BẢN SẮC VÀ BẢN LĨNH CỦA NHÀ THƠ
LÊ ANH PHONG

Đây không phải là câu chuyện mới với người cầm bút. Nhưng “từ bản lĩnh đến bản sắc”, tên chủ đề của cuộc tọa đàm do Hội Nhà văn Việt Nam dự định sẽ tổ chức vào Ngày Thơ lần thứ 22 xuân Giáp Thìn 2024, vẫn là câu hỏi lớn, thử thách lớn với mỗi nhà thơ.
Theo từ điển Hán Việt của Phó Giáo sư Phan Văn Các, “bản sắc” có nghĩa là màu sắc riêng. Nhưng để làm nên “màu sắc riêng” cần có bản ngã, bản thể. Mỗi bài thơ mang dấu ấn cá nhân, để nhận diện, để phân biệt. Có cá tính, thực tài, có bản lĩnh mới làm nên bản sắc và phong cách trong sáng tạo. Vì thế, không phải nhà thơ nào cũng gặp được chính mình. Bởi “mình” có thể lẫn trong đám đông, có thể nhạt nhòa, nhòe mờ, không nhận ra được. Thậm chí, càng đi tới mình càng gặp nhiều trống vắng… Con đường của thi ca đích thực không dành cho ảo tưởng, mơ hồ.
Nói như họa sĩ Trịnh Lữ, “vẽ gì cũng là tự họa”. Đọc thơ là để gặp người, gặp một chân dung tự họa bằng nghệ thuật ngôn từ, có thần thái riêng, giọng điệu riêng, không lẫn trong bầy đàn. Đây là bức tự họa của nhà thơ Nguyễn Bình Phương: “Những bóng tối lảng vảng trên tóc/ Trên mặt sông rút dải làn sương bạc/ Trong giấc ngủ thâm u bầy người điên ngơ ngác/ Đã trở về/ Khuôn mặt nước giếng khơi rạng rỡ/ Tôi châm thuốc ra ngoài gặp cỏ/ Nghĩ đến mình, nghĩ đến mình thật nhiều/ Nhắm mắt lại và từ từ hiển hiện/ Một vườn mía ngọt lúc trăng lên/ Tin vào đêm/ Không tin vào bóng tối/ Những ngôi đền rụt rè sáng cùng tôi”. Một màu riêng, bản sắc riêng rất “NBP”, tên bài thơ, nhưng cũng là tên tác giả, được chủ nhân viết tắt. Còn đây, chỉ một câu thôi, cũng đủ cho người đọc nhận ra vẻ đẹp mang bản sắc Văn Cao trong thơ: “Từ trời xanh/ rơi xuống mấy giọt tháp chàm”. Thi nhân trẻ tài hoa Lãng Thanh tuy chỉ gửi lại cho cuộc đời một tập thơ mỏng, thi tập “Hoa”, nhưng thật ám ảnh hiện sinh, vừa cổ điển vừa đương đại, dường như trời cho anh bản sắc trước khi thành mây trắng. Đây là những câu thơ thi sĩ viết về nàng 21 tuổi: “Hai mươi mốt tuổi, em vừa đủ để xòe que diêm ra ngoài bóng tối/ Nếu ly nước tràn em sẽ trôi dạt/ Da em trắng như lụa bạch, đôi mắt màu mực nho/ Em đến chiều nao cong như nguyệt”.
Nhưng có lẽ, trước hết, bản sắc cũng từ cái tạng mà ra. Tạng người sinh ra tạng thơ. Mỗi nhà thơ có một khí chất, một căn cước tâm hồn, thi cảm riêng và trải nghiệm riêng. Khi mới nhập cuộc, nào có ai chủ động chọn cho mình một giọng điệu riêng trong thơ. Cứ sống và viết, chữ nghĩa sẽ đầy đặn dần lên, bản ngã và năng lực sẽ tự định hình dần, tạng người sẽ lựa chọn tạng thơ để đi tới mình. Bản sắc trong thơ được hình thành một cách tự nhiên như vậy. Nó không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí. Nó như hơi thở, dị ứng với mọi áp đặt khiên cưỡng. Tôi chợt nhớ câu thơ của Thanh Tâm Tuyền: “Tôi gọi tên tôi cho đỡ nhớ”.
Bản sắc của thi nhân còn là căn tính dân tộc, tộc người, cách nhìn, cách cảm. Bản sắc vùng miền, bản sắc giới tính… Cùng là dân tộc thiểu số, nhưng nhà thơ của miền núi phía Bắc khác biệt nhà thơ của nắng gió Tây Nguyên, khác với nhà thơ của tháp Chàm: “Ta chỉ là chàng trai của núi/ Ta chỉ biết nói lời cho quả sai” (Dương Thuấn, nhà thơ dân tộc Tày). Bản sắc núi rừng trong thi tập “Yao” của Lý Hữu Lương cũng là một ví dụ sinh động. Lối nói và tâm hồn Dao đậm đà phong vị tộc người, âm vang trầm tích của “Một dân tộc nhỏ trên đầu ngàn núi lớn”: “Bằng tiếng nói lời mưa trên lá cọ/ Bằng tiếng khèn gọi ma đi hoang/ Người rừng/ Trở mình trước mê sảng hoàng hôn”.
Trong suy nghĩ của nhiều người, bản sắc thường gắn liền với truyền thống. Nhưng bản sắc có phải là bất biến, có phải là những giá trị đóng khung hiện hữu. Điều đó có mâu thuẫn với quy luật của sáng tạo, của tồn tại và phát triển. Vì bản mệnh của thơ là phải luôn luôn mới. Thực ra, bản sắc thường ở giữa trạng thái tĩnh và động. Truyền thống cũng vậy. Quá trình hiện đại hóa trong thơ nửa thế kỷ qua đã thay đổi hệ hình của thi ca, là minh chứng lớn sinh động cho sự tiếp biến. Bên cạnh giá trị mang tính ổn định, có những cái nhìn, những quan niệm thậm chí trở thành bản sắc của một thời kỳ không bình thường trong thơ, đã được thay bằng mỹ cảm mới, điểm nhìn mới từ thực tiễn hôm nay.
Trong “thế giới phẳng” của thi ca, trong vô vàn quan niệm khác nhau về thơ, về cái hay, cái đẹp, thậm chí trái chiều, mỗi người viết tự trang bị cho mình một bộ lọc tốt từ bản lĩnh, từ kiến văn, từ sự đối thoại cởi mở của tinh thần dân chủ và đổi mới.
Suy cho cùng, thi ca vẫn là câu chuyện của sự đối diện với chính mình. Giữa đám đông, giữa sắc màu, “có đủ cô đơn” không để đối diện với đèn, với trang giấy trắng. Có đủ bản lĩnh, năng lực và sự dấn thân để vượt thoát khỏi nhàm chán, véo von, à ơi…, vượt qua danh lợi, để đến với “chân trời có người bay”. Và thậm chí, khi tự thấy càng viết càng tự pha loãng mình, không vượt qua nổi mình, cũng cần “bẻ bút”. Một thử thách không nhỏ cho bản lĩnh.
Trước thềm Ngày Thơ
12 Tháng Giêng – Xuân Giáp Thìn

Người gửi / điện thoại