XUÂN LẠNH Nguyễn Phi Khanh*(1355-1429)
Sương giăng mù mịt đám mây sà
Xuân đến sao trời lạnh chửa qua
Thương cảnh đông tàn chim vắng tiếng
Buồn tình mưa đọng nước nhòe hoa
Đây phòng vắng vẻ đầu cao gối
Đó việc bộn bề chăn đắp ta
Nếu được hóa thân lò bễ ấy
Mình đưa hơi ấm đến muôn nhà.
Trần Thị Thanh Liêm dịch
*NGUYỄN PHI KHANH 阮 飛 卿 (1355-1429) Tên thật là Nguyễn Ứng Long, hiệu Nhị Khê. Ông sinh khoảng 1355 tại Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, Phủ Quốc Oai, trấn Sơn Nam Thượng(nay là Nhị Khê, Thường Tín, Hà Nội).Tổ tiên của ông vốn ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Nhãn, trấn Kinh Bắc.Ông là phụ thân của anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi.Ông đỗ tiến sĩ năm Giáp Dần(1374). Năm 1402 làm Học sĩ Viện Hàn Lâm , rồi lần lượt được thăng quan. Cuối cùng làm Tư Nghiệp Quốc Tử Giám. Năm 1407 ông bị quân Minh bắt đem sang Trung Quốc rồi mất ở đó khoảng năm 1429. Tác phẩm của ông có: Nhị Khê thi tập( đã mất) và Nguyễn Phi Khanh thi văn. Bài “Đề Huyền Thiên tự” trích ở tập Nguyễn Nguyên tác :
春 寒
阮 飛 卿 凝 雲 漠 漠
釀 作 餘 寒 十 日 陰
帶 雨 有 痕 粘 樹 絮
傷 春 無 語 隔 花 禽
書 齋 寂 寂 惟 高 枕
世 事 悠 悠 正 抱 衾
安 得 此 身 同 橐 籥
和 風 噓 遍 九 州 心
Phi Khanh thi văn. Phiên âm:
XUÂN HÀN
Ngưng vân mạc mạc lộ trầm trầm
Nhưỡng tác dư hàn thập nhật âm
Đái vũ hữu ngân niêm thụ nhứ
Thương xuân vô ngữ cách hoa cầm.
Thư trai tịch tịch duy cao chẩm
Thế sự du du chính bão khâm.
An đắc thử thân đồng thác thược
Hòa phong hư biến cửu châu tâm.
Dịch nghĩa: XUÂN LẠNH Mây giăng đầy trời,.sương mờ mịt đất Đông tàn xuân đến nhưng cái lạnh chưa qua Nước mưa còn đọng lại trên cành hoa Thương cảm mùa xuân không có tiếng chim hót Trong phòng vắng vẻ , nằm gối đầu cao Trùm chăn khi việc đời còn bao bộn bề. Giá mà thân ta trở thành bễ lò kia Thổi làn hơi ấm đến khắp mọi nơi.