
Chiêm nghiệm, suy tư để an nhiên tự tại
(Giới thiệu tập thơ Mạch nguồn của nhà thơ Đoàn Văn Thanh, NXB Hội Nhà văn. tháng 9/2020)
Người thơ ấy đã lại có thêm một tập thơ mới – tập thơ thứ 7 - mang tên “Mạch nguồn” vừa xuất bản.
Bạn bè khen ông là người “sát giải” bởi chỉ 10 năm trở lại đây, ông đã có tới 10 giải thưởng, trong đó 5 giải thưởng của Trung ương và 5 giải của Tỉnh Hà Nam. Giải nào cũng tầm cỡ và sang trọng.
Còn với tôi. Không chỉ công nhận thơ ông xứng đáng được nhiều giải mà còn ghi nhận đó là một cây bút lặng lẽ đam mê, cần mẫn làm trách nhiệm của nhà văn với cuộc đời. Cứ 2 đến 3 năm, ông lại có một tập thơ. Một người đi lên từ nông dân chất phác, kinh qua đời bộ đội từng chiến đấu, bị thương ở mặt trận Quảng Trị và bây giờ tuổi đã ngoài 70 mà còn viết và vẫn viết đều đều như thế, hẳn ông được trời phú cho dồi dào cảm xúc, tinh anh bút lực, minh mẫn trí tuệ.
Hãy đọc 54 bài thơ trong tập “Mạch nguồn” vừa xuất bản của ông - nhà thơ Đoàn Văn Thanh - sẽ thấy rõ điều đó.
Trước hết, thơ ông vẫn là giọng thơ tâm tình, đôn hậu của người sinh ra lớn lên ở một miền quê nghèo Đồng bằng Bắc bộ. Thơ ông mang bản chất con người ông: sống nghĩa tình, biết cội nguồn và giàu lòng yêu thương. Thơ là người. Ấy là lẽ thường của sự sáng tạo. Bởi trái tim nhà thơ không thể không rung động trước những gì liên quan đến quê hương cội nguồn. Bao năm đi xa nay trở về, người nông dân trong ông xúc động nhất vẫn là gặp lại cánh đồng quê hương với khói thơm rơm rạ, với cánh diều trên bầu trời quê, với đám trẻ trâu dại khờ như mình một thuở… Nhưng ông là nhà thơ nên không chỉ xúc động bằng tri giác. Xúc động bằng tri giác ai cũng có. Mà nhận thức được điều gì qua những xúc động ấy thì chỉ nhà thơ mới có được:
Bao năm góc biển chân trời
Thương đồng chìm nổi một thời áo cơm
Tôi về vui với rạ rơm
Củ khoai ngày ấy còn thơm đến giờ (Gặp đồng).
Ấy là thơ và nhận thức của người làm thơ. Chỉ một cụm từ “Chìm nổi một thời áo cơm” đã đủ liên tưởng đến một thời kỳ, một thế hệ cha ông làm nông nghiệp gian nan cơ cực. Nói thương đồng là thương đất quê hương, thương con người, thương chính bản thân ta một thời đói nghèo cực khổ bám ruộng kiếm ăn. Bản chất nông dân trong nhà thơ là vậy. Nó bền vững và sâu nặng bởi gần hết cả cuộc đời ông gắn bó với cội nguồn ấy, bởi cội nguồn ấy đã sinh ra ông. Sau này dù xa quê ra thành phố, dù lên ở chung cư cao tầng thì ông vẫn mang theo bản chất ấy một cách tự nhiên:
Lên cao chạm tiếng sáo diều
Vẫn nghe chân đất tiếc điều không đâu…
…Vẩn vơ lại nhớ rạ rơm
Nghe tiếng lá rụng là nơm nớp buồn… ( Chung cư)
Và vẫn thương xót những cảnh đời nghèo khổ thiệt thòi: “Vợ thương binh/ Đi lĩnh trợ cấp thay chồng/ Rồi rảo chân qua chợ/ Chợ thì rộng/ Lòng trời lại hẹp/ chị mua gì ngày mai?”(Giữa chợ).
Nhân tiện cũng nói đến tính dự báo của thơ. Ở tập trước, nhà thơ Đoàn Văn Thanh có bài thơ “Ở giữa trời và đất” và dùng tên bài đó đặt tên cho cả tập thơ. Quả là bây giờ gia đình ông đã lên ở nhà cao tầng sống giữa trời và đất.
Tuy nhiên với nhà thơ Đoàn Văn Thanh, dù sống ở đâu, cao hay thấp, sống thế nào, thơ ông vẫn mang “cái tôi biết mình đứng ở đâu” như lời nhận xét ở tập trước. Cái tôi ấy là chất suy tư, chiêm nghiệm mà những tập thơ trước đã có, nay càng thấm đậm, càng nhiều hơn.
Quả vậy, điều này sẽ rất ít ở người viết trẻ tuổi. Bởi người viết trẻ tuổi chưa trải qua buồn đau, mất mát nhiều, chưa vấp váp đường đời nhiều và chưa dừng lại cuộc mưu sinh để lắng đọng. Còn ở nhà thơ Đoàn Văn Thanh, ông đã có đủ gian nan khốn khó, có thừa những buồn đau mất mát qua thời gian và đã nhìn thấu mọi ngang trái ở cuộc đời. Tuy nhiên, đó chỉ là trải nghiệm. Nhà thơ mà bày những trải nghiệm trên trang viết thì thơ ở mức độ chia sẻ, cảm thông. Thơ chưa giúp người đọc nhận thức được bản chất thiên nhiên vũ trụ và con người hoặc những giá trị cuộc sống. Nhưng Đoàn Văn Thanh là người từng trải cầm bút. Người từng trải cầm bút không dừng ở những trải nghiệm đời mình mà phải cảm nhận, ngẫm nghĩ để nhận thức rồi giúp người đọc ngộ ra những vấn đề:
Về lẽ sống ở đời: Cái có tên thì ít
Cái không tên thì nhiều
Bàn tay nắm sợi dây diều
Lỏng ra sợ mất, níu nhiều sợ rơi ( Chửa đặt tên)
Về giá trị của thời gian với đời người:
Thời gian mài sợi tóc
Cuộc sống dũa tâm hồn
Sợi tóc thành mây trắng
Tâm hồn thành ánh trăng (Thời gian)
Về quy luật của tuổi già:
Tuổi thơ là đỉnh cao
Người già không thể tới (Hoang dã 2)
Về quy luật của tình yêu:
Nỗi buồn/ Là sự lớn khôn/ Của tình yêu ( Hoang dã 3)
Về niềm tin và hy vọng rất cần có trong mỗi kiếp làm người:
Đừng tưởng tàn tro là hết lửa
Hơi còn iu ấp tự bên trong
Gặp thời gió thuận tro lại đỏ
Lửa lại bùng lên cháy hết lòng (Thời)
Về những giá trị không thể đánh giá hời hợt bằng hình thức bên ngoài:
Tôi nhỏ
Nhưng trong
Bởi luôn gạn đục
Anh lớn, dù là hồ
Cũng đừng cậy sóng
Mà tự khuấy bẩn mình. ( Hai giọt nước).
Bài “Ngẫm” là điển hình của sự suy ngẫm của người từng trải. Bài thơ 4 khúc. Mỗi khúc có 3 dòng như một lời phát biểu ngắn. Vậy mà nhà thơ chiêm nghiệm ra những vấn đề về đối thoại, giấc mơ, con người và cái đẹp rất chí lý và sâu sắc.
Trong tập thơ còn có 6 bài được viết khi nhà thơ đi tham quan nước ngoài như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapo… Mỗi bài thơ là một góc nhìn. Mỗi góc nhìn là một vấn đề suy ngẫm. Về chiến tranh, văn hóa, xã hội, con người… Rồi ông bật ra những ý nghĩ sáng lòa về nó. Hình như những chuyến đi như thế, ông không bận tâm cho thưởng ngoạn, du hý. Điều ông cần là tìm tòi, phát hiện cho thơ, cho đời những giá trị đích thực để mỗi câu thơ ngộ ra có sức thuyết phục và động lòng trắc ẩn người đọc. Đấy là phẩm chất nhà thơ, là trách nhiệm tự nguyện khiến ông luôn “nhàn cư chứ không nhàn tâm”.
Viết được những câu thơ chiêm nghiệm, người làm thơ phải nặng lòng suy tư, trăn trở. Thơ trong tập Mạch nguồn minh chứng rõ điều đó.
Ấy là suy tư về đời người: Cuộc người phiên chợ hợp tan
Vui buồn, sướng khổ, tự ban cho mình (Tâm chữ).
Suy tư về lẽ nhân sinh: Chắc gì ta đã cao hơn cỏ
Những dấu chân qua cỏ lấp đầy (Chắc gì)
Suy tư về nhân tình thế thái:
Muối biết mặn, gừng biết cay
Sao người cứ phải quắt quay với người
Cớ gì trong héo ngoài tươi
Tiếng khóc thì thẳng tiếng cười lại nghiêng (Thơ mùa đông)
Và ở tập thơ này, Đoàn Văn Thanh suy tư nhiều về thơ ca. Ông bộc lộ rõ quan điểm sáng tạo nghệ thuật: “Văn rộng/ Đường văn hẹp/ Phía trước là ngôi đền/ Thánh thần/ và/ Ma quỷ” (Ngôi đền). Nhìn nhận văn chương như ngôi đền thiêng nên ông không coi thơ là một sân chơi giải trí, cũng không để giải tỏa đơn thuần mà thơ như một tôn giáo thờ phụng “Cúi đầu lạy đấng cao sâu/ Cho con đầy mãi những câu ân tình” (Tâm chữ). Đưa bài “Rượu thơ” mở đầu tập thơ phải chăng là ý tưởng “tuyên ngôn” cho quan điểm sáng tác? Sau nữa còn là các bài Tâm chữ, Ngôi đền, Thơ mùa đông, Kẻ nổi bật… Thế cũng nhiều trong một tập thơ. Đủ đăm đắm và khẳng định quan niệm của ông: Thơ là sự đam mê, tự thân đày ải, lao tâm khổ tứ mà không vì cái gì; thơ là nhu cầu chia sẻ, bộc bạch, là duyên nợ; thơ phải chắt từ tâm can. Điều quan trọng với ông là phải trân trọng thơ và có trách nhiệm với thơ.
Tuy nặng về suy tư, nhiều tính triết luận nhưng tập Mạch nguồn không khô cứng giáo điều bởi già nửa tập thơ là những bài trữ tình với cảm xúc chân thành ông viết từ đáy lòng. Gửi gắm trong tình cảm với quê hương, non sông đất nước là một tình yêu con người nghĩa tình tha thiết. Thơ tình yêu trong tập như các bài: Đức tin, Kỳ diệu, Biển và em, Nắng bình yên, Lửa, Viết cho ngày tình nhân, Một lần và một đời, Tình đá, Xác phượng… là lời thủ thỉ tâm tình. Có buồn, có đau nhưng thật dịu dàng thương mến: “Em về để lại nỗi đau/ Nuôi ta suốt chặng đường sau không người” (Nắng bình yên). “Em là sóng, anh là bờ/ Bờ vỡ rồi/ Ai đỡ cho em!”. (Hoang dã 2). Nó giống như tính tình người viết: Không bao giờ ồn ào, không đắng cay nghiệt ngã. Rất lịch lãm và khiêm nhường, đúng là người sao, văn thế.
Như vậy, chiêm nghiệm và suy tư là đặc điểm nổi bật trong tập “Mạch nguồn”. Đặc điểm ấy giúp người đọc ngộ ra nhiều điều để biết an nhiên tự tại, chấp nhận những gì đã thành chân lý. Ngoài ra thơ Đoàn Văn Thanh còn cho ta tin yêu cuộc đời, biết trân trọng cuộc đời mình đang sống dù ông có hai lần tự vấn xót xa: “Sao tôi làm kiếp người?”.
Dù có một bài viết còn nhẹ như “Cõi vô thường”, có một bài chưa kỹ về chữ nghĩa như “Một lần và một đời” nhưng tổng thể “Mạch nguồn” vẫn là tập thơ viết xúc tích, hàm chứa nhiều ý tứ sâu sắc, triết luận thấm thía, tình cảm đằm thắm, cho bạn đọc nhận thức được nhiều điều và nhiều cảm xúc trong sáng, tin yêu cuộc đời.
Than Xuân 26/9/ 2020

Người gửi / điện thoại