Hà Nội thời chưa xa trong tâm hồn một người Hà Nội
(Nhân đọc tập tản văn Sống chậm của nhà thơ Bùi Kim Anh – NXB Văn học tháng 8/ 2018)
NGUYỄN THỊ MAI

NHÀ THƠ NGUYỄN THỊ MAI
Tiếng tàu điện leng keng; phiên chợ Mơ rộn ràng ngày mồng 2 mồng 7; những ngôi biệt thự cổ trầm lắng bên hồ với tường rào nở thắm hoa ti gôn, tầm xuân; Hồ Tây những buổi chiều gió lộng; tháng ba hoa xưa nở trắng muốt góc phố Quang Trung, tháng tám hoa sữa nồng nàn thấm vào đêm trên đường Nguyễn Du; cầu Long Biên bắc qua sông Hồng. Sông những mùa nước lên ngầu đỏ, ngày nước cạn bãi giữa xanh mướt mát và bãi cát trải dài cho lũ trẻ chạy chơi với gió sông rười rượi... Đó là hồn cốt Hà Nội một thời. Một thời chưa xa, một thời mà mỗi khi nhớ về, ta lại thấy rưng rưng, bồi hồi. Bởi trong ta có một tình yêu Hà Nội với rất nhiều kỷ niệm ngọt ngào thấm vào máu thịt, thiêng liêng và trong suốt.
Ấy là tôi nói về Hà Nội trong tập tản văn với nhan đề Sống chậm của nhà thơ Bùi Kim Anh mới ra mắt bạn đọc.
Cuốn tản văn có ba phần. Mỗi phần có tên gọi như một câu thơ: Phố chất đầy năm tháng, Hoa của mùa nào đây, Ra phố thôi thư thả kẻo rồi. Ấy là chưa kể mỗi bài viết như một bài thơ, nhiều câu viết như những câu thơ. Ngoài ra còn những câu thơ rải rác trong từng bài viết. Kể thôi, nhưng cứ tưng tửng như người chuyện trò mà sao dẫn dụ ta về với Hà Nội một thời, ta gặp ta một thời- cái thời ấy: hòa bình và chiến tranh, bao cấp và sang trọng, gian nan và thi vị, bên nhau làm nên hồn phố, hồn người, hồn Hà Nội.
Thật vậy, với cách viết tản văn rất khác biệt, kể mà như thơ, tả mà như vẽ, chuyện trò thủng thẳng mà đầy tâm sự nỗi niềm. Vì thế người đọc ai chưa sống ở Hà Nội hồi trước thấy thích thú, mê say. Ai đã từng sinh ra và lớn lên ở Hà Nội thì trào dâng cảm xúc. Nhớ và nuối tiếc vô cùng.
Bởi 47 khúc tản văn là những bức tranh muôn mặt về văn hóa, lịch sử, kiến trúc, phong tục, con người và xã hội của Hà Nội mà nhà thơ Bùi Kim Anh vẽ lại rất sống động, tinh tế. Nó cho ta thưởng thức cái đẹp của Hà Nội một thời bằng mọi giác quan :
Đó là tiếng tàu điện “leng keng lảnh lót trong những buổi sáng tính sương mùa đông”. Đó là “Những ngôi biệt thự nhỏ đóng kín, cổng sắt thưa, tường rào không cao mà thưa thoáng có trồng hoa, có lối đi trải sỏi”. Đó là “Sáng sớm mùa hè đạp xe qua cầu Long Biên gió thổi bay tung mớ tóc buông mát rượi. Đó là “Những con phố quanh hồ đêm đêm đèn đường đỏ, bóng tối xòa theo bóng cây bao trùm”. Đó còn là những cây hoa sưa nở “trắng xóa một vòm trời trên con phố thưa thớt người qua”. Và đó là “hương vị cà cuống thơm ngon theo thời gian”, hạt cốm làng Vòng “ dẻo mà không dính, ngọt mà không ngậy, thơm mà thanh tao”, quả sấu chín “tiện tròn cùi vàng, ruột trắng đục, cắn miếng chua chua ngọt ngọt mà mê”…. Rõ ràng người đọc như được nghe thấy, nhìn thấy, ngửi thấy, nếm thấy và cảm thấy trên da thịt mình một không gian riêng, một hương vị riêng chỉ có riêng Hà Nội.
Sự sống động, tinh tế trong tản văn “Sống chậm” còn thể hiện ở nhiều chi tiết ấn tượng mà chỉ những người sinh ra và lớn lên trong lòng Hà Nội thời trước mới cảm nhận hết. Ví như: “Ăn chuối phải bẻ đôi ra rồi bóc đến đâu ăn đến đó, bóc từ từ, ăn từ từ”, “Mua lạng cốm gói trong hai lớp lá, lá ráy giữ cho cốm không khô, lá sen bao bọc cho lớp lá trong không rách, cho thoảng chút hương sen. Ăn cốm nhón bốc bằng tay, chẳng ai ăn cốm bằng thìa – xoa xoa hạt cốm trong lòng tay rồi thả ít một vào miệng mà nhâm nha cái dẻo…”; “Mía dóc ra tiện thành từng khúc vừa miệng rồi để trong hộp có ướp hoa bưởi . Hương bưởi nhẹ nhàng mà ngấm vào miếng mía, nước mía thơm tan trong cảm giác ngọt ngào”. Rồi thú xin câu đối tết, thú chơi hoa ngày Tết “Một bát thủy tiên trong suốt và xinh xắn đặt nơi đầu bàn, góc phòng”. “Một bình lay ơn sang trọng trong phòng khách”.
Nhưng trong tản văn của Bùi Kim Anh phải kể đến con người của một thời Hà Nội. Họ thanh bần mà sang trọng, luôn giữ nền nếp gia phong và cốt cách lịch lãm.
Họ là người bà của tác giả: tằn tiệm, chỉn chu, đầy trách nhiệm: “Chẳng bao giờ thích may áo quần ở hiệu… vẫn giữ cái cốt cách cổ xưa chỉ có biết chồng con, bếp núc và kim chỉ vá may”. “Bà nấu ăn giỏi, thu dọn nhà cửa suốt ngày, cốc chén, nồi niêu luôn sạch bóng láng”, “tay xách làn tay dắt cháu đi chợ”. Lên tàu điện dặn cháu ngồi phía nào để nhìn thấy chợ, vào chợ bà chỉ từng loại gạo cho cháu biết, dắt cháu đến hàng lá để biết lá dong.
Họ là người mẹ của tác giả - một phụ nữ công chức trước năm 1954 giỏi giang - “nói tiếng Pháp thạo và hay như nói tiếng Việt”, làm nghề nữ hộ sinh nhưng thật lịch sự sang trọng: “Mẹ tôi đi làm thường phải mặc áo dài. Mẹ nhiều áo dài lắm, nhiều cả giày cao gót, nhiều cả ví đầm. Mẹ đi làm suốt. Cứ hai đêm ở nhà lại một đêm đi trực”.
Và họ - một thế hệ trẻ thời ấy đã hiện thân vào cô bé Kim Anh xưa có hai bím tóc nhỏ với bạn bè trang lứa thời cấp 1 ngây thơ sáng trong, hòa mình vào thiên nhiên cây cỏ trong lành và cái gì cũng háo hức : “Học bài xong là đi. Đường phố thì ngắn và vắng nhưng chẳng lo gì”. Nào chơi ô ăn quan, nhảy dây, chọi cỏ gà. Nào “Tranh nhau nhặt quả sấu non, chẳng cần chùi đưa ngay lên miệng vì sợ bạn cướp mất”. Nào nhặt cánh hoa phượng rơi xâu chuỗi làm vòng đeo cổ đeo tay. Có khi “lang thang trên hè phố, vun cánh hoa sấu rơi thành từng vốc để thả bay lên tóc bạn tóc mình”. Và có lúc một mình lặng lẽ “nhìn qua kẽ hàng rào” ngắm những ngôi nhà chẳng bao giờ mở cửa để tưởng tượng ra đó là lâu đài đầy bí ẩn trong chuyện cổ tích.
Họ cũng là những người dân lao động, người buôn bán thật thà, tử tế: “Những cô gái bán hàng hoa áo dài tứ thân màu nâu hai vạt buộc trước lật qua lật lại theo nhịp đôi quang gánh. Những bông hoa được bàn tay người bán hoa xếp nhẹ nhàng trong manh lá chuối , lá dong, buộc dây lạt cho người mua xách khi về chợ”; Người bán cốm “Đội một thúng cốm trên đầu. ai mua hạ xuống rất nhẹ nhàng như nâng niu, khẽ khàng”. Anh thồ than nhem nhuốc bị đổ xe làm tắc cầu Long Biên dài dài mà chẳng bị ai nói gì, chỉ có ánh mắt nhìn cảm thông, ái ngại.
Họ còn là những dân nghèo thành thị, những công chức bình dân, tiềm tiệm thôi nhưng Tết đến bao giờ cũng có cành đào, cây quất, bình hoa lay ơn hay thược dược trong nhà, có câu đối treo trên tường, có hộp mứt Hà Nội cúng tổ tiên, có chiếc áo bông mới cho con, có trà ướp hương sen đãi khách. Ngày thường vất vả đi làm, tối tối vẫn đến Nhà hát Nhân dân – một công trình lớn nhất Thủ đô, xem biểu diễn nghệ thuật ngoài trời. với tấm vé giá vừa tầm và bao giờ cũng ghi “Khi đi nhớ mang theo áo mưa. Rồi cứ chiều thứ bảy nhà nhà lại cùng nhau ra tổng vệ sinh đường phố, vỉa hè, cống rãnh, lòng đường. Và khi sông Hồng nước lên cao mấp mé bờ đê, người người lên cầu Long Biên xem nước để rồi thông báo cho nhau từng giờ mực nước, bảo nhau mua lương thực dự trữ, người trong phố cho người ngoài đê cư trú tránh nước, “lo lắng len khắp phố phường, lòng người quy về một mối”…
Tất cả họ là người Hà Nội một thời, được không gian thiên nhiên trong lành, môi trường xã hội bình yên nuôi dưỡng, bồi đắp cho tâm hồn họ giàu lòng nhân ái, tin yêu và lãng mạn. Cho con người họ có nhân cách tử tế, biết ứng xử lịch lãm. Đó chẳng phải là phẩm chất Hà Nội của người sống ở Hà Nội ư.
Tôi thiển nghĩ: Làm nên phẩm chất Hà Nội trong sáng tạo văn học là phải có hai phía. Phía người sáng tạo và phía tác phẩm. Nếu nhà văn- người sáng tạo không có kỷ niệm sâu sắc với Hà Nội, không yêu Hà Nội, không tha thiết, nâng niu, trân trọng những gì Hà Nội cho mình thì khó có cảm xúc viết, mà cố viết thì giả. Còn phía tác phẩm: Phải làm cho người đọc nhìn thấy cái riêng, cái đặc trưng, cái khác biệt làm nên bản sắc văn hóa thuần túy Hà Nội, đích thực Hà Nội thì tác phẩm không những tôn vinh những giá trị văn hóa, lịch sử, xã hội của miền đất Thủ đô mà còn góp phần nâng cao, giữ gìn bản sắc riêng và bồi đắp cho tâm hồn, nhân cách người Hà Nội ngày càng tốt đẹp, cao thượng hơn. Hai điều đó đều có trong tập tản văn Sống chậm của nhà thơ Bùi Kim Anh. Bởi chị yêu Hà Nội thực sự, yêu cái thanh cao, lịch lãm, trong lành ngày xưa và yêu cả cái đổi mới ồn ào náo nhiệt hôm nay.
Nhưng cái “hôm nay”, “bây giờ”, Bùi Kim Anh thường nói đan xen khi kể về cái “ngày xưa”, “ngày trước” để so sánh, để nuối tiếc, để thở dài… để tỏ rõ thái độ với những gì xô bồ, hẩu lốn, tạm bợ, bon chen, phá vỡ những giá trị văn hóa của Hà Nội. Tuy nhiên chị vẫn tìm thấy trong cái “hôm nay”, “bây giờ” những gì vẫn còn lưu giữ tốt đẹp. Trong cái xô bồ vẫn còn điều tử tế đáng trân trọng, nhiều cái còn trớ trêu, ngang trái nên tha thứ cảm thông. Bởi chị biết điều gì còn lại đến hôm nay là nét đẹp trường tồn làm nên bản sắc văn hóa Hà Nội. Điều gì hôm nay đã thay đổi, khác trước là quy luật tất yếu, phải chấp nhận để cuộc sống phát triển tốt đẹp lên.
Cho dù trong tản văn “Sống chậm” còn nhiều ý lặp, có khi kể lể, có khi tản mạn tùy hứng, đôi câu rông dài như lời nói vo nhưng vẫn là tình cảm chân thành, thiết tha da diết của người viết với Hà Nội.Tình cảm ấy nhiều lúc thốt thành lời: “Ôi Hà Nội của tôi. Ra phố về có lúc bực mình vì lộn xộn, vì bụi bặm, vì hơi xăng. Dưng mà đi xa nhớ lắm. Một tình yêu không thể đổi thay khi đã gắn bó bao đời Hà Nội, khi cả trong hơi thở, giọng nói mang dấu ấn thời gian Hà Nội lòng người”.
Vì những lẽ trên, tôi trân trọng vô cùng những giá trị kiến thức, giá trị cảm xúc mà cuốn sách mang đến cho mình.

Người gửi / điện thoại