Tôi vô cùng xúc động khi đọc bài thơ “Sao anh chưa về lại” của nhà thơ Nguyên Hà trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số đặc biệt 1026-1027, kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Bài thơ kể chuyện người chiến sĩ trước lúc lên đường vào Nam chiến đấu, có gửi lại mạ ở Quảng Bình tấm hình đen trắng của mình, và hẹn ngày thống nhất, anh sẽ quay về xin lại mẹ. Nhưng lời hẹn ấy mãi mãi không thành, anh đã anh dũng hy sinh ngoài mặt trận. Và mạ- người giữ kỷ vật của anh cũng không chờ được, nhưng con cháu mạ vẫn nhất tâm đợi chờ…
Theo tác giả, bài thơ viết về liệt sĩ Nguyễn Văn Thân, quê xã Gia Hòa, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Trên đường hành quân vào Nam chiến đấu, để giữ bí mật quân sự, đến trạm giao liên Quảng Phúc, Quảng Trạch, Quảng Bình, chỉ huy quán triệt toàn đơn vị là phải hủy, hoặc gửi lại trạm tất cả hình ảnh và giấy tờ tùy thân. Chiến sĩ Nguyễn Văn Thân đành gửi lại mạ (mẹ) ở Quảng Phúc, Quảng Trạch, Quảng Bình tấm hình đen trắng của mình và hẹn ngày thống nhất non sông, anh sẽ “về lại bến phà Gianh/ xin tấm hình gửi mạ”...
Hai câu thơ mở đầu: “Tấm hình anh gửi mạ/ trước giờ đơn vị hành quân”, đã gợi dẫn người đọc vào tình huống câu chuyện. Đó là thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đang ở vào giai đoạn ác liệt. Lớp lớp thanh niên tạm gác việc học hành, bỏ lại ước mơ, xung phong lên đường ra trận. Nhân vật trữ tình Anh cũng trong đoàn quân ấy. Bom đạn kẻ thù đuổi theo những đoàn quân “khói lửa đạn bom nhập nhoà sáng tối/ bến phà Gianh oằn mình hứng bom Mỹ giội”. Hai câu thơ ấy, có thể chưa nói được hết sự khốc liệt của chiến tranh, nhưng cũng lột tả được cái gian khổ hiểm nguy, sống chết trong gang tấc của những người chiến sĩ.
Với người mạ Quảng Bình, sau khi nhận kỷ vật anh gửi, mạ lắng lòng dõi mãi theo bóng những đoàn quân. Mạ cất giữ tấm hình như báu vật thiêng liêng: “cả khi ra đồng/ khi trú ẩn ở hầm/ khi đưa cơm cho dân quân/ canh trời giữ biển”. Vâng, người mẹ chiến sĩ ấy đã giữ trọn lời hứa với anh trước lúc anh lên đường. Mạ luôn mang tấm hình anh bên mình một cách trân trọng nâng niu, chờ ngày anh về nhận lại. Mỗi lúc nhớ anh, mạ lại rưng rưng mang tấm hình ra coi và bồi hồi xúc động… Thật diệu kì, giây phút mạ và anh gặp nhau tuy ngắn ngủi, nhưng đã kết thành sợi dây vô hình, gắn bó như tình mẹ con, tình hậu phương với tiền tuyến. Hay đó chính là niềm tin, là tình yêu giúp mỗi người có thêm sức mạnh mà tin yêu đợi chờ. Có thể sự đợi chờ của mạ là vô vọng, nhưng mạ không thôi hy vọng. Cái vĩ đại của mạ là ở chỗ vì tuổi cao…mạ không thể tiếp tục chờ anh, nhưng các con cháu theo di nguyện của mạ, họ vẫn nối tiếp chờ…Câu thơ cuối, người thơ sử dụng câu hỏi tu từ “sao anh chưa về lại?” như nhói vào lòng người đọc một nỗi đau không thể nói thành lời. Hẳn nhiên, ai cũng hiểu vì sao anh chưa về lại, và càng cảm phục sự hy sinh của người con trung hiếu ấy.
Sông Gianh một lần nữa được lặp lại ở khổ thơ cuối: “Sông Gianh/ đã mấy mươi mùa mướt xanh” như một nhân chứng sống cho sự đợi chờ bền vững của con người. Trải mấy mươi năm, sông Gianh vẫn đó nhưng không còn “cuồn cuộn sóng”, không còn phải “gồng mình hứng bom Mỹ giội” nữa, mà giờ đây, luôn mướt xanh, một màu xanh trù phú, yên ả, hiền hòa.
Là người gần như cả đời gắn với binh nghiệp, Đại tá- PGS.TS triết học, nhà thơ Nguyên Hà, đã có khoảng thời gian 11 năm lăn lộn khắp chiến trường Đông Nam bộ và Campuchia. Hơn ai hết, người thơ đã chứng kiến và thấu hiểu những hy sinh, mất mát của anh em, đồng đội mà xúc động viết nên những vần thơ, sâu lắng, tri ân những người đã không tiếc máu xương, hy sinh vì đất nước, qua đó, lan tỏa lòng yêu nước, lòng tự hào đến các thế hệ mai sau.
"Sao anh chưa về lại” của Nguyên Hà là bài thơ hay, được làm theo thể tự do, chứa đựng nhiều cung bậc cảm xúc, tạo được dư ba trong lòng độc giả. Bài thơ mang dáng dấp một câu chuyện, có tình huống, kết cấu, nhân vật, cốt truyện…mà người kể là người thứ ba chứng kiến câu chuyện có thật, và ghi lại một cách chân thực, xúc động. Qua bài thơ, tác giả đã cho ta sống lại những giây phút gian khổ nhưng rất đỗi hào hùng của những năm tháng chiến tranh. Chính những năm tháng đó, đã làm ngời sáng nên những tình cảm cao đẹp không chỉ là tình đồng chí, đồng đội mà còn là tình cảm của hậu phương với tiền tuyến, tình quân, dân máu thịt. Bài thơ chính là lời tri ân đầy ý nghĩa của tác giả, của chúng ta, với bao người đã anh dũng hy sinh vì độc lập tự do cho Tổ quốc. Qua đó, thể hiện lòng biết ơn sâu sắc tới những người mạ chiến sĩ, đã chở che đùm bọc và thủy chung chờ đợi người ra trận với một niềm tin không bao giờ tắt. Chính họ đã góp phần quan trọng làm nên cuộc sống tươi đẹp hôm nay.
-