Ngược thời gian – một bức tranh hiện thực về nông thôn còn nguyên giá trị
(Giới thiệu tiểu thuyết Ngược thời gian của nhà văn Lê Tự)
NGUYỄN THỊ MAI

Cách nay khoảng 30 năm về trước, khi tỉnh Hà Tây chưa hợp nhất về Thủ đô Hà Nội, giới văn nghệ Hà Tây còn là một lực lượng sáng tác hùng hậu với nhiều tên tuổi sáng giá trên văn đàn cả nước thì nhiều người đã biết đến một cây bút văn xuôi với nhiều truyện ngắn bám sát hiện thực cuộc sống bằng bút pháp mạnh mẽ, sâu sắc và hóm hỉnh nhưng gửi gắm nhiều nỗi niềm đầy tính nhân văn. Ấy là nhà văn Lê Tự.
Đánh giá về sự nghiệp sáng tác, có thể nói Lê Tự là một nhà văn đam mê, xông xáo, bền bỉ, nhiều trải nghiệm và giàu vốn sống, nhất là vốn sống ở làng quê nông thôn với diện mạo xã hội đa chiều phức tạp của thời hiện đại.
Từ sở trường viết truyện ngắn với những truyện có tiếng vang như “Thuận tình” giải Nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ năm 1998, “Đời quân tử” và “Điệu cười ha hả” giải Ba cuộc thi truyện ngắn Hội Văn học nghệ thuật Hà Tây năm 2002, Lê Tự đã thử nghiệm viết truyện dài với tác phẩm “Thám tử Ba Khía và cộng sự” rồi ông tiến đến viết tiểu thuyết với hai tác phẩm: “Bố tôi làm Mặt trận” và “Ngược thời gian”. Nhìn lại chặng đường sáng tác và những năm tháng tác phẩm ra đời, thấy ông viết chưa nhiều nhưng tốc độ viết đang nhanh dần, nhiều dần và chất lượng cũng với tốc độ ấy. Thật thế, sau tiểu thuyết “Ngược thời gian”, nhà văn Lê Tự đã xong bản thảo và chuẩn bị in cuốn tiểu thuyết tiếp theo với nhan đề: Hương bùn. Đánh giá ông với hai chữ “Say mê” nghĩa là ông không chỉ say mê văn chương chữ nghĩa mà còn say mê đề tài nông thôn với thân phận người nông dân lam lũ một đời không hết khổ, luôn bị bắt nạt và bị đối xử không công bằng. Nhưng họ là những điển hình về nhân cách sống, biết năng động làm chủ thân phận để vươn lên khiến người đọc cảm phục thương yêu sâu sắc và kẻ ác phải động lòng trắc ẩn.
Với hơn 300 trang sách, tiểu thuyết Ngược thời gian là một minh chứng cho những đánh giá trên.
Đó là làng Từa – một ngôi làng vốn thuần nông yên ả từ bao đời, có cây đa quán nước, có đồng ruộng, ao hồ, có những người nông dân hiền lành chất phác chỉ biết chồng cày vợ cấy làm ra hạt lúa sinh nhai như bao ngôi làng thân thuộc trên quê hương đất Việt. Đâu ngờ một ngày kia luồng gió đổi mới của thời kinh tế thị trường thổi về làng cuốn đi tất cả. Đồng tiền giúp thay đổi bộ mặt hạ tầng nông thôn khiến cho làng quê khang trang như phố phường nhưng đồng tiền cũng cướp đi những giá trị văn hóa, đạo đức từ lâu vốn là truyền thống tốt đẹp. Làng Từa dưới ngòi bút của tác giả cũng là điển hình cho bao ngôi làng khác trong thời kỳ đổi mới tiến lên công nghiệp hóa – Hiện đại hóa “Làm nông nghiệp toàn lỗ, đàn ông bán xới đi xây dựng, phu hồ. Đàn bà khỏe thì đi làm ô sin, con gái đi xuất khẩu lao động… Xóm làng thay đổi bề ngoài nhưng xơ xác bên trong” ( trang 47). Ấy là lời khái quát của tác giả xen kẽ vào câu chuyện làng Từa.
Và câu chuyện làng Từa được kể rằng: Làng có cây đa cổ thụ trên dưới một ngàn năm đầy linh thiêng và huyền bí. Dưới gốc đa ấy có một ông già dân gọi là cụ Bờm chuyên bán nước vối kiếm sống nhưng được mọi người kính nể, tôn trọng tuyệt đối. Kính nể vì cụ Bờm hiểu và trò chuyện được với thần cây đa. Tôn trọng vì cụ Bờm sống gương mẫu, có bản lĩnh, biết điều hơn lẽ phải, luôn khinh ghét kẻ độc ác hại dân và bênh vực kẻ nghèo hèn. Trong làng, nhà ai có việc gì khó hoặc mỗi khi làng có sự vụ bất thường, mọi người đều đến hỏi cụ. Lời cụ như lời mách bảo của thần đa. Cụ đã dạy dân làm đơn tố cáo kẻ bán đất sai trái, tham nhũng do lợi dụng chức quyền và luôn khuyên giới trẻ làm ăn chân chính. Làng có lão Trưởng thôn Trần Hành tham lam, mưu mẹo luôn tìm cách trèn ép lừa dối dân. Hắn đã lợi dụng chức quyền xui dân bán đất thổ canh, chứng nhận đất sai pháp luật để kiếm tiền, nghĩ ra nhiều mưu hèn kế bẩn để thu lời như thu lệ phí tán gái làng, quảng bá cây đa để thu tiền tham quan của khách. Tội ác nhất là hắn không sợ thế lực thần linh nào cả. Dám đốt cây đa làng, đổ phân triệt hại cụ Bờm, dám ngang nhiên đập phá tượng Phật. Làng có tay chủ đầm cá tên gọi cậu Tương vốn đi tù về, ít học nhưng hiểu đời, khôn ngoan mưu tính nhằm chống chọi với các thế lực chèn ép, bóc lột mình để giành giật đồng tiền bằng mọi cách, nhưng rồi cũng ngộ ra rằng cần buông bỏ tất để làm người lương thiện. Làng còn có lão Lý Kiễn một tên bợm có tài lừa lọc trong kinh doanh như mở Công ty chế biến thịt chó xuất khẩu nhưng thực chất là nơi môi giới cho gái làng lấy chồng ngoại quốc và mở dịch vụ Karaoke, thư giãn masa nhưng để kinh doanh mại dâm. Bản chất của Lý Kiễn là chuyên lươn lẹo dối trá để kiếm tiền trên sự ngây thơ dốt nát của dân làng, nhất là phụ nữ. Ngoài ra nhân vật xưng tôi trong chuyện tên là Nhất - chính là nhân vật kể chuyện thay cho tác giả. Nhất là thanh niên mới tốt nghiệp Đại học Sư phạm nhưng không xin đâu được việc dạy học nên làm đủ nghề như chạy xe ôm, trợ lý, dò la và thực hiện âm mưu đen tối cho cậu Tương.
Chuyện làng Từa xoay quanh những sự việc buồn, vui, căm giận, uất ức, đau thương, bi hài… đủ mọi cung bậc để tập trung nêu bật 4 vấn đề lớn của nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới chuyển sang kinh tế thị trường: Dân bỏ ruộng vì trồng lúa thu nhập lỗ; Đất đai bị thu hồi đền bù rẻ mạt để rơi vào tay kẻ đầu cơ kiếm lời lớn; Nhiều nghề kiếm tiền mới xuất hiện nhưng chỉ thu hút giới lao động trẻ và làm thoái hóa đạo đức con người. Người có học hành bằng cấp thì thất nghiệp, không thể đem tri thức phục vụ quê hương.
Từ hiện trạng ấy, bộ mặt xã hội ở nông thôn được phản ánh qua bản chất và hoàn cảnh của từng lớp người trong tác phẩm: Quan chức thì trèn ép dân để vơ vét và triệt hạ lẫn nhau để ngoi lên. Thanh tra thì ăn tiền ngậm miệng. Bọn có tiền làm ăn chụp giật, phi pháp. Tri thức thì bất lực, bị lôi kéo. Người dân lương thiện thì bị lừa gạt, bắt nạt.
Nhưng cuối cùng truyện cũng kết thúc có hậu, đầy lạc quan chứ không bi quan bế tắc: Ấy là Làng Từa nhờ cụ Bờm truyền cho bí quyết đã có nghề nấu xôi đặc sản làm giàu cho dân làng. Người biết hướng thiện và có tài như cậu Tương được trọng dụng. Người có học và tử tế như Nhất lấy được vợ là chị Miên giỏi giang, nhân hậu. Còn những kẻ cậy quyền thế vơ vét, gian ác, lừa lọc như Trần Hành, Lý Kiễn thì bị pháp luật trừng trị. “Luật pháp đã được thiết lập, những kẻ coi thường kỷ cương đã bị bắt hết, bất chấp là ai. Những ngôi nhà cao tầng bị máy xúc đập nát, đổ vật xuống như đống phế tích hết thời” (T329)
Cái tài của tác giả là những vấn đề lớn nêu trên được cụ thể hóa bằng những tình tiết, sự việc rất phổ biến ở làng quê hiện nay qua lời kể chân thành nhưng với giọng điệu hài hước có khi tếu táo khiến người đọc cười mà rơi nước mắt.
Sự hấp dẫn của truyện trước hết là cách nắm bắt hiện thực rất thức thời, phản ánh rất trung thực tình trạng nông thôn thời kỳ đổi mới bị đồng tiền tha hóa con người.
Sự hấp dẫn nữa là việc xây dựng nhân vật không theo truyền thống của tiếu thuyết. Tức là không chỉ có 2 tuyến đối kháng kịch tính mà có nhiều tuyến đối kháng cọ xát. Giữa ác với thiện, giữa ác với ác. Đặc biệt nhân vật rất điển hình nhưng không tuyệt đối. Trong lương tâm quỷ dữ vẫn có chút lương tâm con người. Độc ác, tham lam, khát tiền điển hình như Trần Hành cũng có lúc thấy nhục nhã khi nghĩ đến việc ly hôn đuổi vợ trắng tay ra đường. Mưu hèn kế bẩn, đầu gấu như cậu Tương cũng có lúc cao thượng, vị tha và biết yêu thương. Lừa lọc, gian manh như Lý Kiễn cũng có lúc biết mình có tội, mong giúp cho người dân được cải thiện cuộc sống và tình cảm. Yêu chồng như cô Đào vẫn đi làm gái để tìm cách cứu ao cá của chồng và vẫn bỏ chồng ra đi….đó mới là tính chân thực cuộc sống mà tác giả phải trải nghiệm và tinh tế mới xây dựng được. Còn với những nhân vật phụ như chị Miên, cô Mai, cô Đoan, mụ Béo, kể cả cô con gái cụ Bờm… dù họ chỉ là “phông, nền” làm nổi bật tính cách nhân vật chính nhưng ai cũng có “chân dung” riêng, gây ấn tượng thực sự trong tình cảm người đọc chứ không hề mờ nhạt vô vị. Riêng nhân vật cụ Tam và hai con trai của cụ. Họ chỉ xuất hiện trong 3 trang sách mà quan niệm sống, hành động, ngôn ngữ của họ không chỉ ấn tượng mà còn rất thú vị , tâm đắc với nhiều người đọc.
Nhưng hấp dẫn nhiều trong tiểu thuyết Ngược thời gian có lẽ là những tình tiết ly kỳ, huyền ảo. Ví như việc cụ Bờm chui vào hốc đa trò chuyện với thần đa, cành đa gãy đâm thẳng vào người Trần Hành, máu đa đỏ chảy lai láng như máu người; chuyện thần thánh cho bí quyết nấu xôi thằng Bờm.v.v… viết được những tình tiết ly kỳ hư ảo ấy phải là người giàu trí tưởng tượng, giàu tính lạc quan, nắm bắt giỏi tâm lý người đọc, có tài xây dựng tính hình tượng của văn học mà người cầm bút trên 30 năm như nhà văn Lê Tự thì chắc chắn ông đã thành công. Tuy nhiên cũng không nên lạm dụng quyền hư cấu tưởng tượng quá mức đến độ ngoa dụ khiến bạn đọc nghi ngờ như chuyện cô Nga – xã viên trông ao bèo dâu của Hợp tác xã, nhiều đêm cho trai làng trước khi tòng quân được sờ mó người cô để biết mùi đàn bà, thậm chí còn cho một chàng tân binh ngủ đến nỗi cô có thai phải trốn biệt. Rồi chuyện chuyên gia học bên Tây về làng tập huấn cho chị em biết cách chống lại bạo lực bằng chính bạo lực. Đó là ngón đòn bóp bộ phận sinh dục của chồng khiến chị em rất thích thú. Rồi những chuyện cuộc thi “Người chồng ngu nhất làng”. Chuyện chiếc máy làm thịt chó, thả con chó vào đầu này tức thì đầu kia đùn ra 7 món ăn ngon lành. Chuyện HTX xây hố xí chung cho cả làng, ai đi vào đó được cộng 10 điểm đến nỗi có ngày một gia đình 5 người rủ nhau đi ngoài đến 15 lần được 150 điểm. Còn bây giờ dãy hố xí công cộng đó được làm dịch vụ trải nghiệm. Ai thích vào đó đi ngoài chùi bằng báo hoặc lá chuối khô thì phải mua vé…
Thế nhưng lạm dụng hư cấu tưởng tượng đã trở thành đặc trưng phong cách riêng của Lê Tự. Có lẽ đó là hình tượng, biểu tượng nghệ thuật ông dành để gửi gắm những hàm ý sâu xa của đời sống. Cười đấy nhưng trong sâu thẳm của tiếng cười là nước mắt đắng cay. Cũng nhiều ý kiến cho rằng thông điệp cốt lõi của tiểu thuyết mà nhà văn gửi gắm mới là vấn đề cần thiết, quan trọng nhất. Còn những hư cấu thậm chí là bốc phét kia cốt để thư giãn vui vẻ, thu hút người đọc chứ không ảnh hưởng gì.
Còn một đặc điểm không thể không nói. Đó là thủ pháp kể rất có nghề trong văn phong Lê Tự. Văn ông kể là chủ yếu, ít biểu cảm và càng hiếm những câu tả cảnh tả người. Nhưng tính cách nhân vật hiện ra rất rõ qua suy nghĩ, hành động, ngôn ngữ của chính họ. Đặc trưng nhất là cách kể của ông tự nhiên, rõ ràng, nhiều thông tin và thông tin nhanh. Điều đó phù hợp với sở thích người đọc thời hiện đại cái gì cũng phải nhanh. Ngoài ra mọi người còn thích thú khi tác giả đặt vào miệng nhân vật những câu tuyên ngôn “xanh rờn” chưa có sách vở hay cuộc hội thảo nào ghi nhận. Ví dụ: “Đời này không biết theo ai thì cứ ba phải cho dễ sống” (T36). “Có chữ thì phải biến chữ thành tiền mới là tài” (T 59), “Đời này chỉ có chó mới hiểu người thôi” (T173); “Giá như loài người sống với nhau như chó thì thế giới đại đồng lâu rồi” (T175). “Một khi đàn ông khóc là trong lòng họ đang có bão cấp 12”. (T186); “Chỉ có chó mới có tình yêu trong sáng nhất thời đại, chỉ có chó mới hiểu tận đáy lòng con người” (T187); “Đàn ông chân chính là phải lấy vợ ngu, càng ngu càng tốt. Chỉ có thằng giở hơi mới lấy vợ thông minh” (T223)…
Kể từ tác phẩm Đời quân tử với 19 truyện ngắn đến tập tiểu thuyết Ngược thời gian này và cả tiểu thuyết Hương bùn sắp xuất bản, nhà văn Lê Tự vẫn hay đưa vào cốt truyện những yếu tố ảo huyền, thần kỳ xen giữa hiện thực đời thường gây hấp dẫn và bớt sự căng thẳng cho người đọc. Nhưng nếu so sánh về văn phong thì tiểu thuyết Ngược thời gian sắc xảo, đáo để và bặm chợn hơn. Lời văn tưng tửng, hoạt ngôn, giọng điệu nhiều hài hước tếu táo. Sử dụng nhiều phàm ngôn, thậm chí nhiều tục ngôn (văng tục, chửi đệm nhan nhản). Đặc biệt dùng nhiều từ chó để xen vào nói năng, chửi rủa, phàn nàn hoặc dạy dỗ, âu yếm. (Cả tập tiểu thuyết có chừng 783 từ “chó”, riêng 2 trang từ 173 đến 174 đếm được 30 từ). Nhưng văn phong ấy là có chủ định, có dụng công làm mới phong cách. Ngôn ngữ “thả cửa” “buông tuồng” như thế dễ gần gũi với đời sống, dễ đi vào lòng người đọc bình dân, dân giã, phù hợp với tâm lý thời công nghiệp hóa. Bạn đọc đã đọc mãi văn chương khuôn phép, quy chuẩn chữ nghĩa, dạy dỗ mẫu mực và dẫn dắt vòng vo khiến họ quá nhàm quen không còn hứng thú thì bây giờ họ hào hứng chấp nhận lối văn này.
Như vậy, nhà văn Lê Tự đã có một giọng điệu riêng, rất riêng để phản ảnh một cái chung mà văn học cần phải quan tâm. Ấy là thân phận người nghèo hèn lương thiện, người ít học nhưng đầy nhân cách tử tế cần phải thương xót, bênh vực và những kẻ cậy quyền, cậy tiền, mưu hèn kế bẩn trong xã hội hôm nay cần phải kịch liệt phê phán. Đấy là phẩm chất của người sáng tạo, không lặp lại mình và không trùng với ai. Và cũng là ngòi bút của một nhà văn có trách nhiệm với cuộc đời, làm nên tác phẩm còn nguyên giá trị với thời gian – Nhà văn Lê Tự./

Người gửi / điện thoại