảnh gợi tình này, người đọc Việt Nam dễ liên tưởng câu Kiều quen thuộc “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
Cảnh đẹp thiên nhiên Việt Nam trong thơ chữ Hán của các danh nho trong lịch sử đương nhiên lại càng thân thiết qua một số bài thơ Đường luật Thất ngôn bát cú, khi được dịch sang thể Lục bát, bài thơ dịch thể hiện rất rõ hơi thở văn hóa người Việt, khiến thiên nhiên Việt Nam càng thêm đáng yêu : Thuyền trôi ngắm cảnh xa xa/ Tản Viên núi ấy hiện ra điệp trùng/ Bồng bềnh mây cuộn một vùng/ Khí lành hương núi hòa cùng non cao (Trên thuyền ngắm núi Tản Viên – Nguyễn Án).
Trong cuốn sách thơ dịch này, tình yêu trai gái là chủ đề chiếm tỷ lệ nhiều nhất trong các bài thơ nước ngoài được Trần Mạnh Tuân chọn dịch sang thể Lục bát. Người đọc có dịp được thưởng thức nhiều bài thơ tình hay, tiêu biểu của những thi sĩ lừng danh của Vương quốc Anh, của Mỹ, Đức, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc...
Trong “Câu chuyện tình yêu” , Andy Williams đã ví von “Chuyện tình nồng cháy muôn đời,/ giản đơn như sóng biển khơi vỗ bờ”. Sóng không bao giờ ngừng và tình yêu là muôn thuở, từ buổi đầu ngây thơ, đến những giấc mơ diệu kỳ, niềm hạnh phúc ngập tràn... Lời dịch sang thể thơ Lục bát bài này thật đằm thắm: “Hồn ta ngây ngất men say/ Dẫu đi đâu cũng đong đầy yêu thương/ bên em tràn ngập vấn vương/ Nắm tay đi hết con đường mộng mơ”.
Chúng ta đã rất quen thuộc với bài thơ tình “Tôi yêu em” nổi tiếng của đại thi hào Nga Pushkin được dịch giả lão thành Thúy Toàn chuyển ngữ: “Tôi yêu em âm thầm không hy vọng,/ Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen, /Tôi yêu em, yêu chân thành đằm thắm, /Cầu em được người tình như tôi đã yêu em”. Khi Trần Mạnh Tuân dịch lại bài thơ này sang thể thơ Lục bát, người đọc lại được thưởng thức bài thơ với giai điệu nhịp nhàng và từ ngữ tươi mới, mang âm hưởng ca dao trữ tình mà vẫn giữ được hồn cốt ý nghĩa nguyên tác: “Yêu em vô vọng lặng thầm/ Rụt rè đôi lúc thăng trầm hờn ghen/ Yêu chân thành muốn bình yên/ Cầu em tìm được lương duyên ở đời”.
Bài hát “Kachiusa” của nhà thơ Nga M. Isakovski được dịch sang tiếng Việt cũng rất quen thuộc với đông đảo người Việt Nam. Lời bài hát theo tiếng Việt này đúng nghĩa phải gọi là “phóng tác” chứ không phải “lời dịch”: “Đào vừa ra hoa, cành lá gió đưa vầng trăng tà, ngoài dòng sông màn sương trắng buông lững lờ. Kìa bến sông thoáng bóng ai in trên làn sương mờ, cất cao lời ca làm rung có cây ven bờ...”. Thực ra, bài thơ nguyên tác Kachiusa từng được dịch nghĩa:
Những cây lê, cây táo đã nở hoa
Làn sương bao phủ trên dòng sông
Cô đã đi, đã mang theo bài hát
Về những bức thư của ai mà cô đã giữ.
Bài thơ tình này đã được Trần Mạnh Tuân dịch khá sát với nghĩa gốc mà vẫn đúng là Lục bát: “Hoa lê, táo nở khắp nơi/ Sương giăng trên sóng mù khơi mịt mùng/ Kachiusa dạo bến sông/ Trời mây bờ dốc in dòng nước trôi/ Tiếng nàng hát gió cuốn lời/ Đại bàng xanh giữa bầu trời tung bay/ Nàng yêu người ấy đắm say/ Thơ tình chàng gửi chất đầy thương yêu”.
“Một cây hoa nở bên đường” là bài thơ tình theo thể thơ tự do của nhà thơ nổi tiếng Tịch Mộ Dung ở Đài Loan Trung Quốc. Đây là bài thơ lãng mạn thấm đậm thuyết luân hồi trong giáo lý đạo Phật phương Đông: Người con gái đắm say chàng trai mình yêu đến mức tu luyện từ 500 năm trước để cầu Phật biến thành một cây đứng ven đường, nơi người mình yêu thường qua lại, cây nở thật nhiều hoa đẹp để được chàng chú ý. Nội dung đó cũng được dịch khá sát nghĩa nguyên tác bằng những vần thơ Lục bát tình tứ: “Làm sao em gặp được anh/ Lúc em đẹp nhất ta thành một đôi/ Em cầu đức Phật lâu rồi/ Năm trăm năm trước nguyện lời thành tâm/ Cho em đẹp mối duyên thầm/ Thấu tình tịnh độ em cầm hồn hoa”.
Khá nhiều bài thơ được chọn dịch trong cuốn sách đã diễn tả thế giới nội tâm con người rất phong phú: yêu thương, nhung nhớ, vui sướng, giận hờn, buồn rầu, ân hận...trong tình yêu nam nữ cũng như trong nhiều mối quan hệ khác như tình yêu quê hương, gia đình, bè bạn... Tất cả đều được thể hiện qua những vần thơ dịch Lục bát trữ tình khá đồng điệu của dịch giả - nhà thơ Trần Mạnh Tuân.
Văn hóa phương Tây vốn đề cao “cái tôi”, dường như ít quan tâm đến cộng đồng gia đình, xã hội so với người phương Đông, nhưng bài thơ “Gia đình yêu dấu” của S. Randolph (Vương quốc Anh) lại cho thấy người phương Tây rất coi trọng quan hệ gia đình, tình cảm với những người ruột thịt, thân yêu trong gia đình của họ cũng không khác người phương Đông: “Lúc gian khó, phút bơ vơ, / Quanh tôi luôn cảm thấy bờ vai nâng./ Không tình yêu của người thân/ Làm sao tôi vững bước chân trưởng thành”.Tình bạn của người phương Tây cũng rất gắn bó, thủy chung, trong sáng: “Bạn như sao sáng trời đêm/ Khó tìm kiếm giữa mọi miền trần gian/ Cho tôi hơi ấm dịu dàng/ Trao thêm sức mạnh, vững vàng bước chân...” (Một người bạn - M. Chapin).
“Quê hương gọi về” (tác giả Lan Nhược) là bài thơ điển hình của Trung Quốc hiện đại nói về tình yêu quê hương, yêu gia đình, cha mẹ của một người con xa xứ:
Tôi đi khắp mọi nẻo đường
Sao mờ trăng lặn gió sương dãi dầu
Hoàng hôn tắt nắng, ào ào gió Tây.
Ngoái đầu nhìn lại từ đây
Gậy mòn, phía trước tháng ngày buồn tênh
Tha hương mỗi bước gập ghềnh
Mẹ cha già vẫn lênh đênh phận người.
Thầm nghe tiếng gọi tên tôi
Về đi con.. sống cuộc đời bình yên.
Tình yêu gia đình, vợ con, yêu quê hương lại càng nổi bật trong bài thơ Đường luật “An ủi vợ” của một ông quan Việt Nam thời Nguyễn là Nguyễn Văn Lý. Bài thơ khi được chuyển thành Lục bát đọc lên thật xúc động lòng người : “Lương quan chỉ đủ tôi dùng/ Lòng mình thơm thảo vượt dòng gian lao/ Về quê sớm muộn ngày nào/ Mái tranh khói sóng ra vào có nhau”.
Dịch thơ từ thể Đường luật sang thể Lục bát như bài “An ủi vợ” và các bài Đường luật khác trong cuốn sách này, từng có những dịch giả gặt hái nhiều thành công. Ví dụ như bài Thất ngôn bát cú Hoàng Hạc lâu của Thôi Hiệu đời Đường có rất nhiều bản thơ dịch. Trong đó, đa số bản dịch giữ nguyên thể Đường luật khi dịch sang thơ tiếng Việt, nhưng các nhà phê bình văn học và dư luận vẫn đánh giá cao nghệ thuật dịch sang Lục bát của Tản Đà và bản dịch của Tản Đà đã được chọn đưa vào giảng dạy văn học trong các trường trung học phổ thông. Dù sao thì thơ chữ Hán Thất ngôn hay Ngũ ngôn có số chữ mỗi dòng không chênh lệch nhiều khi dịch thành Lục bát. Nhưng những nguyên tác thơ tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Hán được tuyển dịch trong cuốn sách này lại khác. Đó hầu hết là thơ tự do, có bài gồm những câu rất dài, thậm chí là thơ văn xuôi, lại có những bài gồm toàn câu rất ngắn. Dịch tất cả những bài câu dài, câu ngắn như vậy sang thể Lục bát trên 6 chữ dưới 8 chữ là điều không đơn giản. Dịch giả - nhà thơ Trần Mạnh Tuân đã xử lý khéo léo để giữ lại được “hốn cốt” của bài thơ nguyên tác.
Có thể dẫn những câu thơ văn xuôi trong bài thơ tiếng Anh của thi hào Ấn Độ R. Taggore: “Speak to me, my love! Tell me in words what you sang./ The night is dark. The stars are lost in clouds. The wind is sighing through the leaves...”
Nguyên tác với những dòng thơ văn xuôi rất dài được dịch nghĩa: “Hãy nói với em, anh yêu! Kể với em bằng những lời anh hát./ Đêm tối tăm mờ mịt. Ngàn sao lẫn khuất vào mây.Gió thì thầm qua kẽ lá...” (Xuân Lộc dịch).
Những câu thơ văn xuôi đó được Trần Mạnh Tuân chuyển sang Lục bát khá uyển chuyển lại vẫn giữ được cơ bản nghĩa gốc: “Anh yêu hãy nói với em!/ Những lời ca khúc anh đem trao người/ Đêm đen sao khuất mây trời/ Gió luồn kẽ lá thả lời ru cây” . Câu dịch cuối đoạn này là cách chuyển ngữ có hình tượng khá sáng tạo.
Lại có bài thơ toàn những câu rất ngắn, cuối mỗi khổ thơ là 1 câu dài như bài SPRING (Mùa xuân) của William Blake:
Sound the Flute!/Now it's mute./Birds delight/ Day and Night./ Nightingale/In the dale/ Lark in Sky/ Merrily/ Merrily Merrily to welcome in the Year...
Hãy thổi sáo!/ Bây giờ thì im lặng./ Chim chóc vui thích/ Ngày và đêm./ Chim họa mi/ Trong thung lũng/ Chim oanh trên bầu trời/ Vui vẻ/ Vui vẻ vui vẻ chào đón Năm mới...
Nhiều người đã dịch bài thơ này theo thể 3 chữ xuống dòng liên tục gần với nhịp độ bài thơ gốc. Tuy nhiên, Trần Mạnh Tuân đã chuyển sang Lục bát một cách khá tự nhiên: “Hãy vang lên tiếng sáo tiêu/ Chim ca ríu rít sớm chiều vui thay./ Sơn ca lảnh lót tầng mây/ Líu lo oanh hót đồi cây xanh trời/ Rộn ràng chào đón xuân vui...” 9 dòng thơ 8 ngắn 1 dài trong nguyên tác đã được chuyển thành 5 câu Lục bát trên 6 dưới 8 nhịp nhàng thanh thoát, ý nghĩa của nguyên tác cơ bản vẫn giữ được. Đáng lưu ý là trong 5 câu thơ dịch này, dịch giả đã sử dụng đến 4 từ láy “ríu rít”, “lảnh lót”, “líu lo”, “rộn ràng” với nhạc điệu rất hay mà nguyên tác không có. Những từ láy đó rất phù hợp với không khí ngày xuân vui tươi phấn khởi, mà vẫn không bị xa rời ý nghĩa nguyên tác.
Đó là những thành công đáng kể trong nghệ thuật dịch thơ nước ngoài đủ thể loại sang thể Lục bát của Trần Mạnh Tuân. Nhưng cũng như những dịch giả khác khi dịch sang thể loại thơ này của dân tộc, dù có dịch dễ hiểu và hay, đáp ứng tiêu chí “Đạt, Nhã” trong 3 tiêu chí “Tín, Đạt, Nhã” của Nghiêm Phục, thì tiêu chí “Tín” (trung thành với nguyên tác) dù sao cũng bị ảnh hưởng nhiều khi không còn giữ được hình thức, phong cách, kết cấu, nhịp điệu của bài thơ gốc. Người đọc không được thưởng thức cái lạ, cái hay của nguyên tác. Cho dù thơ trữ tình nước ngoài khá hợp với tính trữ tình của thơ Lục bát Việt Nam như đã nói ở phần đầu bài viết này, nhưng ảnh hưởng đến tiêu chí “Tín” trong dịch thuật của bản dịch Lục bát là điều không thể tránh khỏi.
Dù vậy, không thể phủ nhận những cố gắng và thành công đáng khích lệ trong tập thơ dịch đầu tay này của dịch giả - nhà thơ Trần Mạnh Tuân! Chúc anh sẽ tiếp tục gặt hái nhiều thành công ở lĩnh vực dịch thơ trong tương lai!
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
Phó Chủ tịch Hội đồng Văn học dịch Hội Nhà văn Hà Nội
Chủ nhiệm CLB Thơ dịch Hội Nhà văn Hà Nội.