
Những cô giáo – Nhà thơ – Tay cầm phấn, tay cầm bút
Như chùm hoa đẹp trong vườn hoa muôn hương nhiều sắc, các nhà thơ nữ vốn là cô giáo hoặc đang là cô giáo không nhiều, chỉ khoảng 3 chục người trong số hơn 200 nhà văn nữ của Hội Nhà văn Việt Nam hiện nay. Nhưng với sự nghiệp giáo dục, các chị đã đứng trong đội ngũ các thế hệ nhà giáo tài năng, tâm huyết, nhiệt tình, hết lòng với sự ghiệp giáo dục của nước nhà. Với văn chương, các chị vừa là kỹ sư tâm hồn góp phần vào việc bồi đắp kiến thức, xây dựng nhân cách con người, đào tạo nhân tài cho đất nước vừa sáng tạo ra thi ca làm giàu cho kho tàng văn học Việt Nam và phục vụ giảng dạy, học tập trong nhà trường.Trong số các chị, riêng về thơ, người có ít nhất vài ba tập, người nhiều cũng hơn chục đầu sách. Tuy không đông, nhưng các chị đều là những cây bút tin cậy, trung thành, có lòng yêu Tổ quốc, niềm tự hào dân tộc và tâm huyết với nghề. Bao năm qua các cô giáo - nhà thơ đã đồng hành cùng dân tộc trên con đường đổi mới của đất nước.
Nhặt ánh trăng hạ huyền
Thả vào đêm thu biếc
Người đàn bà làm thơ
Lẫn sau vầng nhật nguyệt
Đục trong
Đầy khuyết…
Một mình!
Vâng, tôi muốn lấy một đoạn trong bài thơ Người đàn bà làm thơ của cô giáo – nhà thơ Võ Thị Kim Liên để đồng cảm chung với cuộc đời các chị “Đục trong/ đầy khuyết…/ một mình!”. Đúng vậy, trước khi trở thành nhà thơ, các chị là những cô giáo. Dù dạy văn hay dạy toán, lý, hóa.. dạy gì thì các chị cũng là thày đứng lớp trước học trò. Lúc đó thơ đi từ yêu thích đến đam mê. Mà đã đam mê thì cảm xúc dâng trào, tâm hồn say đắm như gặp phải bùa mê khiến các chị đến với thơ lúc nào không hay nhưng trước hết họ làm thơ về nghề dạy học của mình.
“Tôi như con đò chở đầy lòng mình lời sách vở và điều mơ ước.
Em bước vào đò qua dòng sông nước lớn, bờ bên này trẻ thơ lên bến kia thành một con người.
Tôi cúi xuống nhặt cánh phượng rơi chưa lấm bụi chưa nát nhàu bước thời gian dẫm đạp
Bao lớp học trò ra đi bao lần phượng thắm cành rũ lá em mang được bao lời của tôi
Em có thể nhớ về như gió nhớ về cây em có thể nhớ về như con ong chia bày tìm về tổ cũ”. (Em có thể nhớ về ).
Khi tâm sự về bài thơ này, cô giáo – nhà thơ Bùi Kim Anh bảo bây giờ đọc lại thấy thật thà ngô nghê quá, thậm chí ngại đọc, sợ mọi người cười. Thưa cô giáo Bùi Kim Anh, bài thơ không hề ngô nghê chút nào mà còn nguyên giá trị với thời gian. Và hơn thế, nó là bước chập chững đầu tiên của tâm hồn đến với thơ. Quý lắm. Không có những vần thơ cảm xúc đầu đời rưng rưng như vậy, sao biết thơ mình đã đi đến đâu?
Cũng giống Bùi Kim Anh, cô giáo – nhà thơ Huệ Triệu cũng mặc cảm với những vần thơ đầu đời, chị nhất quyết không cho vào các tập thơ bài thơ Nhớ về bải giảng đầu tiên, trong đó có đoạn:
Những giờ giảng đầu tiên làm sao tìm gặp được
Những cặp mắt học trò trong veo như nước
Có nỗi lo cho cô giáo giảng bài
Ơi những gì có được ngày mai
Xin nhớ về ngày hôm nay
Những cặp mắt học trò thương cô lần đầu tiên lên bục giảng…
Và cũng cảm xúc đầu tiên được làm cô giáo, nhà thơ Nguyễn Thị Mai đã gửi gắm vào lời thầm thì với một anh bộ đội:
“Chiều hôm nay anh đang đi về đâu?
Có biết chăng em lên lớp lần đầu
Em gửi tình em trong bài giảng
Để nói với người em đợi rất là lâu” (Tâm sự cô giáo trẻ)
Còn cô giáo Đặng Nguyệt Anh, trong hành trang mang theo hành quân vào Nam bổ xung lực lượng dạy học ở Chiến khu miền Đông ngày ấy có nỗi trăn trở nhớ thương mái trường xưa mình từng dạy học:
Con nhớ không nguôi
mái trường xưa lưu luyến
các em nhỏ nhìn con trìu mến
mắt đen tròn long lanh!... (Đêm Trường Sơn)
Và đây nữa, một cô giáo Trần Kim Anh đã từng rơi nước mắt trước nghề:
Giọt long lanh rêu phong
Lăn từ nơi thầy qua nơi em mòn lối
Ký ức giảng đường co ro xếp gối
Rồi một ngày
Giọt long lanh về mắt em cựa quậy
Cay vào hồn nhiên học trò… (Giọt long lanh)
Còn nhiều, nhiều lắm những cô giáo dành cảm xúc đầu tiên cho thơ về nghề giáo như Đỗ Bạch Mai, Lê Khánh Mai, Đặng Nguyệt Anh, Phi Tuyết Ba, Nông Thị Ngọc Hòa, Đoàn Thị Ký, Võ Thị Kim Liên, Dương Thúy Mỹ, Kim Quyên, Chu Thị Thơm, Tôn Nữ Thu Thủy, Nguyễn Thị Đạo Tỉnh, Ánh Tuyết, Phạm Thu Yến… Tất cả những bài thơ các chị làm khi chỉ là cô giáo đều trong trẻo, hồn nhiên, thật thà nhưng thi vị… thơ lúc đó là cảm xúc tự nhiên, tự phát. Các chị không nghĩ mình đang mang sứ mệnh sáng tạo, càng không nghĩ để trở thành nhà thơ.
Thế mà cứ vậy, niềm đam mê thơ dẫn dắt, mê dụ. Những cô giáo một thời coi văn chương là đền thiêng, là tôn giáo, chỉ đứng ngoài tôn thờ bỗng ngộ ra những vần thơ mình viết đã giúp mình giải tỏa nỗi niềm, cho mình thăng hoa tâm thức. Họ quyết dấn thân vào con đường sáng tác văn chương. Có người vừa dạy học vừa làm thơ, có người bỏ hẳn nghề chuyển sang lĩnh vực gần gũi với văn chương để có điều kiện làm thơ. Sự liều lĩnh tự mình cộng với bản lĩnh dũng cảm đã đưa các cô giáo trở thành nhà thơ thực thụ. Hầu hết các cô giáo trở thành nhà thơ đều có thơ được giải không nhiều thì ít, không ở Trung ương thì địa phương. Nhiều người có duyên với giải, nhiều người thành danh về thơ . Cái danh Cô giáo khi được đổi thành danh Nhà thơ họ đã phải trả giá, nhưng các chị đều chấp nhận. Từ đó, cô giáo làm thơ mang 3 “vai” nặng nhọc, khác hẳn những người làm thơ khác. Đó là vai trò làm vợ làm mẹ trong gia đình, vai trò làm thày trong xã hội và vai trò làm nhà thơ cho cuộc đời. Trong ba vai ấy, vai trò làm thơ có lẽ là cho mình, sống với mình đúng nghĩa nhất: “Em thì tất tả mưu sinh/ Nuôi con bến thực nuôi mình bến mơ…” (Nguyễn Thị Mai). Vì cái bến mơ ấy mà các cô giáo – nhà thơ vượt lên được chính mình, đi qua mọi định kiến, thị phi, qua mọi gian nan vật chất. Làm nghề giáo đã nghèo, làm thơ còn nghèo hơn nhưng các chị chấp nhận đến cùng. Con đường làm thày có thể rẽ ngang, có thể dừng. Nhưng con đường thơ thì nguyện đi suốt đời, như cô giáo - nhà thơ Bùi Tuyết Mai tâm sự: “ Thơ thì không thể bỏ được, nó như là cái nghiệp vận vào thân rồi. Cảm xúc là do mình phải biết nuôi dưỡng thôi”.
Vậy nên cảm xúc trước hết của các cô giáo – nhà thơ là sự khám phá chính bản thân mình vì nhu cầu chia sẻ, bộc bạch: “Nhận của đời một tuần trăng mật/ Để suốt đời em làm mật trả tuần trăng/ Thương anh, thương con em đâu dám từ nan/ Chỉ lo đời ít hoa và mùa xuân quá ngắn” (Phi Tuyết Ba - Lời tình yêu). Các chị hiểu: Là cô giáo, không phải ai cũng hạnh phúc đầy đủ hoặc có một tình yêu may mắn. Vậy nên các chị tìm đến vị cứu tinh cho mình là Thơ. Thơ giúp họ dám đối diện với nỗi đắng cay bị phản bội, ruồng bỏ trong tình yêu; sự khốn khó; nỗi cô đơn, bệnh tật.v.v. Điều tuyệt vời trong đa số các chị là tuy rất đau khi mổ xẻ thân phận nhưng vẫn hiểu rằng mình chỉ là một bản thể nhỏ trong bể khổ trầm luân của kiếp người. Nên thơ các cô giáo cũng đầy nỗi buồn đau mà không gục ngã. Tựa vào thơ là tựa vào niềm tin con người để đi qua nỗi bất hạnh ấy: «Tôi đói/ Thơ không thể là cơm ăn/ Tôi khát/ thơ không biến thành nước uống / Tôi nợ nần/ Thơ không đem cho tiền bạc/ Nhưng khi tôi rơi xuống hố thẳm khổ đau/ Thơ vực tôi đứng dậy » ( Lê Khánh Mai – Tôi và thơ).
Tuy nhiên thơ các cô giáo – nhà thơ vốn đi từ mái trường ra cuộc đời nên hiền hậu, sâu nặng về tình cảm. Tác phẩm của các chị thường nghiêng về chức năng giáo dục nhiều hơn. Ví như : Đàn bà của Thu Yến, Bà ngoại của con của Đỗ Bạch Mai, Tôi yêu Hà Nội của Đoàn Thị Ký, Trên đường Giảng Võ của Bùi Kim Anh, Rừng miền Đông và con gái tôi của Đặng Nguyệt Anh, Đám cưới chị tôi của Dương Thúy Mỹ, Bông cau thôi nở của Kim Quyên, Thư miền Tây của Võ Thị Kim Liên… điểm vài tác phẩm của một số cô giáo – nhà thơ để chứng minh cho bạn đọc. Nhưng nếu tìm đọc các tập thơ của họ, ta còn thấy chất nhân văn, đạo đức ngập tràn, rõ nét. Bởi các các chị trước khi là nhà thơ họ đã là nhà giáo. Bản chất nghề làm thày thấm vào họ tính nghiêm cẩn, tôn sư trọng đạo, giữ gìn truyền thống, cái gì cũng phải khuôn mẫu mực thước… họ ít hoặc không dám bứt phá, càng không thể nổi loạn hoặc gào thét to tát. Một số bài thơ có hơi hướng phóng túng trong tình yêu cũng không vượt ra ngoài ba chức năng cổ điển của văn chương: Buồn thì ra ngắm phố đông/ Tội gì đóng cửa mà đong cơn sầu/ Buồn thì ta lại yêu nhau/ Tội gì ủ rũ cho mau cái già/ Ngoài phố những hoa là hoa/ Mua về ta cắm chật nhà mới thôi/ Yêu đi cho trọn kiếp người/ Kẻo mai chết lại tiếc đời buồn tênh (Lục bát cuối chiều – Bùi Kim Anh).
Bây giờ, nhiều cô giáo – nhà thơ đã nghỉ hưu, cũng nhiều cô giáo - nhà thơ vẫn đang đứng trên bục giảng. Làm cô giáo dạy văn lại là nhà thơ sẽ có những thuận lợi trong nghề nghiệp. Đó là sẽ dễ đồng cảm với tâm hồn tác giả khi giảng thơ. Biết cách nắm bắt ý tưởng sâu kín ẩn trong hình tượng của tác phẩm, sẽ tinh tế hơn trong cách cảm, cách nghĩ về những tứ thơ và vì thế mà say mê nghề nghiệp, hết mình với giờ giảng. Nhưng các chị cũng đầy thách thức. ấy là khi phải giảng những tác phẩm thơ không đồng điệu với tâm hồn mình, hoặc gặp những câu thơ chưa hay, lòng thấy chán nản, không nhiệt tình giảng. Ngoài ra không phải đồng nghiệp nào cũng yêu thơ và đồng cảm với mình. Nếu say đắm thơ ca quá sẽ bị coi là viển vông, khác đời, lạc lõng.
Tuy nhiên các chị, những cô giáo – nhà thơ vẫn dấn thân, đem tiếng thơ yêu thương đồng cảm sâu sắc với thân phận con người và đồng hành cùng dân tộc. Có thể nói thơ các cô giáo – nhà thơ đã góp phần bồi đắp tính nhân văn và tác động thực sự đến nhận thức của nhiều thế hệ học sinh ở mọi thời kỳ.
Thanh Xuân, 2/11/2015

Người gửi / điện thoại