
Nhà thơ Nguyễn Văn Trình
Vang vọng dài theo ngọn gió bay xa ( 1 )
TS Ngữ Văn - Bùi Như Hải
1. Nhà thơ Nguyễn Văn Trình là một trong những gương mặt thơ tiêu biểu
của nền văn học QuảngTrị đương đại. Nếu tính từ bài thơ đầu tiên Chều biên
cương viết từ năm 1980 đến nay, Nguyễn Văn Trình đã có hàng chục bài thơ
đăng ở các báo, tạp chí Trung ương và địa phương, hàng trăm bài thơ đã được
tải lên trên các trang mạng Facebook, Zalo, trong các tuyển tập thơ in chung,
thì đã xuất bản được 3 tập thơ in riêng, đó là Mây trắng bên trời (Nxb.Thuận
Hóa, 2011), Nắng chiêm bao (Nxb. Hội nhà văn, 2019), Bóng chiều rơi
(Nxb.Hội Nhà văn, 2022). Với hành trình sáng tác hơn 40 năm - khoảng thời
gian cũng đủ để nhà thơ Nguyễn Văn Trình thể hiện niềm say mê đắm đuối,
khát vọng mãnh liệt của một nhà thơ tài năng, một cá tính thơ riêng khác, độc
đáo, có thành tựu, có sự đóng góp không nhỏ vào nền thơ ca đương đại
QuảngTrị nói riêng và thơ ca nước nhà nói chung, được bạn bè, đồng nghiệp,
độc giả và giới nghiên cứu, phê bình văn học dành nhiều tình cảm trân trọng
yêu mến, quan tâm, đón nhận.
Bóng chiều rơi của Nguyễn Văn Trình, do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn
hành sẽ được ra mắt bạn đọc vào quý II năm 2022. Tập thơ tập hợp111 thi
phẩm, thể hiện một cách sâu sắc về thế giới tâm hồn phong phú, về bản lĩnh
sáng tạo nghệ thuật độc đáo, tinh tế, biến hóa sinh động. Nhan đề tập thơ rất
ấn tượng, in đậm dấu ấn trong sự nghiệp cầm bút củaNguyễn Văn Trình khi
tuổi đời đã ngoài lục tuần, được chưng cất lên bởi sự trải nghiệm thời gian dài
hơn bốn mươi năm miệt mài, cần mẫn, công phu cày xới trên cánh đồng
ruộng chữ, để rồi ươm mầm, cho ra đời những quả ngọt thi ca dày dặn, tinh tế,
đầy âm thanh, nhạc điệu, man mác tình cảm nhẹ nhàng, được chắt lọc từ trái
tim của một nhà giáo, nhà thơ đã qua cái tuổi “lục thập nhi nhĩ thuận”.
2. Nội dung thể hiện trong Bóng chiều rơi đa dạng, phong phú đủ mọi sắc
màu của cuộc sống, đủ các cung bậc của tình cảm, cảm xúc trong đó cảm thức
về quê hương, đất nước, gắn bó sâu nặng, nghĩa tình với Tổ quốc và Nhân
dân, với người lính, mái trường thân yêu và tình yêu đôi lứa,… là những
( 1 ) Nhân đọc tập thơ Bóng chiều rơi của nhà thơ Nguyễn Văn Trình, Nxb. Hội Nhà văn,
Hà Nội - 2022.
mạch ngầm cuộn chảy, xuyên suốt trong cuộc đời cầm bút của nhà thơ
Nguyễn Văn Trình.
2.1. Tình yêu quê hương là một thứ tình cảm đặc biệt, sâu sắc, chung thủy,
được Nguyễn Văn Trình dưỡng nuôi và lớn lên qua từng năm tháng. Những
thi phẩm về quê hương được Nguyễn Văn Trình viết ra từ gan ruột, đủ để
người đọc cảm nhận được ân tình của Nguyễn Văn Trình. Đông Hà - quê
hương của Nguyễn Văn Trình đã trở thành mạch nguồn chính, dồi dào, bất tận
trong suốt hành trình sáng tác thi ca của anh. Mảnh đất này không chỉ là
nguyên quán, mà còn là nơi Nguyễn Văn Trình vui buồn, ân nghĩa quanh đời,
gửi trao tin cậy trọn cả cuộc đời của mình. “Thẫn thờ chốn quê, Chiều trên
sông quê, Thương hoài giếng quê, Mãi bờ tre xanh…” là tiếng nói thao thiết
yêu quê hương, cất lên từ những cung bậc trầm lắng, đạm nhiên, da diết.
Nguyễn Văn Trình tạo được ấn tượng bởi một lối viết tài hoa, cảm xúc chân
thật từ những gì gần gũi, thân thương nhất qua những hương vị của cảnh vật
thiên nhiên, đất đai, sông nước, màu sắc, hương thơm, âm thanh… của quê
nhà: “Chiều quê, cảnh cũ bờ tre/ Chim ca ríu rít mà nghe rộn ràng/Quê
hương, làng nước, tuổi thơ…/ Vấn vương nỗi nhớ, thẫn thờ chốn quê” (Thẫn
thờ chốn quê) Hình hài quê hương hiển thị trong thơ của Nguyễn Văn Trình
qua một dòng sông, một bến đò, một điệu hò hay dáng hình cô thôn nữ
nghiêng nghiêng vành nón đợi trông… Tất cả đều mang vẻ đẹp mộc mạc chân
quê, lý tưởng, nặng sâu tình yêu quê hương của thi nhân: “Ra sông lại nhớ
đến đò/ Nhớ cô thôn nữ điệu hò trên sông / Nghiêng nghiêng vành nón đợi
trông / Giấu trong / thổn thức, nỗi lòng người thương” (Chiều trên sông
quê) Nguyễn văn Trình không chỉ tạc nên bức tranh thiên nhiên và con người
Đông Hà sinh động, tươi tắn, mà còn vẽ nên những bức tranh của các vùng
đất khác trên quê hương Quảng Trị khói lửa, anh hùng, thủy chung, nghĩa
tình. Những vùng đất như Hải Lăng, Triệu Phong, thị xã Quảng Trị, Vĩnh
Linh, Gio Linh… cũng đã trở thành nguồn lực sáng tạo mạnh mẽ, tình cảm
nồng cháy trong thơ Nguyễn Văn Trình.
Đó là, Hải Lăng - vùng đất phía Nam của tỉnh QuảngTrị sâu nặng, nghĩa tình
được thi sĩ Nguyễn Văn Trình ưu ái dành riêng viết cả một chùm thơ như:
“Rú cát Hải Lăng, Về thăm đồng trũng Hải Lăng, Ô Lâu huyền thoại…” Viết
về miền quê Hải Lăng, tác giả đã thể hiện một tình yêu dào dạt, chất chứa
nhiều cảm xúc qua những hình ảnh rất đỗi gần gũi, thân thương: “ Chiều về /
rú cát Hải Lăng/ Mịn màng / đồi cát rú cây ngập ngừng/ Lưng chừng / bóng
ngã chân đồi/ Xa xôi / thấp thoáng một vùng cỏ may/ Hoa may / níu bước
chân trần/ Vấn vương / chút cát đi về nhớ thương/ Câu thơ viết vội / lời thề
uyên ương/ Người đi / lưu luyến xương rồng / Dấu chân / trên cát mong đừng
vội tan / Lòng ai / trang trải cát vàng / Trái tim / lỗi nhịp bàng hoàng cát
bay” (Rú cát Hải Lăng). Đó là, Triệu phong - vùng đất rốn lũ của Quảng Trị.
Nguyễn Văn Trình đã từng một thời dạy học tại Trường THPT Bồ Bản, Triệu
Phong, vì thế mảnh đất này cũng đã đi vào kí ức, để rồi trở thành nguồn xúc
cảm, trăn trở trước phận đời, phận người nghèo khổ, cơ cực, đau thương mất
mát do thiên tai, lũ lụt tàn phá nặng nề: “ Về nơi rốn lũ Triệu Phong / Mưa
như trời trút nước / Lũ về ngập tới ngọn tre / Nhà trẻ chìm sâu dòng nước /
Bốn bề tang tóc đau thương / Trường học trạm xá vùi sâu trong bùn”(Rốn lũ
Triệu Phong) Đó là, Thành Cổ - thị xã Quảng Trị một thời máu lửa, khốc liệt
của cuộc chiến đấu hết sức ác liệt, kéo dài hơn tám mươi mốt ngày đêm của
quân và dân ta để giành lại từng tấc đất quê hương: “Con sông một thời hoa
lửa/ Máu hòa nước sông / Trong chiến dịch xuân hè / Một chín bảy hai…/
Sông vẫn giữ niềm đau quá khứ / Xây nên thành những tượng đài / Và chắt
chiu từng mầm nhựa sống / Sông mãi hát bài ca hy vọng / Thì thầm Thành Cổ
khúc ru” (Hồn thiêng Thạch Hãn) Đó là Gio Linh - vùng đất của du lịch
biển nổi tiếng với bãi tắm Cửa Việt thơ mộng, tinh khôi, những đồi đất đỏ
Bazan màu mỡ, những đồi chè, cà phê…xanh mướt bạt ngàn: “ Chiều về /
biển lặng êm đềm / Dịu êm / cát trắng một bờ tinh khôi / Vội vàng / chở nắng
vươn khơi / Thuyền đi / lướt giữa biển trời bao la/ Khơi xa / sóng vỗ hiền
hòa… / Bồng bềnh / mây trắng cuối trời nhấp nhô / Đầy vơi / nỗi nhớ biển
chiều ngẫn ngơ” (Chiều Cửa Việt) Đó là,Vĩnh Linh - mảnh đất “lũy thép lũy
hoa”, một thời đạn lửa, anh dũng, kiên trung:“Hồ Xá một thời đạn lửa/ kiêu
hùng đất lửa, lũy thép Vĩnh Linh / Gan dạ, anh dũng, kiên trung / Hồ Xá ngày
ấy, anh hùng vang danh” (Về thăm Hồ Xá)
2.2.Tình yêu quê hương càng mặn nồng bao nhiêu, thì tình yêu đất nước càng
đậm sâu bấy nhiêu, đó là một lẽ thường của quy luật tình cảm, quy luật cảm
xúc, bởi tình yêu quê hương luôn là cội nguồn của tình yêu đất nước. Chính vì
thế, độc giả sẽ còn tìm thấy những mảnh đất dấu yêu trên mọi miền đất nước
Việt Nam trong tập thơ Bóng chiều rơi được Nguyễn Văn Trình ghi lại bằng
những xúc cảm tuôn trào, bay bổng, đầy chất lãng mạn - trữ tình như men say,
tình yêu đến từ những chuyến đi dặm dài đất nước, truyền đến độc giả thêm
yêu hơn những cảnh sắc tươi đẹp, hùng vĩ, những tên đất, tên người vừa quen
vừa lạ nhưng ân tình, thủy chung. Tập thơ Bóng chiều rơi gồm 111 bài thơ,
thì đã có đến 65 thi phẩm viết về đề tài quê hương, đất nước. Những bài thơ
này chủ yếu được Nguyễn Văn Trình sáng tác trong những chuyến đi thực tế,
tham quan, du lịch khắp mọi miền đất nước và đã ghi lại bằng những cảm xúc
của mình qua những dấu thơ thao thiết, yêu thương. Năm 2017, trong một lần
trở lại thủ đô Hà Nội - trái tim hồng của cả nước, thủ đô ngàn năm văn hiến,
thành phố vì hòa bình, thi sĩ Nguyễn Văn Trình đã bồi hồi xúc động, dâng
trào bao cảm xúc trước vẻ đẹp thơ mộng của mùa thu Hà Nội linh thiêng và
hào hoa:“ Hà Nội thu về/ Hồ Tây / màn sương giăng bảng lảng / Chùa Trấn
Quốc / tiếng chuông ngân trầm mặc/ Vang vọng dài, theo ngọn gió bay xa/
Hồ Gươm lung linh / soi bóng tháp rùa / Đền Ngọc Sơn / khói hương trầm
nghi ngút / Cầu Thê Húc chói ngời sắc đỏ/ Linh thiêng hào khí, Thăng Long
muôn đời” (Hà Nội thu về) Năm 2016, lần đầu tiên nhà thơ Nguyễn Văn
Trình đặt chân lên Hà Giang - mảnh đất linh thiêng địa đầu cực Bắc của Tổ
quốc, nơi có cột cờ Lũng Cú - dấu mốc chủ quyền lãnh thổ quốc gia, nơi có
công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn người thơ đã tự hào,
xúc động dâng trào cảm xúc: “Lên Hà Giang , điểm địa đầu Tổ quốc/ Tham
quan Cột cờ Lũng Cú/ Ngọn quốc kỳ kiêu hãnh/ Tung bay trên đỉnh Núi
Rồng…/ Để trường tồn Đất Việt / mãi ngàn sau” (Cột cờ Lũng Cú, Dấu
mốc chủ quyền biên giới quốc gia) Đến Tuyên Quang - vùng Đông Bắc của
Tổ quốc, mảnh đất giàu truyền thống cách mạng và có nhiều phong cảnh thiên
nhiên thơ mộng trữ tình, nhất là những hồ, thác nước đẹp đến hút hồn du
khách đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng thi nhân Nguyễn Văn
Trình: “Xuống bến thủy lên thuyền/ Tham quan hồ Na hang / Biển hồ nằm
trên núi/ Mặt hồ rộng mênh mang/ Núi non càng hùng vĩ/ Cảnh trí thật thơ
mộng/ Được ví Vịnh Hạ Long Giữa đại ngàn Đông Bắc”(Na Hang hồ trên
núi) Đến Nghệ An - vùng đất của văn hóa lịch sử, vùng đất của những danh
nhân, đã làm rạng danh non sông đất nước. Năm 2017 trong một lần trở lại
thăm quê Bác Làng Sen, Nguyễn Văn Trình đã xúc động, tự hào viết: “ Về
thăm quê Bác Làng Sen / Ao sen / trắng muốt bờ chen bụt hồng/ Xóm làng /
đồng ruộng mênh mang/ Cò bay / thẳng cánh bên sông cuối trời/ Nhớ thời /
quá khứ lệ rơi/ Đồng chua nước mặn / cuộc đời gió mưa/ Quê nghèo / mái rạ
lưa thưa/ Củ khoai, củ sắn / sớm trưa qua ngày” (Về thăm quê Bác Làng
Sen) Đến Đà Nẵng - thành phố lớn nhất, năng động nhất miền Trung - Tây
Nguyên, địa bàn chiến lược an ninh quốc phòng trọng yếu của đất nước. Đà
Nẵng cũng được mệnh danh là thành phố đáng sống nhất Việt Nam. Nơi đây
có nhiều phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, thơ mộng trữ tình, có nhiều di tích
lịch sử văn hóa, tâm linh, nhiều khu du lịch nghỉ dưỡng mang tầm vóc quốc
tế. Năm 2019 trong một lần trở lại nơi đây, Nguyễn Văn Trình đã cảm tác viết
liền một chùm thơ đầy xúc động, được độc giả yêu mến như: “Về nơi mây núi
Sơn Trà, Non nước Ngũ Hành, Thắng cảnh Bà Nà…” Với thi nhân Nguyễn
Văn Trình, Đà Nẵng là vương quốc kỳ diệu của lòng người đang vươn mình
tiến tới đón gió trùng khơi: “ Qua Cầu Thuận Phước đến Sơn Trà/ Lên cao
đỉnh núi ngắm về Tiên Sa / Cửa ngõ Biển Đông/ Đi vào Đà Nẵng…
/ Bốn phương hội tụ Đà Thành/ Du khách ngỡ ngàng/ Bao cảnh đổi thay
/ Thành phố vươn mình / đón gió trùng khơi” (Về nơi mây núi Sơn Trà)
Những vùng đất Tây Nguyên và Nam Bộ như Gia Lai, Kon Tum, Buôn Mê
Thuột, Đà Lạt, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ…nhà thơ Nguyễn Văn
Trình cũng nặng ân tình, cũng từng ghé đến để tìm hiểu, thưởng ngoạn trong
những dịp anh có cơ hội tham quan du lịch, gặp gỡ nhiều con người, từ đó
chắt lọc, gạn đục khơi trong để viết nên những thi phẩm để đời, được bạn đọc
yêu mến, ghi nhận như: “ Thủy điện Y- a- Ly Gia Lai, Tham quan nhà rông
Kon - Klor, Cầu treo Kon - Klor, Với Buôn Đôn, Thăm biệt điện Bảo Đại,
Làng cà phê Trung Nguyên, Thác Thủy Tiên, Thành phố của mù sương, Khu
du lịch thác Prenn, Viên ngọc xanh giữa lòng thành phố, Cõi thiền Linh Ẩn
Tự, Với Bến Ninh Kiều, Miệt vườn Cần Thơ, Chợ nổi Cái Răng, Tháng bảy
mưa ngâu…” Đà Lạt - thành phố của mù sương, mộng mơ, mang vẻ đẹp lãng
mạn như men say tình yêu theo cái nét rất duyên của riêng mình. Qua bài thơ
“Thành phố của mù sương”, người đọc không chỉ cảm nhận được một thành
phố đầy hoa, mờ sương, xứ sở của tình yêu, mà thiên nhiên và con người nơi
đây đã làm say đắm, xiêu lòng bao lữ khách:“ Đà Lạt mù sương / phố nhạt
nhòa/ Bóng ai / thấp thoáng phía mờ xa/ Phôi pha / tà áo màu sương trắng/
Tóc mai trong nắng / gió vờn bay / Nghiêng nghiêng / vành nón ngày vui mới/
Chơi vơi cảm xúc / phố xưa ngậm ngùi…” (Thành phố của mù sương)
Gia Lai - vùng đất được mệnh danh là nàng thơ của thiên nhiên thơ mộng
hùng vĩ và trong trẻo. Trong con mắt thi sĩ Nguyễn Văn Trình, Gia Lai là một
vùng đất của miền cao nguyên nắng gió, xanh thẳm của đại ngàn, âm vang
cồng chiêng mang câu chuyện sử thi bao ngàn đời khắp chốn, rất đầy chất
men tình, vẫy gọi những giấc mơ đang về: “ Tham quan hồ thủy điện/ Y- a- Ly
Gia Lai / Đường đi lên nhà máy/ Uốn lượn rất nên thơ/ Giữa cao nguyên bất
ngờ/ Bạt ngàn rừng nối rừng/ Còn cả rừng nguyên sinh/ Toàn những cây cổ
thụ/ Có tuổi vài trăm năm/ Giữ mạch ngầm nguồn nước/ Cho dòng sông Sê -
San / Làm nên hồ thủy điện/ Y-a- Ly Gia Lai” (Thủy điện Y- a - Ly Gia Lai)
Hồ Chí Minh - thành phố trẻ tựa như người thiếu nữ kiêu sa nhưng hay hờn
dỗi, chợt nắng chợt mưa. Đó là một nét đẹp của thành phố phương Nam văn
minh, đầy hoa lệ, nhộn nhịp nhưng cũng đầy chất chứa nỗi buồn nhớ cố
hương của người thơ, cái tâm trạng hoang hoải, chơi vơi trước cảnh cuối
chiều mưa ngâu tháng bảy: “ Chiều Sài Gòn / tháng bảy mưa ngâu/ Mưa tần
ngần / trên mái ngói rêu phong/ Mình ta / góc phố gác buồn cà phê/ Lặng
nhìn / đếm hạt mưa rơi/ Mà nghe / hoang hoải chơi vơi cuối chiều” (Tháng
bảy mưa ngâu).
2.3. Nguyễn Văn Trình đã từng là một người lính chiến đấu trên mặt trận biên
giới phía Bắc, và hiện nay anh là hội viên Hội cựu chiến binh Việt Nam.
Chính từ những năm tháng trực tiếp trải qua biết bao thăng trầm, gian khổ của
cuộc chiến tranh vệ quốc, một cách thật tự nhiên, hình tượng người lính đã trở
thành niềm cảm hứng, thôi thúc mãnh liệt cho sự sáng tạo của nhà thơ
Nguyễn Văn Trình. Viết về người lính, với Nguyễn Văn Trình là tất cả niềm
kiêu hãnh, tự hào. Người lính trong những thi phẩm như: “Những con tàu đi
canh giặc biển, Người lính đảo tiền tiêu Tổ quốc, Xuân về trên miền biên
viễn, Xuân biên cương, Cứu dân trong lũ dữ, Vì bình yên cuộc sống…” mang
những đặc trưng của thời đại và phong cách riêng khác, nhưng tựu trung thì
mẫu người văn hóa mới - người lính vẫn là người chiến sĩ cách mạng, biểu
tượng cho vẻ đẹp cao cả của dân tộc Việt Nam bền gan, vững chí, anh hùng,
bất khuất trước những khó khăn, thử thách sống còn và trước tham vọng bá
quyền của kẻ thù xâm lược. Người chiến sĩ giải phóng quân trong Bóng chiều
rơi cơ bản vẫn tiếp nối phẩm chất của người chiến sĩ vô sản với tâm hồn đấu
tranh rực lửa, vững vàng trước mọi thử thách, nguy hiểm hiện lên sáng ngời,
cao đẹp. Đó là, hình ảnh người chiến sĩ giải phóng quân đã anh dũng vượt
sông Thạch Hãn để vào trấn giữ Thành Cổ, Quảng Trị. Trong mưa bom bão
đạn của kẻ thù, đã có rất nhiều chiến sĩ giải phóng quân chiến đấu với tinh
thần quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh vĩnh viễn nằm lại trong lòng dòng
Thạch Hãn. Sự hy sinh của các anh đã trở thành biểu tượng đẹp nhất, hùng
tráng nhất, huyền thoại về lòng yêu nước, sự hy sinh về chủ nghĩa anh hùng
cách mạng của dân tộc Việt Nam: “Những người lính Cổ Thành/ Dầu dãi
nắng mưa/ Khói lửa chiến trường/ Đối mặt bom đạn kẻ thù hủy diệt/ Những
trận đánh giữ thành ác liệt/ Vẫn ôm nhau, trong nụ cười chiến thắng/ Vẫn hô
vang lời quyết chiến, với quân thù/ Những người lính đêm đêm/ Vượt sông
vào vùng hỏa tuyến/ Chạm mặt lính Dù/ Chạm mặt Thủy quân lục chiến/ Mồ
hôi áo lính, quyện máu thắm bờ sông/ Màu áo các anh, hòa màu xanh của
nước/ Tuổi hai mươi nằm lại bến sông này/ Nằm lại giữa đôi bờ sông Thạch
Hãn/ Để rạng ngời Tổ quốc thiêng liêng” (Hồn thiêng Thạc Hãn)
Hình ảnh người lính Hải Quân anh hùng, ngày đêm trấn giữ biển đảo quê
hương nơi đầu sóng ngọn gió trong Bóng chiều rơi đã để lại trong lòng bạn
đọc những ấn tượng khó quên. Hình ảnh hiên ngang, bất khuất của các chiến
sĩ Hải Quân đứng giữa biển trời bao la, vững vàng đứng gác, nung nấu lòng
yêu nước, sục sôi lòng căm thù giặc: “Giữa đại dương/ Những con tàu đi
canh giặc biển/ Vẫn hiên ngang nơi đầu sóng, ngọn gió/ Dõi mắt nhìn về phía
trùng khơi/ Trước mũi súng trên bong tàu / Là giặc/ Người lính vững vàng
đứng gác/ Lòng sục sôi hờn căm lũ cướp”(Những con tàu đi canh giặc biển)
Hình ảnh người lính biên phòng trong Bóng chiều rơi cũng đã để lại trong
trái tim bạn đọc biết bao cảm xúc, ấn tượng khó quên. Như tạc vào cảnh sắc
thiên nhiên nơi núi rừng biên viễn với màu xanh đại ngàn, với trời xanh mây
trắng, hoa xuân khoe sắc biên cương, mây giăng mờ lối nhỏ…là hình ảnh
người chiến sĩ biên phòng được tác giả khắc họa vừa chân thực, gần gũi vừa
sắc nét, đa chiều. Người lính biên phòng rất kiên gan bền chí, quả cảm trên
mọi nẻo đường tuần tra: “ Xuân về / trên dải đất biên cương/ Nắng vương /
tỏa khắp con đường tuần tra/ Nhành Ban / sắc trắng như ngà/ Vẫy chào /
chiến sĩ tuần tra sớm chiều.../ Đường tuần tra / vào xuân đẹp lạ/ Có hương
hoa / xuân thắm biên thùy/ Có đỉnh núi / mây giăng mờ lối nhỏ/ Có mây trời
gió biếc cứ bao la”(Xuân biên cương) Người lính biên phòng đảo Cồn Cỏ
đứng canh gác giữa biển trời lồng lộng, sóng nước mênh mông mãi mãi là
khúc ca đẹp, hào hùng nơi biển đảo quê hương:” Giữa trùng dương sóng vỗ/
Nơi ấy với người lính đảo: “Đảo là nhà, biển cả là quê hương” .../ Biển đảo
quê hương / Tổ quốc mẹ hiền/ Bốn ngàn năm / từng thấm máu bao anh hùng/
Tiền nhân giữ đảo/ Đã có mặt nơi đây/ Để khẳng định / biển đảo này đã là có
chủ” (Người lính đảo tiền tiêu Tổ quốc)
Hình ảnh người chiến sĩ Công an nhân dân liều mình cứu dân trong cơn lũ dữ
miền Trung, tích cực giúp dân khắc phục hậu quả sau mưa lũ, sớm ổn định
cuộc sống trở lại bình thường đã trở thành những hình ảnh đẹp, đầy xúc cảm
trong Bóng chiều rơi của Nguyễn Văn Trình:“ Tang tóc trắng trời/ Cơn hồng
thủy đã đi qua / Nhà cửa sập/ trường học tan hoang xơ xác/ Bàn ghế, sách vở
vùi chôn trong bùn đất/ Dân cơ cực màn trời chiếu nước/ Ngày trẻ đến
trường, chắc phải còn xa/ Các anh lại về giúp dân sau lũ/ Dựng lại nhà, vệ
sinh trường học/ Mong một ngày cuộc sống lại như xưa” (Cứu dân trong lũ
dữ) Và người chiến sĩ Công an nhân dân trong thời bình cũng giống như thời
chiến, với bao bộn bề, gian khổ hy sinh, đánh đổi bằng xương máu để bảo vệ
cuộc sống của người dân được bình yên, hạnh phúc:“ Người chiến sĩ Công An
nhân dân/ Giữa thời bình vẫn là cuộc chiến/ Bao bộn bề, gian khổ hy sinh/ Tự
hào màu áo xanh lá mạ/ Sáng ngời những chiến công rộn rã/ Đánh đổi bằng
xương máu, nguy nan / Cho bình yên cuộc sống dâng tràn” (Vì bình yên
cuộc sống)
2.4. Đến với Bóng chiều rơi, bạn đọc sẽ có một cuộc hành trình trở về với một
khung trời tuổi mộng của một thời áo trắng, với bao hoài niệm, cảm xúc tinh
khôi, bịn rịn không thể nhạt nhòa. Nhà thơ Nguyễn Văn Trình nguyên là thầy
giáo dạy Ngữ văn cấp III, cả cuộc đời luôn gắn bó sâu nặng với học sinh, với
đồng nghiệp, với mái trường thân yêu. Những bài thơ Nguyễn Văn Trình sáng
tác về đề tài này vì thế rất chân thật, giản dị, giàu cảm xúc.
Đó là, những kỷ niệm chan chứa yêu thương, không bao giờ nguôi quên ngôi
Trường THPT Bồ Bản, Triệu Phong - nơi đầu tiên Nguyễn Văn Trình đến
nhận công tác, giảng dạy: “ Nhớ một thời dạy học/ Con đường về trường xưa/
Đò ngang nhiều cách trở/ Sang sông lại nhớ đò…/ Từ trong ký ức vơi đầy/
Vẳng nghe / dào dạt âm ba sông này/ Trông về bến cũ, nhớ thương con đò/
Bâng khuâng đứng lặng bên sông/ Con đò còn đó, bến xưa ngậm ngùi”
(Bến xưa) Đó là, những nghĩa tình gắn bó sâu nặng của nhà thơ Nguyễn Văn
Trình với mái Trường THPT Lê Lợi – Đông Hà gần hai mươi năm, nơi anh đã
cùng nhạc sĩ Trần Kiềm cho ra đời bài ca truyền thống của nhà trường, nay
bài hát vẫn vang lên trong mỗi dịp nhà trường có lễ hội. Ngày về dự hội
trường hai mươi năm xây dựng và trưởng thành, Nguyễn Văn Trình cảm xúc
dâng trào: “Ngày về / trường dự hội/ Hai mươi năm / một chặng đường/ Ngẫn
ngơ / đứng lặng, sân trường thêm yêu/ Bao nhiêu / nhung nhớ còn đây
Từ trong / ký ức vọng về xốn xang/ Bây giờ / trường đã khang trang
Tòa ngang dãy dọc / nguy nga hơn nhiều/ Vẳng nghe / đâu tiếng mời chào/
Học trò / cũng đã lên ông, lên bà/ Cuộc đời / xuôi ngược đã qua / Trường
xưa / lối cũ nhạt nhòa đầy vơi” (Ngôi trường tuổi hai mươi)
Đó là, những đầy vơi nỗi niềm của nhà thơ Nguyễn Văn Trình gắn bó với
ngôi Trường THPT Chế Lan Viên trong những năm tháng cuối cùng sự
nghiệp trồng người cao cả của anh. Trong một lần trở lại dự hội trường xưa
tròn mười năm xây dựng phát triển, nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã xúc động
viết: “Ngày về / dự hội trường xưa/ Ngỡ như / vừa mới đã mười năm qua /
Chế Lan Viên, mãi không xa/ Dẫu bao kỷ niệm / vẫn là đâu đây/ Sân trường /
đứng lặng nỗi lòng đầy vơi/ Ngôi trường / một thuở, sớm trưa đi về” (Ngôi
trường hoài niệm)
2.5.Tình yêu đôi lứa là địa hạt của văn chương nói chung, thi ca nói riêng,
đem đến cho thi nhân những cảm xúc thăng hoa, sáng tạo. Nhà thơ Nguyễn
Văn Trình cũng không ngoại lệ, là gương mặt khá tiêu biểu xuất hiện trên một
số tạp chí và báo của trung ương và địa phương, được giới trẻ rất yêu mến bởi
thơ viết về tình yêu đôi lứa của anh mang nhiều cung bậc cảm xúc, rất gần
gũi, giản dị. Những thi phẩm viết về tình yêu đôi lứa trong Bóng chiều rơi
như: “ Chút tơ lòng, Thiên thu còn lại, Mắt biếc, Lối về còn xa, Chút men
tình, Bóng chiều rơi, Nỗi nhớ hanh hao, Uyên ương một thuở mơ hồ, Cơn
mưa đầu mùa…” khá hay, thể hiện những cung bậc cảm xúc, trạng thái tình
yêu, đặc biệt là tình yêu đầu đời. Nhà thơ Thế Lữ đã từng viết: “ Cái thuở ban
đầu lưu luyến ấy / Nghìn năm hồ dễ mấy ai quên”. Cái tình yêu đầu - thuở ban
đầu ngây thơ ấy khó ai có thể quên được, dù sau này trong cuộc đời có thể có
rất nhiều mối tình đẹp hơn, bỏng cháy hơn nhưng cái “hương vị”, cảm giác da
diết của lần đầu tiên sẽ mãi không thể nào tìm lại được nữa: “ Lối cũ ta về tìm
tuổi mộng/ Chênh chao sợi nhớ, đông đầy sợi thương/ Bóng chiều nhuộm tím
con đường/ Ngập ngừng chân bước, uyên ương một thời / Mờ xa mắt biếc
long lanh/ Luyến thương còn lại, hanh hao cõi lòng” (Nỗi nhớ hanh hao)
Thường tình yêu đầu đời chính là tình yêu ngây thơ nhất, thuần khiết nhất bởi
đó là tình yêu của tuổi trẻ và tự do khát vọng thể hiện mình. Cảm xúc của tình
yêu đầu đời vì thế thường dạt dào, mãnh liệt, niềm vui tràn đầy nhưng cũng
nhuốm đầy nỗi buồn, đau thương, và nuối tiếc: “ Hoang hoải chiều đứng
ngắm mây trôi/ Giọt nhớ nhung, đường côi lẻ bóng/ Chút tơ lòng, dài thêm
mộng tưởng/ Màu yêu đương thắp lửa phượng hồng/ Anh đâu biết mỏi mòn
sợi nhớ/ Dấu tàn phai nức nở xa xôi/ Thôi em về sửa soạn buổi sang sông/ Để
mộng vàng day dứt, nửa đau thương…” (Chút tơ lòng)
Tình yêu đầu đời dại khờ, giận hờn vu vơ, chỉ biết con tim muốn gì, hay tự ái,
cực đoan, rồi mãi mãi xa nhau, chia cách, biệt ly không báo trước, để lại nỗi
sầu đơn lẻ vì còn vương sợi tình: “ Chếnh choáng hơi men, chếnh choáng
tình/ Giọt rượu nồng vơi cạn chén môi xinh / Lối về sương phủ mờ chân dốc/
Một bóng đơn côi, góc nhạc buồn…/ Chiều buồn gió cuốn lệ tàn thương/ Sầu
ta đơn lẻ, còn vương sợi tình”(Chút men tình) Và đến khi trưởng thành, tình
yêu ấylại khác hơn, vì người thơ đã tìm được một tình yêu đích thực, biết yêu
thương nhau, cùng vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Tình yêu chân thành,
thủy chung bao giờ cũng không có chỗ cho sự lừa dối, đó là niềm tin, khẳng
định tình yêu đích thực của thi nhân: “ Ai thả bóng chiều rơi xuống phố/ Con
đường riêng một bước cô đơn/…/ Cố rót vào nhau tình nồng cháy/ Bờ môi tan
chảy nụ hôn đầu/ Nguyện cùng bão táp với mưa sa/ Tình anh thề hẹn, chẳng
phai nhòa/ Mấy lời vàng đá, trong tim ấy/ Trọn mãi ân tình, một thủy chung”
(Bóng chiều rơi)
3. Dẫu là một cái nhìn lướt qua nhưng thực sực cũng rất cần thiết để bạn đọc
nhận diện phương thức biểu hiện nghệ thuật trong Bóng chiều rơi vô cùng
quý giá về kỹ thuật sáng tác thơ của nhà thơ Nguyễn Văn Trình có được sử
dụng đúng cách, có khéo léo, hài hòa và tài tình hay không, nhưng đồng thời
cũng chính là những chỉ tiêu cần thiết, quan trọng để đo lường trình độ nghệ
thuật của các tác phẩm thơ. Hình thức nghệ thuật gồm nhiều yếu tố cấu thành
như: Thể loại, ngôn ngữ, nhịp điệu, hình ảnh, nhạc tính và các biện pháp tu từ
khác. Những yếu tố hình thức nghệ thuật này phản ánh tư duy, quan niệm
nghệ thuật, góp phần hình thành hướng thẩm mỹ, xác lập nên mô hình nghệ
thuật, dấu ấn phong cách thơ của tác giả. Ở bài viết này, tôi chỉ nêu một vài
đặc điểm nổi trội để bạn đọc thấy được nét riêng của chủ thể sáng tạo - tác giả
tập thơ Bóng chiều rơi.
Trong Bóng chiều rơi của nhà thơ Nguyễn Văn Trình đã vận dụng, kết
hợp hài hòa giữa các thể thơ trên nền tảng truyền thống và hiện đại như: lục
bát biến thể, thơ tự do, thơ 5 chữ, thơ 6 chữ và thơ 7 chữ…Thể lục bát và lục
bát biến thể vận dụng khá nhuần nhuyễn, chuyên nghiệp, đã tạo được sức lôi
cuốn đối với độc giả, tiêu biểu như các bài thơ: “Thẫn thờ chốn quê, Rú cát
Hải lăng, Về thăm quê Bác Làng Sen, Thương hoài giếng quê, Khúc ru cánh
đồng, Mãi bờ tre xanh…” Đặc biệt là những bài thơ lục bát biến thể theo
hướng cách tân hiện đại, sáng tạo, tinh tế, đó là cách chia tách các khổ thơ lục
bát theo cách riêng của mình: Cứ một câu lục, một câu bát làm nên một khổ
thơ hai câu, liên tục cho đến hết bài thơ, ví dụ như: “ Trông về tuổi mộng phôi
pha/ Mắt đà ươn ướt, lệ nhòa trang thơ.../ Giọt thương còn đọng cỏ hồng/
Hoàng hôn loang loáng, cuối trời xa xăm” (Uyên ương một thuở mơ hồ)
Các thể thơ 5 chữ, 6 chữ và 7 chữ có sáng tạo mới, những khổ thơ trong các
bài thơ thuộc thể loại này bao giờ cũng có số lượng câu thơ trên bốn câu như
truyền thống, tạo được sức hấp dẫn, mang đến cho người đọc những cảm nhận
mới lạ, đầy sáng tạo dẫn dụ một bài thơ 7 chữ, như: “ Mây gió về kia nào ai
biết/ Sợi buồn còn lại, xiết tim đau.../ Sương phủ bờ vai em gầy guộc/ Vô tình
lạc bước phía xa xôi” (Bóng chiều rơi)
Các bài thơ viết theo thể tự do chiếm một số lượng lớn, đầy sáng tạo, hơn
nửa tập thơ, điều đặc biệt là Nguyễn Văn Trình lại chọn cho mình hướng đi
riêng khác, đó là cách tân trên chính cái nền truyền thống, vì thế mỗi bài thơ
thuộc thể loại này có sức hấp dẫn riêng, thể hiện cá tính sáng tạo, mới mẻ, tạo
nên phong cách của tác giả: Trữ tình - lãng mạn:“ Sông cứ chảy đôi bờ bồi lỡ/
PhướcTích, Hội Kỳ bên nhớ bên mong/ Bên sông hoa rụng, còn vương lối về/
Tình quê bến đợi/ Bến chờ sông thương/ Tháng năm ngày đục, ngày trong/ /
Chìm trong mê khúc/ Bồng bềnh thuyền trôi/ Chạm vào nỗi nhớ bồi hồi/ Ô
Lâu huyền thoại, đắp bồi mưu sinh” (Ô Lâu huyền thoại)
Một số bút pháp nghệ thuật như bút pháp hiện thực, lãng mạn, tượng
trưng… được vận dụng rất linh hoạt, kết hợp nhuần nhuyễn. Bút pháp hiện
thực kết hợp với những cảm hứng hiện thực được tác giả sử dụng trong “Hồn
thiêng Thạch Hãn, Dòng sông khát vọng…” nhằm tô đậm, tái hiện lại hiện
thực chiến tranh khốc liệt và hình tượng người lính một cách sinh động, rất
chân thực, như nó vốn có, vốn tồn tại: “ Những người lính Cổ Thành/ Dầu dãi
nắng mưa/ Khói lửa chiến trường/ Đối mặt bom đạn kẻ thù hủy diệt/ Những
trận đánh giữ thành ác liệt/ Vẫn ôm nhau, trong nụ cười chiến thắng/ Vẫn hô
vang lời quyết chiến với quân thù/ Những người lính đêm đêm/ Vượt sông vào
vùng hỏa tuyến/ Chạm mặt lính Dù/ Chạm mặt Thủy quân lục chiến/ Mồ hôi
áo lính, quyện máu thắm bờ sông/ Màu áo các anh, hòa màu xanh của nước//
Tuổi hai mươi nằm lại bến sông này/ Nằm lại giữa đôi bờ sông Thạch Hãn/
Để rạng ngời Tổ quốc linh thiêng” (Hồn thiêng Thạch Hãn)
Bút pháp Lãng mạn cùng với việc sáng tạo hình ảnh thơ, với những liên
tưởng, tưởng tượng độc đáo, giàu cảm xúc, gợi cảm:“ Sông chừ hát khúc
hoan ca / Tượng đài chiến thắng đã xây đôi bờ/ Cụm di tích Hiền Lương -
Bến Hải / Thiên anh hùng ca bất tử muôn đời/ Khắc ghi một thời máu lửa/
Khát vọng hòa bình / Thống nhất non sông/ Cho đôi bờ vui, ngọt lành cây
trái/ Cho tình người đượm mãi với quê hương” (Dòng sông khát vọng)
Bút pháp tượng trưng gắn liền với các hình ảnh thơ mang nhiều ý nghĩa biểu
tượng, gợi nhiều liên tưởng cho người đọc:“ Hà Nội thu về/ Hồ Tây / màn
sương giăng bảng lảng/ Chùa Trấn Quốc / tiếng chuông ngân trầm mặc/
Vang vọng dài theo ngọn gió bay xa/ Hồ Gươm lung linh / soi bóng Tháp
Rùa/ Đền Ngọc Sơn / khói hương trầm nghi ngút/ Cầu Thê Húc chói ngời sắc
đỏ/ Linh thiêng hào khí, Thăng Long muôn đời” ( Hà Nội thu về)
Ngôn ngữ thơ trong Bóng chiều rơi - Nguyễn Văn Trình giản dị, mộc mạc
nhưng lại giàu hình ảnh, gợi nhiều liên tưởng, suy tưởng, có sức hút đối với
độc giả:“ Tìm về / thăm lại chốn quê/ Thăm đàn em nhỏ / mô tê nô đùa/ Thăm
đồng / lúa chính ươm vàng/ Bâng khuâng / lòng lại rộn ràng bước chân
Thăm người / bạn cũ ân cần/ Một thời / đèn sách đồng hành bên nhau/ Thăm
con / đường mới sau làng/ Một thời / chạy nhảy đuổi chuồn bắt ve” (Thẫn
thờ chốn quê)
Giọng điệu trong tập thơ chủ yếu là giọng điệu tâm tình hồn hậu, chân
thành mà lắng đọng sâu xa, ngọt ngào:“ Về thăm / đồng trũng Hải Lăng/
Thênh thang / ruộng lúa mênh mang cánh cò/ Dịu dàng / ngọn gió đồng quê/
Mà say hương lúa / mà mê hương đồng/ Bóng ai / thấp thoáng nâu sồng/
Bồng bềnh / tóc rối giữa chiều ruộng sâu/ Ngẫn ngơ / bông lúa trổ cờ / Thấy
mùa / no ấm bến bờ yên vui” (Về thăm đồng trũng Hải Lăng)
Phong cách nghệ thuật trong Bóng chiều rơi mang đậm phong cách: trữ
tình và lãng mạn. Những bài thơ tác giả viết từ việc “tức cảnh sinh tình”, từ
những rung động cảm xúc chân thành về tình yêu quê hương, đất nước, về
những con người bình dị, chân chất, lặng thầm cống hiến, hi sinh vì quê
hương, Tổ quốc, vì một tương lai tươi sáng, tốt đẹp: “ Cánh cò / cõng nắng,
cõng mưa/ Cõng đôi gánh nước / giữa trưa nắng hè/ Nhạc ve / réo rắt bờ tre/
Vọng nghe / tiếng gáy chim gù đâu đây/ Giếng quê / ký ức đong đầy/ Cây đa /
bến nước, sân đình nào phai/ Dịu dàng / dáng trúc thân mai/ Gieo ai nỗi nhớ
/ thương hoài giếng quê” (Thương hoài giếng quê)
4. Thiết nghĩ, điều đáng ghi nhận là tuyệt đại đa số những bài thơ trong Bóng
chiều rơi - Nguyễn Văn Trình rất đáng được đọc, được thưởng thức và suy
ngẫm, bởi sức cuốn hút của những giá trị nội dung và nghệ thuật của tập thơ
như đã phâm tích ở trên. Tuy nhiên, trong một tài sản thơ có đến 111 bài thơ,
thì đâu đó - âu là một lẽ thường tình - còn những chỗ chưa thật như mong đợi.
Nhưng phải khẳng định, ghi nhận rằng: Tập thơ Bóng chiều rơi đã được nhà
thơ Nguyễn Văn Trình dốc hết tâm huyết của mình, cần mẫn như con tằm rút
ruột, ươm tơ để hầu mong đem đến cho người đọc yêu thơ những vần thơ có
giá trị cao, giàu ý nghĩa sâu sắc, có sức lan tỏa mạnh mẽ và đầy tính nhân văn
của một tâm hồn nghệ sĩ luôn nặng lòng ân nghĩa với thơ, với đời và với
người.
Porland - Maine, Ngày 16/4/2022

Người gửi / điện thoại