CHIẾC TRÁP BẰNG ĐÁ KHỔNG TƯỚC
Pavel Bazov
Chắc các bạn hãy còn nhớ, khi Xtê-pan sắp lấy vợ, Bà Chủ Núi Đồng có tặng cho chàng một chiếc tráp bằng đá khổng tước đựng đầy đồ nữ trang quý giá, ngay đến vị hôn thê có giàu sang cũng không dám mơ ước.
Na-ta-xi-a lớn lên trong cảnh mồ côi nên cũng không quen dùng đồ sang trọng. Chỉ khi nào đi lễ nhà thờ hay đi thăm họ hàng thì nàng mới đeo. Vậy mà những người phụ nữ trong làng vẫn còn xì xào bàn tán:
– Kìa, nhìn xem! Xtê-pan đã kiếm được ở đâu một nàng công chúa ra công chúa!
Nghe những lời bàn tán đó, Xtê-pan rất bực mình. Chàng không muốn vợ mình đeo những đồ trang sức đó nữa, liền bảo:
– Mình hãy đem cất chiếc tráp đó xuống đáy hòm.
Đến khi Xtê-pan mất, người ta thấy tay chàng cầm viên ngọc bích. Khi đó Na-ta-xi-a đem hộp nữ trang cho mọi người xem. Một ông lão trong làng rất sành về đồ trang sức đã bảo chị:
– Chiếc tráp này đáng giá tiền nghìn!
Na-ta-xi-a cất chiếc tráp vào chỗ cũ.
Nhiều người hỏi Na-ta-xi-a làm vợ, nhưng người thiếu phụ đó không nhận lời ai, nàng ở vậy nuôi con. Xtê-pan để lại cho vợ con một gia tài khá lớn, một ngôi nhà khang trang, một đàn đầy ngựa, bò, dê, cừu. Nhưng Na-ta-xi-a một mình nuôi con thật khó khăn. Một năm, hai năm, ba năm trôi qua... Gia cảnh cứ sa sút dần, đàn gia súc bán dần, bán mòn, nhà chẳng còn gì. Họ hàng khuyên Na-ta-xi-a bán hộp nữ trang đi. Nghe tin đó, nhiều lái buôn tới hỏi mua. Người trả một trăm, người trả hai trăm...
Na-ta-xi-a vẫn nhớ lời người chồng quá cố dặn không bán chiếc tráp đá nên nàng còn do dự không muốn bán. Đứa con gái nhỏ nói:
– Mẹ đừng bán vật kỷ niệm của cha. Để con đi ở cho người ta.
Xtê-pan mất đi để lại ba đứa con, hai trai một gái. Cô gái út làm cho mọi người phải sửng sốt trước sắc đẹp lạ lùng của nó. Không chỉ những người đàn bà ngồi lê đôi mách mà ngay cả những người đàn ông cũng bảo Xtê-pan:
– Hai cha con giống nhau như hai giọt nước, tóc đen, mắt xanh. Con chúng tôi chẳng ai được như thế.
– Chẳng có gì là lạ cả! Tóc đen vì cha nó từ nhỏ đã lăn lộn với đất, còn mắt xanh vì tôi đã tìm thấy tảng đá xanh cho lão chủ mỏ. Đó là bản sao của tôi mà!
Từ đó Xtê-pan gọi Ta-nhi-a là «Đài kỷ niệm của cha» và mỗi khi mua sắm cho Ta-nhi-a, chàng đều mua những thứ có màu xanh da trời hay màu xanh lá cây. Ta-nhi-a càng lớn càng xinh đẹp. Thỉnh thoảng ngắm nhìn con, Na-ta-xi-a phải thốt lên:
– Con gái ta đẹp thật! Dường như không phải con ta mà là ai đã đánh tráo con gái cho ta.
Ta-nhi-a rất đau đớn vì cái chết của cha, người gầy rộc đi chỉ còn thấy hai con mắt. Để con đỡ buồn, Na-ta-xi-a tính cho con gái chiếc tráp đá khổng tước. Cô bé tay còn nhỏ tuổi nhưng đã thích làm dáng. Một điều kỳ diệu đã xảy ra khi cô bé chạm tay vào chiếc tráp:
– Mẹ ơi, vật kỷ niệm của cha con quý biết bao! Nó tỏa ra hơi ấm như con ngồi cạnh lò sưởi ấy mẹ ạ!
Trong khi đó Na-ta-xi-a ngồi khâu quần áo, hai tay tê cóng, hai tay đau buốt vì lạnh, má đỏ ửng. Nàng nghĩ như vậy thật không bình thường, vội cất chiếc tráp vào đáy hòm.
– Mẹ ơi, lấy chiếc tráp đá cho con chơi đi!
Thương con, Na-ta-xi-a lại đưa chiếc tráp cho con chơi.
Sau này, khi Ta-nhi-a lớn lên, nàng thường tự lấy chiếc tráp đó ra ngắm nghía. Mỗi khi mẹ và các anh đi vắng, Ta-nhi-a xin phép ông chủ cho về trông nhà. Đầu tiên, nàng phải lo dọn dẹp nhà cửa, rửa chén đĩa, giữ sạch khăn trải bàn, cho gà ăn. Nàng mong nhanh nhanh làm xong việc nhà để còn lấy chiếc tráp đá ra xem. Nàng lấy đồ trang sức trong tráp đá ra ướm thử vào người.
Một lần, khi Ta-nhi-a đang mải ngắm đồ trang sức thì có kẻ trộm vào nhà. Không ai biết hắn vào nhà bằng lối nào. Đã có ai nói với hắn về chiếc tráp đá đó, vì thế hôm nay hắn lẻn vào nhà để lấy trộm nó.
Ta-nhi-a đang lấy vòng vàng nhẫn bạc ra đeo thì tên ăn trộm lẻn vào. Tay hắn cầm chiếc rìu. Ta-nhi-a quay lại, nhìn thấy hắn đứng cạnh ổ rơm, em sợ hãi ngồi im. Bỗng tên ăn trộm buông chiếc rìu, hai tay ôm mặt kêu lên:
– Trời ơi, mù mắt tôi rồi!
Mắt hắn nhắm chặt, thái dương giật giật. Ta-nhi-a khó chịu nhìn người lạ, hỏi:
– Ông đến nhà tôi làm gì mà cầm cả rìu theo nữa?
Người lạ mặt rên rỉ vì đau. Ta-nhi-a thấy vậy đâm thương hại, em cầm chiếc gàu định đi lấy nước, nhưng hắn chặn cửa không cho em đi. Ta-nhi-a đành trèo qua cửa sổ, chạy sang nhà hàng xóm. Mọi người kéo sang nhà em, căn vặn tên kẻ trộm. Hắn nói:
– Tôi là người qua đường, muốn vào hỏi thăm, nhưng vừa bước vào nhà thì bị cái gì đâm vào mắt, nóng như tia mặt trời, mắt tôi bị mù vì bỏng.
Ta-nhi-a không hé răng về chiếc tráp đá và chiếc rìu. Vì vậy mọi người không tin lời kẻ lạ mặt. Họ nghĩ:
– Chuyện hoang đường! Có thể do cô bé quên đóng cửa, hắn ta lẻn vào nhà rồi không biết chuyện gì đã xảy ra với hắn.
Họ giữ tên lạ mặt lại cho tới khi Na-ta-xi-a về. Khi Na-ta-xi-a về tới nhà, hắn cũng nói với bà như vậy. Bà Na-ta-xi-a kiểm tra thấy không mất mát gì bèn thả cho hắn đi. Mọi người trong xóm ai về nhà nấy.
Chờ cho mọi người về hết, Ta-nhi-a kể hết sự tình cho mẹ nghe. Bà Na-ta-xi-a biết chiếc tráp đá đó không phải chiếc tráp thường. Để tránh những việc đáng tiếc có thể xảy ra, bà cất kỹ chiếc tráp đó vào kho chứa đồ dưới hầm nhà.
Khi cả nhà đi vắng, Ta-nhi-a lại định lấy chiếc tráp xanh ra ngắm nghía, nhưng nàng không thấy. Ta-nhi-a rất buồn, thắc mắc không biết mẹ đã cất chiếc tráp ở đâu hay đã bán mất rồi. Nàng tìm khắp nhà. Bỗng nhiên thấy dưới sàn nhà có ánh sáng hắt lên, nàng sợ hãi tưởng cháy nhà. Ta-nhi-a chạy lại nhìn vào kho chứa đồ, không thấy lửa và khói, chỉ thấy ở góc hầm nhà sáng bừng lên. Nàng chui vào kho chứa đồ, sang phòng nhận ra ánh sáng đó phát ra từ chiếc tráp đá. Ta-nhi-a không mang chiếc tráp đá đó lên nhà nữa mà trốn dưới hầm nhà chơi. Trong khi đó bà Na-ta-xi-a vẫn đinh ninh chiếc tráp đã được giấu kỹ không ai hay biết.
Năm tháng trôi qua, các con đã lớn cả, hai người con trai đã đi làm, kiếm ra tiền giúp mẹ. Còn Ta-nhi-a do tình cờ mà học được nghề thêu cườm.
Một hôm, có một người đàn bà ngực ngăm ngăm đen, vai đeo bị, tay chống gậy, đi đến nhà Na-ta-xi-a nói:
– Thưa bà chủ, bà có thể cho tôi ở trọ nhà bà ít bữa không? Tôi mệt quá rồi, không thể đi xa hơn được nữa.
Na-ta-xi-a nhìn người đàn bà đó nghi ngại: không biết có phải vì chiếc tráp đá mà bà ta muốn nghỉ lại nhà mình không? Nhưng Na-ta-xi-a vẫn bảo:
– Tôi không tiếc bà chỗ nghỉ. Ăn hết nhiều chứ ở hết mấy? Nhưng nhà tôi nghèo, chẳng có giường chiếu gì, sáng ăn kê, uống nước kơ-vát, chiều lại nước kơ-vát với bánh kê. Quanh năm chỉ có vậy. Nếu bà không ngán thì bà muốn nghỉ lại bao lâu cũng được.
Người đàn bà đi vào trong nhà, bỏ bị xuống, rồi lấy đồ khâu ra thêu. Na-ta-xi-a không thích cử chỉ đó của bà ta. Na-ta-xi-a nghĩ: thật là con người bất lịch sự, không kịp chào hỏi ai đã giở đồ may ra.
Người đàn bà đó nói với Ta-nhi-a:
– Cháu có muốn học thêu không?
Ta-nhi-a lại gần bà ta. Người đàn bà đưa cho Ta-nhi-a chiếc khung thêu, ngôi nhà tự nhiên trở nên ấm hơn và sáng sủa ra. Ta-nhi-a thích thú nhìn không chớp mắt những đường thêu kỳ diệu, còn người đàn bà mỉm cười nói:
– Thế nào, con có muốn học không?
Na-ta-xi-a không bằng lòng nói:
– Chúng tôi không đủ tiền mua muối, nói gì đến thêu thùa! Tôi không có tiền trả công dạy cho bà đâu.
– Cứ yên chí, bà chủ ạ, tôi không lấy tiền công đâu. Nghề thêu không phải là nghề vô dụng, bà cứ để cho cháu nó học rồi bà sẽ thấy những người thợ thêu chúng tôi cũng kiếm được khá tiền.
– Vậy bà dạy cho cháu biết nghề, tôi xin cảm ơn bà.
Người đàn bà bắt đầu dạy cho Ta-nhi-a học thêu. Cô bé đã nhanh chóng nắm được bí quyết của nghề thêu cườm.
Ta-nhi-a ngày càng quyến luyến người đàn bà đó. Cô đối với mẹ và những người khác trong gia đình rất hay gắt gỏng, nhưng với người đàn bà xa lạ này lại đặc biệt dịu dàng, điều đó đã xúc phạm đến tình cảm của người mẹ. Bà Na-ta-xi-a vô cùng buồn rầu, bởi bà đã hy sinh cả cuộc đời, hạnh phúc của tuổi thanh xuân cho con cái. Bà buồn rầu nghĩ: «Nó tìm được một người mẹ mới rồi đấy! Đối với người mẹ dứt ruột đẻ ra nó, đã cho nó cả cuộc đời thì hễ cứ trái ý nó một chút là nó gắt, nói với mẹ độc nói trống không, như sai phái người ở. Mà đối với người dưng nước lã ấy thì dịu dàng, quấn quýt».
Dường như trêu tức Na-ta-xi-a, người đàn bà đó còn một điều «con gái của mẹ» hai điều «con gái của mẹ», chứ không thèm gọi tên thánh của Ta-nhi-a.
Ta-nhi-a biết mẹ giận, nhưng cô bé lại không biết mẹ giấu tình cảm của mình. Bà Na-ta-xi-a vì buồn rầu mà gầy sút đi, nhưng chỉ biết nhẫn nhục cam chịu số phận không may của mình:
– Người đời là vậy, biết làm sao bây giờ!
Ta-nhi-a còn nói lộ cho người đàn bà kia về chiếc tráp đá của cha.
– Nhà con có một kỷ vật rất quý của cha con để lại – đó là chiếc tráp bằng đá khổng tước rất đẹp, con có thể suốt đời nhìn ngắm nó mà không chán mắt.
– Có thể cho mẹ xem được không?
– Để khi nào cả nhà đi vắng con sẽ cho mẹ xem.
Một hôm cả nhà đi vắng, Ta-nhi-a đưa người đàn bà xuống hầm nhà, lấy chiếc tráp đá ra cho bà ta xem. Người đàn bà đó xem qua rồi nói:
– Đẹp lắm, con đeo vào cho mẹ xem rõ hơn.
Ta-nhi-a chỉ chờ có vậy, nàng lấy đồ trang sức đeo vào. Bà ta khen nức nở:
– Đẹp tuyệt, chỉ cần sửa chút xíu nữa thôi!
Người đàn bà chạm ngón tay vào chiếc tráp, lập tức chiếc tráp đó lóe lên những tia sáng kỳ lạ, lúc nhìn thấy Ta-nhi-a, lúc không. Sau đó, bà ta bảo Ta-nhi-a:
Ta-nhi-a đứng dậy, còn người đàn bà đó im lặng vuốt ve mái tóc, bờ vai, khắp người Ta-nhi-a rồi nói:
– Con hãy quay lại sau, nhìn thẳng về phía trước, im lặng đừng nói gì cả.
Ta-nhi-a quay lại. Trước mặt nàng hiện ra một tòa cung điện nguy nga, trần nhà, tường nhà, sàn nhà đều lát đá khổng tước. Trước mặt Ta-nhi-a như có tấm gương. Một cô thiếu nữ xinh đẹp đứng trước mặt nàng. Chỉ có trong chuyện cổ tích mới có người con gái đẹp đến như vậy.
Tóc nàng đen như đêm tối, mắt nàng xanh màu ngọc bích. Khắp người nàng trang điểm bằng ngọc quý. Lẽ ra người con gái của người thợ phải xấu hổ trước mọi người vì đã ăn mặc sang trọng như công chúa mới phải, nhưng cô gái mắt xanh này vẫn bình thản như đương nhiên phải ăn mặc như vậy. Trong cung điện đầy người. Họ ăn mặc rất sang trọng, ngay đến người hầu của họ cũng đeo vàng bạc quanh mình. Ở đó dường như tập trung tất cả giới thượng lưu. Các bà cũng đeo găng tay trắng, cũng đeo đồ trang sức bằng đá quý, nhưng so với cô gái mắt xanh thì họ không xứng đáng xách dép cho nàng.
Cạnh cô gái mắt xanh là một chàng quý tộc, tóc bạch kim, tai dài như tai thỏ. Chàng ta ăn mặc sang trọng, đầy người là đá quý, trông cũng biết ngay là ông chủ mỏ. Người tóc bạch kim nói gì đó với cô gái mắt xanh, nhưng nàng chẳng buồn đưa mắt nhìn sang chàng ta nữa, coi như không có mặt chàng ta ở trên đời.
Ta-nhi-a nhìn chàng tóc bạch kim nói:
– Trông ông ta như ngập trong đống đá ấy!
– Thôi đủ rồi, con đừng nhìn nữa!
– Tòa nhà đó ở đâu hở mẹ? Còn cô gái mắt xanh và chàng trai tóc bạch kim là ai?
– Tòa nhà đó chính là cung điện của Sa hoàng. Cha con đã tìm đá về lót cung điện đó. Còn cô gái mắt xanh và chàng quý tộc tóc bạch kim là ai thì sau này con sẽ rõ.
Ngay trong ngày hôm đó, người đàn bà thợ thêu từ biệt Na-ta-xi-a lên đường. Bà ta cúi đầu thật thấp chào chủ nhà, đưa cho Ta-nhi-a chiếc túi thêu hạt cườm và một chiếc khuy thủy tinh. Bà ta nói:
– Con hãy cầm lấy làm kỷ niệm. Khi nào gặp khó khăn trong cuộc đời, con hãy nhìn vào chiếc khuy, nó sẽ trả lời con.
Bà ta nói xong rồi đi. Mọi người tiễn chân nhìn theo.
Từ đó Ta-nhi-a trở thành cô thợ thêu. Nàng lớn lên thành một cô gái xinh đẹp. Nhiều chàng trai quanh vùng thầm yêu Ta-nhi-a, nhưng họ chỉ dám đứng dưới cửa sổ nhà nàng, ngắm nàng ngồi thêu chứ không dám lại gần. Bởi vì trong con mắt của dân làng, Ta-nhi-a là một cô gái khó gần, không vui vẻ. Họ cho rằng cái chết thảm thương của cha nàng đã làm nàng trở thành một người hay cau có. Mọi người thường hỏi không biết trái tim nàng có chỗ nào để cho tình yêu lọt vào được không? Ai lọt vào được mắt xanh của nàng?
Nhà của ngài quý tộc trong vùng cũng thường gửi đồ tới thuê Ta-nhi-a thêu. Một người hầu trẻ, ăn mặc sang trọng như ông chủ thường mượn cớ vì một việc gì đó để tới nhà Ta-nhi-a. Hắn ta ngồi hàng giờ ở nhà nàng. Dân làng nghĩ có lẽ cô gái sẽ bị hắn chinh phục chăng? Mọi người xì xào bàn tán. Ta-nhi-a chỉ nói với hắn những gì liên quan tới công việc, còn ngoài ra chẳng chú ý gì tới hắn, mặc cho hắn tán hươu tán vượn. Cô chán ngấy:
– Hãy thử xem, hỡi con người lịch thiệp, hãy đợi đấy! Chỉ sợ rồi tôi cũng lại được đối xử như cái đồng hồ chết của các ngài mà thôi!
Chàng trai bảnh bao đó cùng các chàng quý tộc khác nghe những lời như thế đều rất tức tối. Bọn họ tru lên như chó sủa:
– Chẳng lẽ đó là một cô gái? Chúng ta mà lại thèm tìm một cô gái như vậy à?
Nói vậy thì nói, nhưng chính họ lại vẫn không thể quên được vẻ đẹp của Ta-nhi-a. Họ vẫn đi qua nhà nàng mặc dù chỉ để ngắm nhìn nàng qua cửa sổ. Ngày lễ hầu như tất cả các chàng trai đều tụ tập đi lại trên con đường nhỏ chạy qua cửa sổ nhà Ta-nhi-a. Còn Ta-nhi-a vẫn chẳng buồn đoái hoài tới họ.
Láng giềng bắt đầu trách Na-ta-xi-a:
– Sao Ta-nhi-a nhà bà lại làm cao vậy? Chẳng thèm để mắt tới các chàng trai của chúng tôi nữa, hay còn chờ đợi chàng hoàng tử nào đó? Sợ rồi già kén kẹn hom!
Na-ta-xi-a nghe những lời trách cứ đó, chỉ thở dài:
– Ôi, tôi cũng chẳng biết phải làm sao với nó nữa! Còn tôi quả có xinh đẹp hơn người thật, nhiều chàng trai tuấn tú đã tới chơi, họ nói chuyện, còn nó thì cứ nhìn vài cái khuy áo và im lặng. Dường như nó nhìn thấy con mắt xanh ấy trả lời thế nào đó, còn tôi nhìn vào thì chẳng thấy nó có gì khác chiếc khuy bình thường. Chính cái con mụ phù thủy mà tôi đã cho ở nhờ đã biến nó thành như vậy. Ôi, rồi nó cũng đến trở thành bà cô thôi! Tôi cứ nghĩ đến đó mà bực cả mình. Mắng nó thì nó bảo:
«Con biết làm sao bây giờ? Số phận của con không phải ở đây, con không thể nhận lời cầu hôn của ai cả. Con ngồi cạnh cửa sổ vì công việc của con đòi hỏi như vậy, còn họ cứ đi qua cửa sổ nhà mình là quyền của họ. Con có làm điều gì xấu đâu? Vì vậy các bà bảo tôi còn biết nói làm sao với nó nữa? Có phải nó kén chồng đâu, mà cái khuy ma quái kén chồng cho nó đấy chứ!»
Tuy vậy cuộc sống của gia đình bà Na-ta-xi-a vẫn êm ấm. Hàng thêu của Ta-nhi-a bán rất chạy, không chỉ ở trong làng mà các nơi khác cũng biết tiếng. Nhiều nhà quý tộc ở nơi khác cũng tới nhà Ta-nhi-a đặt mua hàng thêu của nàng. Gia đình Ta-nhi-a trở nên sung túc. Nhưng rồi nỗi bất hạnh lại đến với họ. Một hôm nhà Ta-nhi-a bị cháy, gia sản nhà nàng bị cháy hết trong vụ hỏa hoạn, chỉ còn chiếc tráp đá mà thôi. Na-ta-xi-a bảo các con:
– Gia đình ta đứng bên bờ vực thẳm rồi. Đành phải bán chiếc tráp đá vậy.
Các con trai của bà cũng nói:
– Mẹ bán đi mẹ ạ. Chỉ có đừng bán rẻ quá.
Ta-nhi-a nhìn vào chiếc khuy, con mắt xanh nhấp nháy, như bảo hãy để cho mẹ bán đi. Đằng nào cũng phải bán vật kỷ niệm của cha. Ta-nhi-a thở dài nói:
– Bán thì bán. – Nàng chẳng buồn nhìn chiếc tráp lần cuối để chia tay với nó.
– Nhà bên cạnh có người thương gia ở trọ đấy. – Nàng nói tiếp.
Cả nhà quyết định đành phải bán chiếc tráp đá quý.
Các nhà buôn ngọc đã tới nhà Ta-nhi-a. Họ ngắm nghía, xem xét kỹ càng, cò kè bớt một thêm hai, người trả năm trăm, bảy trăm, có kẻ đã trả tới một ngàn. Những người trong nhà máy cũng không thiếu tiền. Họ cũng muốn sắm sửa nhiều, nhưng bà Na-ta-xi-a nhất định đòi đủ hai ngàn mới bán. Người mua vẫn ùn ùn kéo tới nhà bà Na-ta-xi-a. Người mua muốn bớt chút ít, kẻ bán lại muốn bán đắt một chút, rốt cuộc chẳng ai thuyết phục được ai. Những người mua lại bỏ đi. Cứ như vậy cho tới khi có một người đốc công mới tới nhà máy.
Ngài đốc công mới này đã từng du học ở nước ngoài. Ngài nói tiếng ngoại quốc thì thạo, nhưng nói tiếng Nga lại rất tồi. Ngài ta thường nói «cút đi» thành «cát đi». Vì vậy dân làng gọi ngài là ngài Cát-đi. Tuy nói «cút đi» nhưng ngài ta không đuổi ai cả.
Cha của ngài đốc công – một quý tộc già đã bị liệt toàn thân, chân tay hoàn toàn không cử động được nữa. Ông ta mong con trai sẽ kết hôn với một nàng bá tước hay công tước. Nhưng số phận trớ trêu, con ông lại yêu một cô gái nhạc công. Ông đã nhiều lần ngăn cấm nhưng chẳng ăn thua gì, con trai ông rất chung thủy với cô ta. Cuối cùng ông đành đồng ý cho con trai lấy người mình yêu.
Những người bạn của cô nhạc công thường bảo nàng:
– Chị sẽ ra sao sau khi lấy chồng? Theo chồng về cái chốn khỉ ho cò gáy ấy thì tài năng của chị cũng một sớm một chiều mai một đi.
Bởi thế nàng dao động, khi thì cãi nhau với chồng chưa cưới, khi lại tỏ ra âu yếm.
Chỉ có ngài quý tộc già là ranh mãnh. Dần dần ông ta cũng thuyết phục được cô con dâu tương lai. Thế là đám cưới được cử hành, đôi trẻ trở về Pô-lê-va. Vì vậy Cát-đi xuất hiện ở nhà máy. Nhưng Cát-đi sống ở đây chẳng được bao lâu. Chàng ta biến đi cũng đột ngột như khi xuất hiện. Đó không phải là một người xấu. Mọi người ở nhà máy cảm thấy tiếc con người đó.
Cát-đi và vợ tới nhà bà Na-ta-xi-a hỏi mua chiếc tráp đá. Cô vợ mê ngay chiếc tráp. Cô ta lớn lên ở Pê-téc-bua, đã sống nhiều năm ở nước ngoài, nên rất sành sỏi về các loại trang sức. Vậy mà cô ta cũng phải ngạc nhiên khi nhìn thấy chiếc tráp đá. Cô ta nhủ thầm: «Cái gì thế này? Đến công chúa cũng chẳng thể có được những đồ trang sức đẹp như vậy. Vậy mà ở cái chốn khỉ ho cò gáy này lại có?».
— Vậy bà hãy mang tới nhà tôi rồi lấy tiền ở đó.
Na-ta-xi-a không bằng lòng, bà nói:
— Hãy mang đủ tiền đến đây, bà sẽ nhận được chiếc tráp.
Vợ Cát-đi nhìn bà Na-ta-xi-a, thấy không thể bắt bà làm theo ý mình được, đành nói:
— Thôi được, nhưng xin bà đừng có bán chiếc tráp ấy cho ai, tôi sẽ về lấy tiền trả bà.
— Điều ấy thì có thể được. Tôi không quen nuốt lời hứa của mình. Tôi sẽ chờ bà tới chiều, còn lâu hơn nữa thì tôi không dám hứa.
Vợ Cát-đi về nhà lấy tiền.
Cô ta vừa đi khỏi, lại có vài người tới hỏi mua chiếc tráp đá.
— Nghe nói bà có chiếc tráp đá khổng tước muốn bán?
— Bà đã bán cho người ta bao nhiêu?
— Hai ngàn! Vẫn như giá tôi đã nói với các ông thôi.
— Bà điên rồi sao? Sao bà không bán cho người mình, mà lại bán cho người lạ? Thôi, để lại cho chúng tôi đi! Chúng tôi trả thêm cho bà.
Nhưng bà Na-ta-xi-a trả lời:
— Không được, tôi đã hứa bán cho người ta rồi. Thấy lợi mà quên cả danh dự là việc mà các ông quen làm, chứ tôi không phải loại người quen nuốt lời hứa. Thôi các ông đi đi. Tôi không muốn mặc cả mặc lẽ gì nữa đâu!
Vợ Cát-đi đã mang tiền tới, đếm đủ hai ngàn trao cho bà Na-ta-xi-a, rồi cầm lấy chiếc tráp đá định đi, nhưng vừa ra tới cổng thì gặp Ta-nhi-a. Nàng vừa đi đâu về. Cuộc trao đổi mua bán đã diễn ra khi không có Ta-nhi-a. Nhìn thấy vợ Cát-đi cầm chiếc tráp đá đi ra, nàng cứ nhìn chằm chằm. Vợ Cát-đi bắt gặp cái nhìn kỳ lạ ấy, ngạc nhiên hỏi:
— Ai đây? Chiếc tráp này là của bà hay của cô ta?
— Đó là người mà mọi người vẫn gọi là con gái tôi. — Bà Na-ta-xi-a trả lời. — Đó chính là người thừa kế của chiếc tráp đó. Nếu như chúng tôi không bị cháy nhà thì không bao giờ chúng tôi bán vật kỷ niệm thiêng liêng của cha nó để lại. Từ nhỏ con gái tôi đã ham thích chơi những đồ trang sức đựng trong chiếc tráp đó. Nó say mê đến mức đã có lần khen ngợi chiếc tráp đó đã tỏa ra hơi ấm sưởi cho nó giữa những ngày mùa đông rét buốt. Đã bao giờ bà nghe thấy chuyện kỳ lạ như vậy chưa?
Vợ Cát-đi nhủ thầm: «Cô gái mắt xanh đó không biết trong tay mình từng có một kho báu quý giá như thế nào. Những đồ trang sức như thế mà trưng ra ở kinh đô thì đến công chúa cũng phải ngoái đầu lại nhìn. Mình sẽ là con ngốc nếu không phát hiện ra chúng ở Tu-tran-nhi này».
Vợ Cát-đi vừa về đến nhà đã liến láu nói:
— Bây giờ, thưa người bạn lịch sự của tôi ạ, tôi sẽ chia tay với anh! Ở Tu-tran-nhi này chẳng còn hy vọng tìm thấy điều gì mới mẻ nữa. Chúng ta chia tay nhau từ đây. Tôi sẽ đi Pê-téc-bua hoặc là ra nước ngoài. Tôi sẽ bán chiếc tráp này, và ở đó những người chồng như anh có thể kiếm được hàng tá, nếu như tôi muốn.
Tuy nói vậy, nhưng cô ta vẫn chưa vội ra đi, mà chạy lại trước gương để thử các đồ trang sức.
Ôi, đàn bà vẫn chỉ là đàn bà! Việc đầu tiên Cát-đi phu nhân đeo chiếc vương miện lên mái tóc. Nhưng sao thế này? Chiếc vương miện cuốn các sợi tóc lại, đau nhức không thể chịu được. Cô ta đành tháo ra, đeo thử chiếc vòng bạc thì chiếc vòng xiết chặt lấy cổ tay, chút nữa không tháo ra được.
Ngài Cát-đi cười mỉa mai:
— Tưởng gì ghê gớm lắm. Chưa gì đã vội lên mặt với chồng.
Cô vợ Cát-đi nghĩ: «Phải ra thành phố để sửa lại cho vừa với mình».
Nói là làm, sáng sớm hôm sau vợ Cát-đi tới ngay nhà người thợ kim hoàn nổi tiếng ở gần nhà máy. Đó là một người thợ già, rất giỏi. Ông ta hỏi vợ Cát-đi đã mua chiếc tráp đá này của ai? Vợ Cát-đi kể lại những gì mà cô ta biết. Người thợ già nhìn chiếc tráp một lần nữa rồi từ chối:
— Mặc dù tôi có thể sửa lại cho vừa ý bà, nhưng tôi không dám làm.
Tất nhiên vợ Cát-đi không thể hiểu được tại sao người thợ già không chịu làm, dù cô ta đã hứa sẽ trả công rất hậu.
Vợ Cát-đi chạy khắp nơi, nhưng ai cũng chỉ say mê ngắm chiếc tráp đá. Nhiều người thậm chí chẳng buồn mở chiếc tráp ra xem mà đã từ chối lời yêu cầu của cô ta. Vợ Cát-đi liền ranh mãnh nghĩ ra kế đánh lừa người thợ bạc. Cô ta bảo rằng mình đã mang chiếc tráp đó từ Pê-téc-bua về. Người thợ cười nói:
— Tôi biết chiếc tráp này bà đã mua ở đây. Câu chuyện bi thảm về chiếc tráp đá này đã lan truyền trong đám thợ chạm khắc đá chúng tôi. Một người thợ đã chạm khắc đá quý cho người nào đó, thì người thợ khác không bao giờ làm lại.
Vợ Cát-đi không thể hiểu hết sự tình, nhưng cô ta lờ mờ cảm thấy, hình như họ sợ một người thợ nào đó. Cô ta chợt nhớ người chủ chiếc tráp đã nói con gái bà ta rất thích đeo những đồ trang sức trong tráp, dường như chúng làm riêng cho con gái bà ta mà thôi. Như thế thì thật là bất hạnh cho mình, tốn tiền vô ích.
— Thôi, ta sẽ tìm cách bán quách cho một đứa ngốc nghếch nào đó để lấy lại tiền.
Nghĩ vậy, vợ Cát-đi liền trở về Pô-lê-va.
Về tới Pô-lê-va, cô ta hay tin cha chồng đã mất. Còn Cát-đi đã trở thành ông chủ nhà máy. Ít lâu sau, vợ Cát-đi nhận được một bức thư: «Em thân yêu, đã bao nhiêu thời gian trôi qua kể từ ngày em ra đi...».
Từ ngày vợ bỏ đi, Cát-đi trở nên buồn rầu, tối ngày say sưa rượu chè với những người làm công. Tất nhiên những người làm công đó ra sức chuốc rượu cho ông chủ. Một lần, trong khi Cát-đi uống rượu ngà ngà say, có một người nói:
— Trong nhà máy chúng ta có một cô gái đẹp tuyệt vời, trên đời này không thể tìm thấy cô gái thứ hai như vậy.
— Ai vậy? Nàng là con cái nhà ai, nhà ở đâu?
Mọi người cho Cát-đi biết đó chính là người con gái ở nhà vợ Cát-đi mua tráp ngọc.
— Giá như được nhìn thấy cô ta một chút nhỉ. Có thể mượn cớ gì để tới thăm nàng được không?
— Chúng ta có thể đi ngay bây giờ. Họ vừa xây xong nhà mới. Tuy họ là những người tự do, nhưng nhà của họ cất trên vùng đất của nhà máy, nên có thể mượn cớ đi qua tiện thể vào thăm họ.
Ba người làm công cùng đi với Cát-đi tới nhà Ta-nhi-a. Họ hồi hộp không biết bà Na-ta-xi-a có nhà hay không? Không biết bà sẽ đón tiếp những người khách lạ đường đột tới thăm như thế nào?
Cuối cùng họ cũng tìm được đến nơi. Ta-nhi-a ở nhà một mình, nàng đang ngồi thêu. Cát-đi nhìn Ta-nhi-a mà chẳng biết nói gì. Chàng ta chưa bao giờ nhìn thấy một vẻ đẹp như vậy nên cứ đứng ngây ra, còn Ta-nhi-a vẫn bình thản ngồi thêu, như chẳng có việc gì liên quan đến nàng. Mãi sau Cát-đi mới nói:
— Tôi đang thêu hàng cho người ta.
— Vậy tôi có thể đặt nàng thêu cho tôi một cái gì đó không?
— Tại sao lại không được? Miễn là giá cả phải chăng.
— Nàng có thể thêu cho tôi bức chân dung của nàng được không?
Ta-nhi-a nhìn vào chiếc khuy, con mắt xanh nhấp nháy tỏ vẻ đồng ý: «Hãy nhận lời đi».
— Tôi sẽ không thêu chân dung của tôi mà sẽ thêu chân dung một cô gái ăn mặc như công chúa, trang điểm bằng những đá quý. Chỉ cần ông trả giá thỏa đáng.
— Về giá cả, nàng khỏi phải lo — Cát-đi trả lời — Cho dù là một trăm hay hai trăm đồng tiền vàng ta cũng vui lòng trả nàng, chỉ cần khuôn mặt cô gái đó phải là khuôn mặt thiên thần của nàng là được.
— Khuôn mặt nhất định giống, nhưng ăn mặc thì khác.
Họ ngã giá một trăm đồng tiền vàng, thời hạn giao hàng là một tháng. Nhưng Cát-đi vẫn đứng dằng dai chưa chịu đi. Chàng ta như bị mất hồn, ăn nói chẳng ra đâu vào đâu. Ta-nhi-a vẫn làm như chẳng nhận thấy gì, nói vài ba câu chuyện cho qua chuyện.
Ba người đi theo Cát-đi nghe lỏm chuyện của hai người, họ chê cười ông chủ:
— Người chi mà vụng về vậy? Bọn ta phủi sạch giày theo ông ta đi hỏi vợ cũng vô ích thôi!
Một tháng trôi qua, tới ngày hẹn, Cát-đi tới nhà Ta-nhi-a, nàng đưa bức chân dung ra. Cát-đi sửng sốt nhận ra đó chính là Ta-nhi-a đẹp lộng lẫy trong bộ lễ phục công chúa, trang điểm bằng ngọc bích. Màu xanh lam của đá khổng tước làm cho mắt nàng càng thêm long lanh. Cát-đi ngây ngất trước bức tranh. Chàng ta đưa cho Ta-nhi-a ba trăm đồng tiền vàng, nhưng nàng chỉ nhận hai trăm và nói:
— Tôi không lấy đắt của ông làm gì, tôi sống bằng sức lao động của tôi.
Cát-đi về nhà, giấu vợ bức chân dung đó. Từ đó Cát-đi cũng bớt uống rượu hơn và chăm chú tới công việc của nhà máy hơn.
Mùa xuân năm đó có một chàng quý tộc trẻ, đẹp trai tới nhà máy. Dân chúng trong vùng tổ chức lễ tạ ơn. Sau đó kéo nhau ra quán uống rượu, khiêu vũ. Dân chúng nâng cốc để tưởng nhớ ngài quý tộc già, chúc mừng ngài quý tộc trẻ. Họ uống tới đồng cô-pếch cuối cùng. Sáng hôm sau đi làm, chiều về họ lại tới quán say sưa. Họ đi thuyền trên sông, cưỡi ngựa vào rừng, khắp nơi tưng bừng tiếng nhạc. Cát-đi chè chén suốt ngày. Bồi bàn đặt trước mặt chàng ta con gà quay ngon nhất nhưng chàng từ chối. Mọi người ra sức phục vụ ngài quý tộc mới đến.
Cát-đi mặc dù say sưa nhưng không hề bỏ qua bất kỳ chuyện gì xảy ra trong mấy ngày ngày lễ. Một lần chàng ta kêu to lên giữa bàn tiệc:
— Tôi biết ngài quý tộc Tu-tra-nhi-nốp muốn đoạt vợ của tôi. Nhưng chẳng cần! Hãy mang cô ta đi! Tôi có người khác rồi, hãy nhìn xem! — Cát-đi rút trong túi ra bức chân dung thêu. Mọi người thở dài, còn Cát-đi phu nhân không hé mở miệng nói gì.
Chàng quý tộc Tu-tra-nhi-nốp tò mò nhìn bức chân dung, hỏi:
— Có chất đầy vàng trên mặt bàn này tôi cũng không trả lời.
Nhưng những người trong nhà máy biết ngay đó là Ta-nhi-a.
Một người giải thích cho Tu-tra-nhi-nốp. Còn Cát-đi phu nhân tức giận giậm chân nói :
— Anh là loại người gì vậy ? Đứa con gái làm công lấy đâu ra những đồ trang sức bằng ngọc và quần áo sang trọng như nàng công chúa vậy? Còn bức chân dung này anh đã mang từ nước ngoài về. Trước hôm cưới anh còn đưa cho tôi xem. Bây giờ lại còn đơm đặt bịa chuyện gì nữa?
— Đồ điêu ngoa ! Chính cô mới là người bịa chuyện, vứt cái danh dự quý tộc xuống chân. Tôi đã cho cô xem bức tranh này hồi nào? Tôi đã đặt thêu bức chân dung đó ở ngay đây. Đó chính là cô gái mọi người vừa nói đến. Tôi không biết cô ta lấy đâu ra bộ quần áo công chúa, còn những đồ trang sức mà cô ấy đeo chính là trong chiếc tráp ngọc mà cô đã bỏ ra hai ngàn rúp để mua nhưng lại không đeo vừa. Điều đó cả nhà máy đều biết.
Chàng quý tộc vừa nghe tới ngọc đã vội hỏi:
— Hãy cho tôi xem chiếc tráp đó.
Đó là một chàng quý tộc được thừa hưởng một gia tài rất lớn, nghe đâu có bán ngọc là chàng ta liền tới xem xét, nếu là ngọc tốt lập tức bỏ tiền ra mua.
Cát-đi phu nhân nhìn mọi người rồi cô ta mang chiếc tráp ra. Chàng quý tộc nhìn chiếc tráp, hỏi ngay:
Trong giây lát họ đã thỏa thuận xong giá cả, và làm giấy bán cho Tu-tra-nhi-nốp. Chàng ta đặt chiếc tráp trên bàn và sai người đi gọi Ta-nhi-a tới.
Ta-nhi-a chẳng hiểu chuyện gì, tưởng người ta cho gọi tới để đặt hàng, nên nàng tới ngay. Ta-nhi-a vừa bước vào phòng thì nhìn thấy chàng quý tộc trẻ tuổi, giống như chàng quý tộc đã có lần nàng nhìn thấy ở tòa lâu đài mà người thợ dạy thêu cho nàng đã chỉ cho nàng xem. Trước mặt chàng ta là chiếc tráp đá của cha nàng. Ta-nhi-a hỏi:
— Ngài gọi tôi tới có việc gì?
Tu-tra-nhi-nốp ngây ngất trước sắc đẹp của Ta-nhi-a nên không thể trả lời ngay, mãi sau mới nói được.
— Chiếc tráp này của nàng phải không?
— Vâng, trước đây đã có một thời gian nó là của tôi, còn bây giờ tôi đã bán cho người khác rồi!
— Bây giờ nó sẽ là của nàng! — Chàng quý tộc nói.
— Nếu như tôi muốn tặng lại cô?
— Vì sao ông lại muốn tặng tôi?
— Nào, bây giờ nàng có thể đeo thử lên người cho tôi xem một chút được không?
— Điều ấy thì tôi có thể làm được.
Ta-nhi-a cầm lấy chiếc tráp, lấy đồ trang sức ra đeo. Đó là việc quen thuộc của nàng. Chàng quý tộc chỉ còn biết đứng ngây ra mà nhìn nàng, không thốt lên được lời nào.
— Thế nào? Tôi có thể về được chưa? Tôi còn bao nhiêu công việc ở nhà.
— Nàng có bằng lòng làm vợ tôi không?
— Chỉ có các ngài quý tộc mới có thể ăn nói như vậy.
Nàng cởi bỏ đồ trang sức rồi đi về.
Nhưng ngay ngày hôm sau, chàng quý tộc lại tới nói với bà Na-ta-xi-a hãy gả con gái cho mình.
— Hãy hỏi ý nó, nhưng theo tôi thì chắc nó chẳng lấy ông đâu.
Ta-nhi-a nghe lời cầu hôn của chàng quý tộc thì liền nói:
— Tôi nghe nói trong hoàng cung có căn phòng khảm toàn bằng đá khổng tước. Nếu ông tặng tôi căn phòng đó thì tôi sẽ lấy ông.
Chàng quý tộc bằng lòng ngay. Chàng ta chuẩn bị lên đường về Pê-téc-bua và muốn đem Ta-nhi-a đi theo, nhưng Ta-nhi-a nói:
— Theo tục của chúng tôi thì chỉ có những cặp vợ chồng sắp cưới mới cưỡi ngựa đi bên nhau, mà chúng ta chưa phải là như vậy. Điều ấy để cho sau này, khi nào ông thực hiện được lời hứa của mình.
Chàng quý tộc chẳng buồn nhìn tới vợ Cát-đi, đi thẳng về Pê-téc-bua. Chàng ta lùng khắp thành phố để mua ngọc cho vợ chưa cưới. Chàng ta đã vơ vét được khá nhiều ngọc. Cả thành phố tò mò muốn biết mặt vợ chưa cưới của Tu-tra-nhi-nốp. Tới mùa thu thì căn phòng chuẩn bị cho Ta-nhi-a đã xong, chỉ còn việc đặt may quần áo và giày cưới cho nàng. Ta-nhi-a nhận được tin đó bèn tới ở nhà một người đàn bà góa ở ngoại ô Pê-téc-bua. Tu-tra-nhi-nốp tới đó thăm nàng và nói:
— Sao nàng lại ở đây? Căn phòng đã chuẩn bị xong, đẹp tuyệt vời, lát toàn loại đá hảo hạng.
Công chúa nghe nói về căn phòng lát đá khổng tước và vợ chưa cưới của Tu-tra-nhi-nốp liền tới nhà chàng. Công chúa ra lệnh:
— Hãy cho ta xem mặt vợ chưa cưới của ngươi. Ta đã nghe nói nhiều về cô ta.
Chàng quý tộc tới nơi Ta-nhi-a đang ở để bàn nốt một số việc chuẩn bị cho lễ cưới. Cần phải may cho nàng một bộ quần áo cung đình, để xứng với những đồ trang sức mà nàng đeo.
— Chàng khỏi cần bận tâm về trang phục của thiếp, và cũng chẳng cần gửi ngựa đến cho thiếp. Ngựa thiếp đã có rồi, chỉ cần chàng đợi ở bậc tam cấp để dẫn thiếp vào trong cung.
Tới ngày cưới, trong cung điện rất đông các bậc vương tôn công tử, quận chúa tới dự lễ. Ngựa để chật cả trong sân, còn Tu-tra-nhi-nốp sốt ruột chờ vợ chưa cưới ở bậc tam cấp.
Cuối cùng Ta-nhi-a tới. Từ xa, mọi người tò mò nhìn nàng. Nàng đeo những đồ trang sức tuyệt vời. Màu xanh của ngọc rất hợp với màu xanh của mắt nàng. Nhưng nàng lại khoác chiếc áo khoác của người thợ và đi bộ, có rất nhiều dân thường lũ lượt đi theo nàng. Ta-nhi-a đã tới cổng cung điện. Đám quý tộc xì xào bàn tán tỏ vẻ khinh bỉ. Tu-tra-nhi-nốp xấu hổ bỏ trốn vào trong cung điện.
Ta-nhi-a cởi bỏ khăn quàng và áo khoác ra, đám đông kinh ngạc vì bộ trang phục của nàng, đến công chúa cũng không thể có được những thứ sang trọng như vậy. Màu xanh của áo, màu xanh của ngọc hòa lẫn với màu xanh của mắt nàng. Mọi người xì xào:
— Nàng công chúa đó là ai vậy?
Tu-tra-nhi-nốp trả lời đầy kiêu hãnh:
— Đó là vợ chưa cưới của tôi!
Ta-nhi-a nghiêm khắc nhìn chàng ta:
— Điều ấy còn phải xem lại đã. Tại sao ngài lại lừa dối tôi? Sao không đợi tôi ở bậc tam cấp?
Tu-tra-nhi-nốp vội vã xin lỗi, nài nỉ mời nàng vào trong cung điện.
Họ bước vào cung điện. Ta-nhi-a thấy trong đó đã đông nghịt người, chẳng còn chỗ mà len chân nữa. Nàng hỏi Tu-tra-nhi-nốp:
— Lại một sự lừa dối nữa! Thiếp đã dặn chàng là chỉ mời ít người dự lễ cưới của chúng ta trong cung điện đá khổng tước thôi cơ mà?
Nói xong nàng bước vào cung điện bình thản như ở nhà. Các bậc vương tôn công tử cũng vào theo nàng.
Mọi người không rời mắt khỏi Ta-nhi-a, còn nàng dựa vào bức tường lát đá khổng tước chờ đợi. Tu-tra-nhi-nốp vẻ mặt khổ sở nói với nàng là đứng ở đây chờ đón công chúa thì thật không tiện một chút nào. Nhưng Ta-nhi-a vẫn bình thản đứng đó, chẳng thèm để ý tới lời cầu khẩn của Tu-tra-nhi-nốp. Công chúa bước vào tiền sảnh, chẳng có ai ở đó để đón tiếp nàng. Công chúa đi tiếp tới cung lát đá khổng tước, thấy Tu-tra-nhi-nốp và vợ chưa cưới đứng đó cùng tất cả mọi người, nàng rất bực mình. Nàng tức giận xăm xăm bước vào phòng. Mọi người cúi chào công chúa. Riêng Ta-nhi-a vẫn đứng thẳng chẳng chịu chào công chúa. Công chúa thét lên:
— Con bé bướng bỉnh này là vợ của Tu-tra-nhi-nốp đấy ư?
Nghe những lời hống hách như thế, Ta-nhi-a không kìm được mình nữa, nàng cau mày nói với Tu-tra-nhi-nốp:
— Chàng lại còn bày đặt những gì thế này? Thiếp đã bảo chàng hãy chỉ công chúa cho thiếp xem, còn chàng lại để công chúa dám xúc phạm tới thiếp. Lừa dối! Toàn những chuyện lừa dối! Tôi không còn muốn nhìn thấy mặt chàng nữa. Xin trả lại chàng những viên ngọc của chàng!
Nói xong, nàng tựa lưng vào bức tường lát đá khổng tước. Trong phút chốc, nàng tan biến mất. Trên tường chỉ còn sáng lấp lánh.
Mọi người sợ hãi chạy tán loạn. Công chúa ngã xuống sàn nhà bất tỉnh. Người hầu nâng nàng dậy, đưa về hoàng cung. Mãi sau mọi người mới hoàn hồn. Có người bảo Tu-tra-nhi-nốp:
— Hãy nhặt những đồ trang sức ấy lên! Toàn những thứ quý giá cả đấy!
Tu-tra-nhi-nốp nhặt những viên đá lên, nhưng chàng ta cầm tới viên nào thì viên đó tan biến thành những giọt như giọt nước mắt. Giọt màu vàng, giọt màu đỏ như máu. Chàng ta chẳng nhặt được một chút gì cả. Cuối cùng, chỉ nhặt được một chiếc khuy xanh. Trông nó giống như mọi chiếc khuy thủy tinh khác. Nhưng khi chàng nhìn vào chiếc khuy thì hình Ta-nhi-a đáng thương hiện lên, nàng nói:
— Ôi, sao chàng lại nỡ đối xử với thiếp như vậy? Chẳng lẽ chúng ta không xứng đôi vừa lứa hay sao?
Từ đó, Tu-tra-nhi-nốp bị mất trí, nhưng chàng không chịu vứt chiếc khuy đi. Thỉnh thoảng chàng lại nhìn vào chiếc khuy, Ta-nhi-a lại hiện lên với những lời trách móc nặng nề. Buồn rầu vì đau khổ, chàng ta lâm vào cảnh bần cùng, mang công mắc nợ. Những người thợ cũng chẳng buồn đến làm công cho chàng nữa.
Vợ của Cát-đi cũng chẳng được lợi lộc gì. Cô ta nhận được giấy đòi nợ, phải bán cầm cố toàn bộ mỏ sắt và quặng của khu mỏ.
Từ đó không ai ở nhà máy còn nghe thấy tin tức gì của Ta-nhi-a.
Ta-nhi-a tuy là con đẻ của Na-ta-xi-a nhưng từ lâu nàng đối với mẹ lạnh lùng như người dưng. Tuy vậy Na-ta-xi-a vẫn vô cùng đau khổ vì cái chết đáng thương của con gái.
Hai người con trai của Na-ta-xi-a đều đã lấy vợ và đã có con.
Những chàng trai chưa vợ vẫn tới chờ dưới cửa sổ nhà Ta-nhi-a. Họ đợi Ta-nhi-a, hy vọng nàng sẽ lại xuất hiện.
Sau đó tất nhiên rồi họ cũng đi lấy vợ hết và câu chuyện về nàng Ta-nhi-a vẫn thường được kể lại như một huyền thoại:
«Ở nhà máy chúng ta đã từng có một cô gái tuyệt vời như vậy, trên đời này không thể tìm thấy cô gái thứ hai như thế nữa...».
Sau này, có người kể rằng có hai Bà Chúa Núi Đồng chứ không phải chỉ có một như ngày trước. Đã có người nhìn thấy hai cô gái mặc áo xanh màu lông công thường xuất hiện trên đỉnh núi...
Nguồn: CHIẾC TRÁP BẰNG ĐÁ KHỔNG TƯỚC, Paven Bazốp, NXB Thuận Hóa, 1987, tr. 30 - 59
Pavel Bazov tên đầy đủ là Pavel Petrovich Bazhov là nhà văn, nhà báo và nhà sưu tầm văn học dân gian Nga. Ông sinh ngày 27 tháng 1 năm 1879 tại vùng Ural, trong một gia đình công nhân. Bazhov nổi tiếng với những truyện cổ tích văn học lấy cảm hứng từ truyền thuyết, đời sống và văn hóa dân gian vùng Ural, đặc biệt là tập “Chiếc tráp bằng đá khổng tước ” (Малахитовая шкатулка). Nhiều tác phẩm của ông có các nhân vật huyền thoại gắn với núi rừng, mỏ đá và những người thợ Ural. Ông qua đời ngày 3 tháng 12 năm 1950 tại Matxcơva.
Cám ơn Phạm Hồng Hà đã gửi bản dịch này!
