GIỮA HAI BỜ KÝ TỰ
(Đọc tập truyện ngắn “Mùa đông đời người” của tác giả Lê Minh Sơn)
Trong một lần về giao lưu với các nhà thơ Hà Nam, tôi được gặp anh, họa sĩ Lê Minh Sơn, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật của tỉnh. Phải chăng bởi cái duyên hay sự đồng điệu nào đó, sau lần ấy, dù cách xa nhau, tôi và anh vẫn hay trò chuyện trao đổi về lĩnh vực mà cả hai cùng quan tâm. Thật bất ngờ, tôi nhận được tập bản thảo truyện ngắn đầu tiên của anh, người họa sĩ của sông Châu.
Có thể nói, hiện thực trong truyện ngắn Lê Minh Sơn phần lớn xuất phát từ “đất và người” nơi miền quê anh sống và công tác. Viết về cây để thấy rừng, trong giọt nước lại hiện lên dòng sông. Quan chức, thảo dân, trí thức, nghệ sĩ… đều có mặt. Những nhân vật ấy hiện lên trong nhiều không gian khác nhau: Gia đình, xã hội, công sở, bản thể và thấp thoáng tâm linh. Những không gian riêng ấy lại trong không gian chung của mùa người thời chộn rộn.
Về thi pháp truyện ngắn, anh chú trọng con người bản thể trong cái nhìn đa chiều, trong cốt truyện tâm lý. Thế giới truyện ngắn Lê Minh Sơn tiếp cận và mở ra nhiều vấn đề của đời sống hôm nay. Góc khuất của thân phận, sự bủa vây của tham sân si, con người bên đường biên mong manh giữa thiên lương và tha hóa. Đâu là tốt, đâu là xấu. Đâu là thiện, đâu là ác. Trong cộng sinh, nhân vật là những con người của đời thường tục lụy. Họ bị giằng co, va đập, xô đẩy giữa bóng tối và ánh sáng, quá khứ và hiện tại, sang và hèn, bản ngã và tha nhân… Đa nhân cách, một loại hình nhân vật của tiểu thuyết và truyện ngắn thời đổi mới, thấp thoáng trong những trang viết của anh. Nhiều tác phẩm có xu hướng luận đề xã hội, được viết bằng nghiệm sinh, bằng sự phản biện của một nhà văn luôn đau đáu “tìm người cùng chí hướng, mà lại là chí hướng tốt, sao thật khó”.
Truyện ngắn Lê Minh Sơn khiến người đọc suy ngẫm nhiều về cuộc đời, về con người trong các mối quan hệ của một xã hội đầy biến động, nửa sáng nửa tối, phồn hoa mà xao xác, yên ả mà bất trắc… Nó hiện lên cái thời chúng ta đang sống. Nó hiện lên bi kịch nhị nguyên và những chống chếnh con người không thể khỏa lấp. Tuy “người tốt mà khổ, mà cô đơn”, nhưng những trang văn của anh không dẫn người đọc tới vực thẳm, đường cùng, vẫn ánh lên vẻ đẹp của nỗi buồn, vẻ đẹp của sự trăn trở và thao thức. Trong cát bụi của thế tục vẫn còn những khoảng sáng của ánh người: Lòng trắc ẩn, sự bao dung, dâng hiến…
Có lẽ viết về con người nông thôn, con người công sở và văn nghệ sĩ là sở trường của anh: “Cái bể cảnh”, “Chuyện của một nhà văn”, “Ông Sửu”, “Bà Hạ”, “Hai người bạn”… Chọn “Cái bể cảnh”, trong đó có cây xanh, cây si tuổi đời trên 200 năm “là báu vật, là nhân chứng của lịch sử làng, chứng kiến những buồn vui của làng Đầm suốt hai thế kỷ” để viết, thể hiện sự tinh tế và thấu đáo trong lựa chọn sự vật hiện tượng cho những trang văn về làng quê. Truyện rất đời và mang tính luận đề xã hội. Từ “cái bể cảnh” hiện lên nhiều câu chuyện về nông thôn trong cuộc sống hôm nay: Truyền thống và hiện đại, gia đình và xã hội, đổi mới và bản sắc…, thậm chí hiện lên “những chính sách bất cập về văn hóa làng”, hiện lên cả một thời đoạn đau đớn của lịch sử dân tộc trong cải cách ruộng đất. Hơn nữa, trong tâm thức “vạn vật hữu linh”, phải là người trải nghiệm thấm thía thực tiễn nông thôn, thấm thía văn hóa làng, thấm thía minh triết của đời sống, đau đáu với quê hương mới có được những trang viết như vậy, mới có được bài học sâu sắc: “Cuộc sống phải thuận theo tự nhiên”.
Truyện ngắn Lê Minh Sơn mang đến phong vị khác nhau: “Mùa đông đời người” trong trẻo trong cảm xúc, “Cái bể cảnh” luận đề xã hội, “Hai người bạn” thì ám ảnh hiện sinh… Nhân vật không rơi vào sơ lược. Nhiều tác phẩm của anh đi thẳng vào đời sống đương đại. Câu chuyện về con người không nhìn một chiều. Nó được kể lại bằng sự thấu cảm, nhưng đâu đó cũng nhiều day dứt. Truyện ngắn “Bà Hạ” kể về một tình yêu đơn phương, đắm đuối của Diệu Linh “một nữ diễn viên có cả thanh và sắc” với ông Hạ, là sếp của mình. “Ở ông hội tụ đủ cái đẹp thể chất của một pho tượng cẩm thạch”, “khi thì cùng diễn, khi thì chỉ đạo”, hai người “trong đời thường qua những đêm lưu diễn đó đây”. Vì thế, dù cách xa tuổi tác, dù có lúc tự giằng xé, dù có nhiều chàng trai muốn đến với mình, nhưng Diệu Linh vẫn theo đuổi mong ước có một đứa con với ông Hạ, rồi “sẽ đi thật xa”. Trước một người đàn ông “như thánh nhân”, mong ước ấy cũng không thành. Nhưng thực ra, “trong cuộc sống ông đã phải gồng mình lên, để gánh trên vai “hề và quan” và nợ ân tình. Ông đã định sau khi nghỉ hưu sẽ cưới hay bù trì cho Diệu Linh một cái gì đó”. Khi ông Hạ mất sớm, bà Hạ ốm liệt giường, “Diệu Linh vẫn thay bà lên khu mộ cùng với hương hoa, ngồi nói chuyện với ông hàng giờ, chăm sóc mấy cây cau, cây đại nơi ngôi mộ đôi của ông bà”. Không lợi dụng, dẫu trái với lề luật, Diệu Linh đến với ông Hạ bằng tình yêu đích thực, say đắm. Dẫu người tình đã mất, cô vẫn một mình một bóng, vẫn tôn thờ mối tình ấy như trong một giấc mộng. Trong những người con của ông Hạ, “chỉ có Nga, người nghệ sĩ có trái tim nhân hậu hiểu được mong muốn và ước nguyện của mẹ”, đó là khi chết “mẹ… không muốn… nằm gần ông ấy… chỗ ấy để cho…”. Tôi không muốn kể hết câu chuyện tình có lẽ cũng không hẳn là đơn phương và nhiều lúc cũng bối rối trước trang sách. Tôi không muốn kể cái kết mà “ngay đến cả cái chết vẫn còn oan trái”. Muốn dành cái bất ngờ đầy ám ảnh ấy cho người đọc. Trong cảnh huống đó, nếu không có sự thấu đáo về tâm lý nhân vật, về diễn biến cảm xúc, tôi tin rằng rất khó để viết nên truyện ngắn như thế.
Ở phương diện khác, trong truyện ngắn Lê Minh Sơn, chân dung âm bản của nhân vật cứ hiện dần lên trong nước thời gian, hay đó là hành trình tìm lại chính mình. Con người như bơ vơ giữa đám đông. Trong sự vô tình, thậm chí vô cảm, trong cuộc sống thực dụng, có lúc họ trở nên lưu lạc giữa những điều tưởng chừng quen thuộc. Từ lâu, con người bản thể đã trở thành đối tượng chính của văn chương hậu chiến. Trên bàn cờ thế tục, khi con tốt đã sang sông, phải chăng không thể quay đầu lại được trong đời sống. Chiến tranh đã lùi xa, nhưng nhiều trang viết vẫn còn đẫm nước mắt. “Chuyện của một nhà văn” là sự giằng co giữa tình mẫu tử với những định kiến mơ hồ. Trong ám thị, trong mặc cảm đeo đuổi, nhà văn Trịnh Lê Đoàn “đi tìm mẹ, tìm mình” từ chính cuộc đời đầy bi kịch, đau đớn của người đã sinh ra mình. Thật hú vía cho cuộc đoàn viên giữa ông với người em trai cùng mẹ khác cha, đứa con lai ra đời sau trận càn của giặc Pháp năm xưa. Những mảnh vỡ của chiến tranh vẫn chập chờn đâu đây, như muốn văng lại từ quá vãng. “Hai người bạn” là truyện ngắn khiến tôi đọc lại nhiều lần. Đó là câu chuyện vừa cảm động, vừa day dứt. Phải chăng lòng trắc ẩn, sự tử tế và chính cái chết của ông Thanh đã khiến ông Hoàng tìm lại được mình. Con đường công danh, lợi lộc kéo ông đi xa. Chỉ khi đứng trước hai nấm mộ, người bạn và đứa con nhỏ, mà vô tình bỏ qua trong quên lãng, ông mới nhận ra những điều thiêng liêng không thể mua được. Liệu ông có rùng mình khi nhớ lại “tập tiền 5 triệu lạnh buốt” đưa cho ông Thanh vay, kèm theo một giấy ghi nợ khống lên thành 10 triệu, lạnh lùng mưu toan giả dối. Liệu ông Hoàng có đau xót và tự vấn, khi sự thờ ơ vô cảm đã khiến mình không nhận ra có một đứa con gái bé bỏng tật nguyền, nay đang nằm dưới cỏ kia, là sự ra đời ngoài ý muốn của một lần trăng hoa. Đứa bé tội nghiệp ấy đã được ông Thanh, người bạn của mình nuôi dưỡng, nhưng đã mất khi mới 11 tuổi do trụy tim. Khi đọc đến những chữ nghĩa cuối cùng, bước ra từ câu chuyện, tôi vẫn còn váng vất.
Nhiều khi người đọc nhớ truyện ngắn là nhớ đến chi tiết, nhớ đến tình huống truyện. Nhà văn Lê Minh Sơn rất chú ý đến chi tiết và tình huống. Nhà thơ Xuân Quỳnh có lần thốt lên “Viết văn xuôi tốn chi tiết quá. Nhưng không thể thiếu chi tiết hay, chi tiết ám ảnh”. Trong “Bức tranh…” của cuộc chiến, người lính Mỹ tuy được anh lính giải phóng tha, chạy lẫn vào rừng rồi, thoát rồi, mà mấy chục năm sau vẫn mang theo sự ngờ vực phân vân: “Thưa ông, nếu còn sống tôi không thể quên được. Chỉ có ba viên đạn đuổi theo, tôi tưởng như trái núi đổ sụp xuống và sẽ vùi tôi trong tích tắc. Nó ám ảnh tôi suốt cuộc đời. Bởi vì mất lòng tin về cuộc sống, về lòng tốt, lòng vị tha, nhân ái mà trước đó một phút với tôi… ông là chúa trời”. Khi được anh bộ đội năm xưa, nay là họa sĩ trả lời lý do tại sao cần phải bắn lên trời 3 viên đạn ấy, chứ không phải là nhằm bắn về phía người lính Mỹ vừa được tha, họ đã ôm nhau trong nước mắt. Mùi thuốc súng đã tan trong sự giải tỏa ẩn ức. Cái nhìn nhân bản đã vẽ nên “bức tranh” hậu chiến của cuộc gặp lại đầy bất ngờ và xúc động giữa hai người lính ở hai bên chiến tuyến ngày ấy. Không chỉ trong “Bức tranh của người lính”, nhiều chi tiết và tình huống trong các truyện ngắn khác đã khiến độc giả nhớ mãi: “Ông Sửu, nguyên Phó Chánh thanh tra sở V đã nghỉ hưu tròn một tháng” thế mà không trả lại chìa khóa cho cơ quan, vẫn đến phòng làm việc xưa của mình, chỉ “khi tra chìa khóa vào ổ, mãi không mở được, tay bảo vệ cơ quan lại gần vỗ vai bảo: - Bác đến đây làm gì sớm thế, bác nghỉ hưu rồi cơ mà! Ông giật mình…”. Còn đây là tình huống của một ông nhà văn trên 60 tuổi “tóc búi tó, nghênh nghênh nhìn trời mà chẳng chịu nhìn đất, đi mất mấy vòng quanh làng mà không biết ra đường cái quan để trở về”…
Không giật gân, không màu mè, viết nhiều về chuyện tình nhưng không ngôn tình, truyện ngắn Lê Minh Sơn được viết bằng diễn ngôn của người kể chuyện đời, thi thoảng xen kẽ uymua, giễu nhại, lời ăn tiếng nói dân gian được vận dụng nhuần nhuyễn. Nhưng đôi lúc hơi tham chi tiết, hoặc sa vào “lang thang” trong tự sự, trong luận bàn, cá biệt có truyện ngắn nhưng chưa ngắn.
Tuy là lần đầu, nhưng với tập truyện ngắn của mình, họa sĩ – nhà văn Lê Minh Sơn mang đến cho bạn đọc nhiều bất ngờ. Tôi tin vào điều đó, bởi vì cuộc đời là nơi xuất phát và cũng là nơi đi tới của văn chương.
Mùa Thu 2023

Người gửi / điện thoại