Có nửa vầng trăng yêu thương trong thơ một người lính
NGUYỄN THỊ MAI
Tác giả Nguyễn Hồng Minh đã có 7 tập thơ dày dặn với gần ngàn bài thơ ông dành gửi gắm nỗi niềm của người lính từ trong chiến trận bước ra hoà bình và giữa cuộc sống hiện nay.
Thơ ông giàu hồi ức về chiến tranh, nặng tình với đồng đội, yêu Tổ quốc quê hương và đặc biệt yêu thương con người tha thiết.
Đã từng sống chết dưới đạn bom, lăn lóc qua bao chiến trường khốc liệt từ Việt Nam đến Căm phu chia, đã từng chứng kiến những gian nan cơ cực của đời lính và những hy sinh đau xót của đồng đội, Nguyễn Hồng Minh biết rõ hơn ai hết cái giá của máu xương đổi lấy đất nước này, nhân dân này. Và mọi tâm sự của ông đã dồn nén thành thơ ngay từ khi bước ra khỏi cuộc chiến.
Giải phóng rồi
Đồng đội tôi nước mắt mặn cay
Có thằng cười, mắt nhoà sao lại khóc
Đêm đầu tiên giấc ngủ về khó nhọc… (Trận đánh cuối cùng khúc khát buổi bình minh)
Từ ấy, thơ Nguyễn Hồng Minh tuôn trào trong cảm xúc. Trái tim ông buồn vui với cuộc đời và đôi mắt ông cười mà nhoà lệ. Thơ ông dần dần hiện ra bao gương mặt người yêu dấu, trong đó có người phụ nữ. Họ là mẹ, là chị, là vợ, là em, là đồng đội… Họ đẹp và sáng trong như vầng trăng. Thơ Nguyễn Hồng Minh đã gửi gắm tình yêu và lòng biết ơn tới họ đúng như lời ông tâm sự ở đầu sách.
Trước hết là người mẹ của một thời trận mạc. Nguyễn Hồng Minh và thế hệ ông sinh ra khi đất nước còn trong cuộc kháng chiến chống Pháp “Tôi sinh ra, chiến tranh rồi/ Ì ầm đạn nổ, bom rơi tứ bề” (Mẹ tôi) và họ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nỗi gian nan vất vả của nhân dân cũng là nỗi gian nan vất vả của những người mẹ sinh ra thế hệ họ. Đó là hình ảnh những người mẹ nghèo khổ, gánh con đi tản cư chạy giặc, chịu đói rét nhường cơm áo cho con và thương chồng yêu con nhất mực “Áo quần mẹ rách tả tơi/ Vai sưng rớm máu vẫn ngồi chăm con/ Một đời mẹ chịu héo hon/ Thương chồng một bước, thương con vạn lần” (Mẹ tôi). Từ lòng yêu thương mẹ mình, Nguyễn Hồng Minh mở lòng yêu thương đến bao bà mẹ khác. Ông nhận ra phẩm chất cao cả nhất của những người mẹ thời trận mạc là đức tính chịu đựng hy sinh, nén lòng thương xót đóng góp chồng và con mình cho cách mạng:
Những năm bom đạn lửa vồng
Chiến trường xa mẹ ngóng trông từng ngày
Chồng đi biền biệt chân mây
Đợi người xa vắng chất đầy bão giông
Tiễn con nối bước theo chồng
Đâu còn nước mắt, nén lòng mẹ ơi! (Bóng mẹ chiều hoang).
Thơ Nguyễn Hồng Minh chân thực ở những câu thơ như thế. Ông không tả cuộc tiễn đưa tòng quân hân hoan trống dong cờ mở. Ông nói về sự nén chịu đau khổ và những giọt nước mắt có thật ở những người mẹ. Đây mới chỉ là nước mắt nhớ thương mong đợi mà đã cạn. Thế rồi khi. “Mẹ tôi mất hết cả chồng lẫn con” thì bài thơ lại không hề nói đến nước mắt nữa. Bởi nước mắt không đủ giãi bày nỗi đau đớn hoang tàn trong cõi lòng người mẹ. Nỗi đau khiến người mẹ vô thức, u mê, chơi vơi không biết bấu víu vào đâu, không biết cả sự tồn tại của bản thân mình: “Mẹ tìm trong cõi u mê/ Tìm trong ký ức, tìm về cõi thiêng/ mẹ tìm lúc trẻ mưa giêng/ Về già tàn bấc đèn nghiêng cạn dầu…(Bóng mẹ chiều hoang). Tả đến thế là đến tận cùng của nỗi đau thương mất mát. Quả là, dù cuộc chiến kết thúc thắng hay bại thì người mẹ vẫn là người mất mát lớn nhất, mang nỗi đau con người nhiều nhất. Và ta mới hiểu vì sao những người lính trước lúc hy sinh, chới với, thường thốt lên câu gọi “Mẹ ơi!”. Bởi mẹ là thiêng liêng nhất, là thần giao cách cảm nhất trong cuộc đời họ. Cho nên Nguyễn Hồng Minh cũng như bao người con ra trận, phải xa, phải gian nan giữa cái sống và cái chết mới thật thương mẹ và hiểu rõ nỗi đau của tình mẫu tử:
Con đi trăm nẻo đường dài
Không bằng nửa bước
Chông gai mẹ chờ (Lòng mẹ).
Điển hình là bài thơ Mẹ ru con ngủ à ơi. Trong đó có hình ảnh bà mẹ 110 tuổi đón con trở về sau 50 năm xa cách. Nhưng con trở về chỉ là một gói xương trước mẹ. Bài thơ có những câu thơ ám ảnh xót xa vô cùng:
Thằng út mẹ khắc khoải lâu
Trở về gói nhỏ lặng đau bàng hoàng
Khi đi cao lớn, giỏi giang
Khi về nằm gọn túi gang cuộn tròn.
Nếu không là người lính, có lẽ thơ Nguyễn Hồng Minh không sâu sắc đến vậy.
Và cũng vì là người lính mà ông còn dành nhiều nỗi niềm cho người phụ nữ là vợ là người yêu của lính. Thơ ông khắc hoạ đậm nét hình tượng họ với hai chiều cảm nhận:
Đẹp mà buồn:
Khi chúng mình xa nhau
Bãi sông làng rực mầu trời đỏ
Anh cất vầng trăng nhỏ
Ủ trong mắt em vời vợi nhớ mong…(Nửa vầng trăng đợi).
Rất yêu thương nhưng sẵn sàng chấp nhận để người yêu vào nơi bom đạn vì Tổ quốc.
Tình yêu mình, anh ơi
Giọt thương bên giọt nhớ
Phương Nam xa bừng trong đạn lửa
Bến đò xưa em vẫn đợi anh về (Hoa đợi tháng ba)
Thuỷ chung mà thiệt thòi:
Lời ru buồn vắng lặng bến quê
Xót thương em qua thì con gái
Tiễn người đi mùa vàng hoa cải
Đò ngang sông…
Bến đợi…. Ai về? ( Bến đợi)
Hai chữ thuỷ chung đối với người lính bao giờ cũng thiêng liêng, quý giá. Đó là động lực, niềm tin, hy vọng để người lính yên tâm lao ra chiến trường. Thiên nhiên đất nước đã tạc tượng bằng đá về sự thuỷ chung ấy. Còn trong mắt nhìn của người lính Hồng Minh thì mỗi người vợ, người yêu nơi quê nhà là một tượng đài về lòng chung thuỷ: “Hòn Vọng phu xa lắc ở đâu/ Quê mình nơi nào cũng có”. Ông tôn vinh cái đẹp của sự thuỷ chung dù biết rằng cái đẹp ấy làm thiệt thòi cả đời người phụ nữ thời chiến tranh trận mạc.
Héo mỏi mòn nhớ người đi xa ấy
Bến sông buồn thuyền đợi mãi người xưa…(quê hương mình nơi có mẹ và em).
Ngày nay, thời hiện đại hoá – công nghiệp hoá, hai chữ thuỷ chung vẫn được trân trọng nhưng không còn quan trọng nữa. Các thế hệ về sau sẽ không tưởng tượng nổi vì sao phụ nữ có thể chờ chồng, chờ người yêu đến hoá đá, bỏ phí tuổi xuân đến suốt đời. Chỉ có thể lý giải rằng trong tình yêu với người lính ra trận, có sự thiêng liêng, trân trọng, xác tín như một đức tin ở người phụ nữ. Vì thế phẩm chất ấy là giá trị của một thời, làm nên sự nghiệp anh hùng của thời đại anh hùng. Thơ Nguyễn Hồng Minh đã nói được điều đó:
Hơn bốn mươi năm anh không trở về
Bao mùa cải vàng, hàng cau vườn trĩu quả
Giàn trầu già bật mầm non xanh lá
Lẻ bóng đời… bạc tóc … vẫn đợi anh ( Đợi anh về).
Như trên đã nhận định: Thơ Nguyễn Hồng Minh giàu hồi ức về chiến tranh, nặng tình với đồng đội. Đúng vậy, nhưng trong đó, khắc hoạ đậm nét nhất vẫn là những đồng đội nữ trong chiến trường đối với tình cảm của ông. Có thể kể các bài thơ như: Chuyện tình ngã ba Đồng Lộc, Đợi anh về, Dốc Ba Thang em nằm trẻ mãi tuổi hai mươi, Chiều mùa thu Đồng Lộc, Suối Cô Tiên, Gặp em giữa rừng Trường Sơn, Bức ảnh người con gái đánh đàn trên đường Trường Sơn, Cô gái lái xe, Cô gái Trường Sơn, Đêm Trường Sơn nghe em hát, Hoa xấu hổ, Hoa lan rừng, Một thời để nhớ, Phu La Nhích những bông hoa huyền thoại, Thương em ngày ấy…
Đồng đội của ông, họ là các cô gái Thanh niên xung phong mở đường cho xe vào mặt trận, là các cô gái tải đạn, tải thương, là cô văn công biểu diễn phục vụ bộ đội ở Trường Sơn, là em gái giao liên và có cả em nữ sinh viên làm biệt động thành… ông viết về họ với lời thơ nâng niu quý trọng. Không oang oang tôn vinh công trạng, cũng không thi vị hoá công việc họ làm mà ông kể và tả thực cảnh đời của họ để giúp ta hiểu rằng: Chiến tranh là hy sinh, gian khổ cơ cực với người đàn ông, nhưng với phụ nữ nó còn tàn khốc kinh khủng hơn nhiều. Hãy nghe ông viết về mặt trận Phu La Nhích bên Tây Trường Sơn:
Phu La Nhích một ngàn ngày bám trụ
Một ngàn ngày bom giội, đạn xuyên…
Phu La Nhích sự sống chết dần
Đàn kiến nhỏ xác khô
Cá trắng bụng xoay tròn vực nước
Đêm nối ngày bom trùm đạn chớp…
Ở đó có trung đội nữ TNXP gồm 37 cô gái rất trẻ đang bám trụ để lấp hố bom san đường cho xe vào tuyến lửa. Và ông đã đưa vào thơ những gì họ phải chịu đựng: “Nhà là hang, đá nền giường ngủ/ Cơm gạo mốc, rau rừng thay bữa/ chấy bu đầu thâm sì, ghẻ ngứa…/ Đêm chuột cắn tay bật máu kêu trời/ sốt rét vàng da, tóc rụng thưa rồi/ Hang thành nấm mồ bom vùi toạ độ.. . (Phu La Nhích những bông hoa huyền thoại). Đúng vậy, sống được, bám trụ được với hoàn cảnh thiếu thốn, khắc nghiệt, bom đạn như vậy thì quả là những con người huyền thoại. Bây giờ, chiến tranh đã lùi xa nửa thế kỷ. Ai biết họ là ai? Nếu không có thơ với những câu thơ thương xót thế này:
Thân em hoá đá đường ra chiến trường
(Bức ảnh người con gái đánh đàn trên đường Trường Sơn)
Như bông lan rừng mang trong mình huyền thoại
Làm ngọn đuốc đường ngầm
Sáng cọc tiêu anh lái
Cắm cờ đỏ phá bom
Sống chết chỉ giây thôi… (Hương lan rừng)
Mấy tháng sau tóc rụng trơ đầu
Run cơn sốt rét vàng da tái
Thân sút gầy hai mắt quầng sâu… (Cô gái Trường Sơn)
Và những cô gái lái xe Trường Sơn tiếp đạn dược và nhu yếu phẩm cho bộ đội dưới trời bom đạn. Họ mới tài tình, giỏi giang và dũng cảm làm sao:
Đường rừng hẹp vòng vèo núi vực
Lỗ chỗ hố bom, lắm ổ voi, trâu
Lên dốc máy gầm, xuống đèo tối mắt
Tim đập run nhìn chẳng rõ đâu. (Cô gái lái xe)
Còn nhiều, rất nhiều nữa những cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc, ở những cung đường bom rải thảm…vùi thân mãi mãi chẳng về.
Không thể dẫn hết những câu thơ viết về đồng đội của Nguyễn Hồng Minh. Bởi ông đi nhiều, gian khổ nhiều, tận mắt thấy nhiều hoàn cảnh sống của đồng đội nữ nên ông thương cảm. Và còn bởi ông có tấm lòng yêu thương nhân hậu, biết chia sẻ mới đưa được họ vào thơ cho ta đọc hôm nay.
Nhưng chưa hết. Những người con gái ấy, trẻ đẹp như thiên thần mà quăng vào chiến trường gian khổ. Người hy sinh thì đã thiệt thòi, người được trở về thì cả một đời lận đận: “Em tôi đang thì con gái/ Cô thanh niên xung phong ngày nào/ sao vẫn “phòng không”…/ Xóm không chồng nỗi đau nào lấp nổi (Đợi anh). Họ đã phải hy sinh quyền làm vợ làm mẹ đáng ra họ có thiên chức ấy: “Qua năm lứa tuổi cập kê/ Đời thường tay trắng nặng nề lòng ai… cô đơn thân gái phận sầu/ Cùng tuổi em đã từ lâu có chồng ( Thương em ngày ấy). Họ chính là bi kịch của chiến tranh, là gương mặt thật của chiến tranh mà Nguyễn Hồng Minh đã mô tả được một cách sinh động khiến ai đọc đến cũng mủi lòng.
Thơ Nguyễn Hồng Minh còn nhiều câu thật thà, thật lòng như lời lẽ đời thường nhưng chính những điều ấy làm nên giá trị thơ ông. Đó là tính hiện thực đời sống được viết ra từ vốn sống phong phú của một người lính từng trải cộng với tấm lòng nhân hậu bao la. Ở những bài thơ mang đề tài đấu tranh với cái ác, cái bất nhân, cái phi nhân tính… giọng thơ ông cứng rắn, nghiêm túc với thái độ phản biện rõ ràng, không né tránh. Đó là phẩm chất người lính, là gia tài tâm hồn nhân cách người lính.
Đọc thơ Nguyễn Hồng Minh càng thương người phụ nữ thời trận mạc mà ông miêu tả, càng quý trọng tâm hồn ông – Tâm hồn của người lính chỉ biết yêu thương cuộc đời và con người. Vì tình yêu ấy mà ông chiến đấu hy sinh, Vì tình yêu ấy mà ông làm thơ : Cho nước Việt tôi yêu/ Bao đồng đội tôi đã ngã xuống/ bên ngực trái mình viên đạn không xuyên thủng bài thơ ( Thơ).
Cảm ơn ông và hy vọng ông còn viết nhiều nữa những bài thơ giàu cảm xúc từ đáy lòng mình.
Thanh Xuân, ngày 19/10/2022

Người gửi / điện thoại