bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
BÀI VIẾT MỚI
PHẢN HỒI MỚI

VŨ NHO 085 589 0003

CÁM ƠN ANH NGUYỄN BÁ CƯỜNG!ĐÂY COI NHƯ CUỘC TRAO ĐỔI HỌC THUẬT XUYÊN BIÊN GIỚI CỦA NHỮNG NGƯỜI LÀM NGHIÊN CỨU!GS TRẦN ÍCH NGUYÊN LÀ NGƯỜI CÓ NHIỀU CÔNG SỨC CHO VĂN HỌC VIỆT NAM!

 

Đinh Y Văn

Cảm ơn Tổng biên tập! Tôi không chủ ý “vịnh mùa thu” mà chỉ mạo muội “vịnh”…bác Nguyễn Khôi. Giữa thực trạng dường như không “còn khoảnh trời nào để cho thơ”, bác Nguyễn Khôi vẫn có “Thu Hà Nội 2026”!

 

vũ nho 085 589 0003

Hai bác cao tuổi vịnh mùa thu Bác khôi thấy nóng, bụi bay mù Bác Y Văn lại thấy trời man mát Hai bác khác mà CHUNG nét THU!

 

Đinh Y Văn

Kính bác Nguyễn Khôi: THU NGUYỄN KHÔI 2026/ Hà Nội cuối thu vẫn đợi thu/ Mặc cho nắng nóng, bụi toang mù/ Lớp lớp cao tầng ngoi lên thở/ Nguyễn Khôi vẫn thấy khoảnh trời Thơ! ĐYV

 

VŨ NHO 085 589 0003

VŨ NHO ĐƯỢC BIẾT LÊ THU PHƯƠNG QUỲNH LÀ CON GÁI CỦA TS PHẠM THU PHƯƠNG, THỨ NỮ CỦA THẦY PHẠM LUẬN, MỘT CHUYÊN GIA HÀNG ĐẦU VỀ  VĂN HỌC TRUNG ĐẠI TỪNG CÔNG TÁC TẠI ĐHSP HÀ NỘI VÀ ĐHSP VIỆT BẮC. RẤ...

 

VŨ NHO 085 589 0003

CÂU CHUYỆN THẬT CẢM ĐỘNG VỀ CỤ BÙI DUY TÂN!TÔI CÓ DUYÊN ĐỌC CUỐN "VĂN KHOA CHÂN DUNG KÍ" CỦA NHÀ VĂN HỮU ĐẠT, ANH ĐẠT KỂ CỤ TÂN CÓ SÁNG KIẾN "ĐỔ NƯỚC MỘNG GIƯỜNG".  SAU NÀY CÁC CON CỤ MUA NHÀ CHO...

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 53
Trong ngày: 470
Trong tuần: 3205
Lượt truy cập: 2052637

GIỚI THIỆU THƠ ĐẶNG TIẾN

 

 ĐẶNG THÂN

THƠ ĐẶNG TIẾN

Đặng Tiến ở Thái Nguyên vừa gửi ba tập thơ, đang in tiếp hai tập nữa. Nhìn cái tên có hai vần trắc, thấy vừa nặng vừa chắc. Nặng như đá, và chắc như gạch. Và trực giác mách hãy nhìn thơ Đặng Tiến như thế. Trước hết, xin đến với tập thơ đầu tay của anh: SOI (2026).
Theo các giới thiệu gần đây, thơ Đặng Tiến thiên về: chiêm nghiệm đời sống; ký ức quê hương và tình bạn; những suy tư về lịch sử, thân phận, văn hóa; với giọng điệu mộc mạc, ít phô trương kỹ thuật, giàu cảm xúc lắng đọng. Có thể tôi cũng đồng ý, nhưng cứ là phải vào tận nơi cho chắc.
Khi mới bập vào thì thấy có thể gọi Đặng Tiến có chất thơ melopoetry (theo cách hiểu từ Ezra Pound là loại thơ lấy nhạc tính, âm điệu, sự ngân vang của ngôn từ làm trung tâm; nghĩa của từ có thể quan trọng, nhưng sức mạnh chủ yếu nằm ở âm thanh). Các bài trong SOI có nhạc tính rất mạnh: điệp ngữ, điệp cấu trúc, nhịp hô gọi, nhịp tụng ca, nhịp độc thoại sân khấu (Ví dụ: “Tôi - cứ - cố - mà - không - tài - nào - hiểu - nổi!” hay “Không còn gì / Không còn gì” rõ ràng mang tính melopoetic). Thế nhưng, càng đọc thì lại thấy thơ anh có những vận hành theo cơ chế khác.
Cốt lõi thơ Đặng Tiến không phải âm nhạc ngôn từ mà là tư tưởng được trình diễn bằng âm nhạc ngôn từ. Nếu dùng hệ thống của Pound, có thể thấy thơ Đặng Tiến gần với Logopoeia (vũ điệu của trí tuệ trong ngôn ngữ) nhất; kế đến là Melopoeia; và có khá nhiều yếu tố Phanopoeia (hình ảnh). Nói cách khác, thì thơ Đặng Tiến là một dạng logopoetry được melopoetry hóa. Hay ngắn gọn hơn: Đặng Tiến không hát để làm thơ; anh suy tưởng bằng một giọng hát. Đó là lý do nhiều bài của anh đọc trên trang giấy/mạng đã thấy giống một màn trình diễn bằng giọng nói, gần với chant-poetry (thơ tụng niệm), oratorio poetry (thơ hợp xướng), thậm chí dramatic poetry (thơ kịch) hơn là melopoetry (thơ nhạc tính) theo nghĩa hẹp.
Riêng với thơ Đặng Tiến, có thể thấy đây không hẳn là thơ âm nhạc như Verlaine, không hẳn là thơ kịch như Browning, cũng không hẳn là thơ hợp xướng theo nghĩa cổ điển; mà là một thứ lai ghép rất thú vị: Thơ đa thanh diễn xướng (Polyphonic Performance Poetry), hoặc Thơ hợp xướng hiện sinh (Existential Choral Poetry), hoặc Thơ độc thoại đa thanh (Polyphonic Monologue Poetry), hoặc Thơ tụng ca triết luận (Philosophical Chant Poetry).
Nhìn vào các bài như: “Những tiếng nói vọng về từ chữ”, “Tửu ca”, “Tân cuồng ca”, “Bi ca”, “Ai ca nhị khúc”, “Tuyệt ngữ thi”, v.v. ta thấy Đặng Tiến rất thích: hô gọi, điệp cú pháp, xướng ngôn, triệu hồn nhân vật, đối thoại với người chết, giọng tiên tri, giọng tụng niệm. Do đó nếu phải đặt một thuật ngữ cho toàn bộ khuynh hướng này, thơ Đặng Tiến có thể được xem như một dạng THƠ DIỄN XƯỚNG ĐA THANH (Polyphonic Performance Poetry), hay rộng hơn là THƠ HỢP XƯỚNG TRIẾT LUẬN (Philosophical Choral Poetry), vì nó bao trùm được cả: đa thanh, diễn xướng, độc thoại, hợp xướng, triết luận, liên văn bản, mà không đóng khung vào riêng nhạc tính (melopoetry) hay kịch tính (dramatic poetry). Đây không chỉ là thơ để đọc bằng mắt, mà là thơ được viết cho nhiều giọng nói cùng vang lên trong tâm trí người đọc.
Giờ, mời bạn đọc cùng tôi “khám phá” kỹ hơn thơ Đặng Tiến.
Rất update, anh đã dùng AI để viết lời giới thiệu cho tập thơ. Tiện, tôi cũng xin dùng AI để tóm tắt sự giới thiệu này:
“SOI không phải tập thơ để ngắm mình đẹp hơn, mà để tự lột mặt nạ. Đặng Tiến soi từ gương mặt đến lịch sử, từ ký ức chiến tranh đến ngôn từ đã hóa nghi phạm. Trong chiếc gương nứt ấy, cái tôi hiện ra méo mó, đau đớn, giễu nhại và cười để khỏi hóa đá. Đây không phải thơ an ủi. Đây là cuộc thẩm vấn bản thân. Đến mức AI cũng phải xác nhận: còn người thì còn vết sẹo, mà vết sẹo thì không biết nói dối.”
AI ở đây không đóng vai nhà phê bình, mà chỉ là tấm gương điện tử; điều đáng nói không phải nó nhìn thấy gì, mà là nó cũng không tìm được cách nào để né tránh một cái tôi đã tự nguyện bước vào vùng chiếu xạ của sự thật.
Tập thơ 450 trang, chắc và không hề nhẹ. Được tuyển thành hai phần: “SOI” và “TUYỆT NGỮ THI”. Phần một có 66 bài, phần hai 46 bài.
Phần một “SOI” là cuộc độc thoại dài của một chủ thể từng đi qua chiến tranh, hưu cảnh, văn chương và những đổ vỡ của thời đại. Từ “soi” mình, soi chữ, soi lịch sử, nhà thơ mở rộng hành trình sang quê hương, bằng hữu, rượu, cái chết, tình phụ tử và ký ức văn hóa Đông-Tây. Ở đây có tiếng cười giễu nhại của Swift, Beckett, có bóng Lý Bạch, Đỗ Phủ, Whitman, có Huế, Tết, tháng Chạp, nghĩa địa và những ngọn nến khóc trong đêm. Tất cả hợp thành một bản trường ca tự vấn: đau đớn mà tỉnh táo, hoài nghi mà vẫn thiết tha với con người.
Nhưng điều đáng chú ý hơn cả là giọng điệu. Đặng Tiến không dựng mình thành một nhà hiền triết đứng ngoài cuộc, cũng không đóng vai nạn nhân của lịch sử. Anh xuất hiện như một kẻ vừa dự phần vừa chứng kiến, vừa hoài nghi vừa kiếm tìm. Những bài thơ trong phần này liên tục dao động giữa trầm tư và giễu nhại, giữa bi ca và tửu ca, giữa suy tưởng siêu hình và những chi tiết rất đời thường. Bởi vậy, “SOI” không chỉ là hành động nhìn lại quá khứ, mà như còn là nỗ lực giữ lấy phẩm giá con người trước sự bào mòn của thời gian.
Xét từ cấu trúc, phần một cũng cho thấy một ý thức tổ chức rất đáng chú ý. Các bài thơ không đứng riêng lẻ mà liên kết thành những cụm chủ đề: tự soi xét, chiến tranh và hậu chấn thương, suy tư về thơ ca, đối thoại với các thi hào Đông Tây, những chuyến đi, những ngày tháng cụ thể, những người thân yêu và người đã khuất. Từ bài đầu “Soi” đến bài “Bạn tôi” thấy một hành trình giống một vòng đời thu nhỏ: sinh ra, nhớ lại, rong ruổi, hoài nghi, yêu thương, mất mát rồi tri ân. Vì thế, phần một có thể được đọc như một tự truyện tinh thần được kể bằng ngôn ngữ thi ca.
Đọc riêng từng bài, người ta có thể bắt gặp những cảm xúc, những ý tưởng hoặc những ám ảnh cụ thể. Nhưng đọc toàn bộ phần một, điều hiện ra không chỉ là chân dung một thi sỹ, mà còn là chân dung một thế hệ từng đi qua chiến tranh, đổi thay xã hội, khủng hoảng niềm tin và những va đập văn hóa của thời hiện đại. Những câu hỏi về quê hương, lịch sử, thi ca, đạo đức và ý nghĩa tồn tại liên tục trở đi trở lại dưới nhiều hình thức khác nhau. Chính sự trở lại ấy tạo nên chiều sâu của tập sách: như thể không phải để tìm câu trả lời cuối cùng, mà để giữ cho ngọn lửa chất vấn không bao giờ tắt. Bây giờ, xin được giới thiệu một số bài mà tôi cảm thấy nặng và chắc nhất.
Bài đầu tiên, “Soi”, sau đoạn mở đầu này:
Thỉnh thoảng soi mặt vào gương
Thấy yên tâm
Không đến nỗi nào
Vẫn mặt ta
Vẫn mặt ta
Gương phẳng vô tri
Xui ta vô tri...
Thì tiếp tục triển khai một hành trình nhận thức qua bốn “chiếc gương”: gương thường, gương méo, điện thoại thông minh và ngôn từ. Gương phẳng đem lại cảm giác yên tâm vì xác nhận một bản ngã quen thuộc nhưng hời hợt. Gương lồi lõm làm biến dạng khuôn mặt, buộc con người nhận ra sự phức tạp và bất ổn của chính mình. Smartphone còn đi xa hơn: nó cho phép con người tự nguyện chế biến bản thân thành một hình ảnh giả tạo, đẹp nhưng phi nhân. Chỉ khi “soi mặt vào lời vào chữ”, chủ thể mới đối diện được toàn bộ những mâu thuẫn, dục vọng, lý tưởng và bóng tối nội tâm. Vì thế, bài thơ tự khẳng định ngôn từ chính là công cụ tự nhận thức sâu sắc nhất của con người:
Soi mặt vào chữ
Soi mặt vào lời
Ngôn từ không vô tri không mê lú bao giờ
Ta nhận ra ta...
Bên dưới lớp ý nghĩa tự nhận thức, “Soi” còn là một bài thơ về khủng hoảng bản sắc trong thời đại công nghệ. Con người hiện đại không chỉ bị người khác nhìn ngắm mà còn liên tục tự nhìn mình qua vô số bề mặt phản chiếu. Từ chiếc gương vật lý đến màn hình điện thoại, cái tôi ngày càng bị phân mảnh, chỉnh sửa và trình diễn:
Mặt ta biến thành mặt kẻ khác
SmartPhone đỉnh cực phi nhân
Ta hài lòng
Trò chơi chế biến
Ta - tự - thành - kẻ - khác
Cuộc chơi chế biến không xâm lấn
Đặng Tiến không lên án công nghệ, nhưng anh cảnh báo về sự mê đắm hình ảnh, nơi con người dễ đánh đổi bản thể để lấy một phiên bản hấp dẫn hơn của chính mình. Đối lập với những bề mặt phản chiếu ấy, ngôn từ xuất hiện như một không gian đạo đức. Chữ nghĩa không làm đẹp khuôn mặt mà bóc tách tâm hồn, khiến con người phải đối diện với sự thật về mình.
“Soi” gây ấn tượng trước hết bằng kết cấu đồng tâm: cùng một hành động “soi mặt” được lặp lại nhiều lần nhưng trên những bề mặt khác nhau, tạo nên các tầng nhận thức ngày càng sâu. Thủ pháp điệp từ (“vẫn mặt ta”, “soi mặt vào...”, “mặt ta”) vừa tạo nhịp điệu ám ảnh vừa nhấn mạnh cuộc truy tìm bản ngã. Nhà thơ sử dụng liệt kê dồn dập (“méo/ tròn/ lõm/ lồi...”) để phơi bày tính đa diện của con người. Sự đan xen giữa ngôn ngữ đời thường, thuật ngữ công nghệ (“SmartPhone”, “selfie”, “3D, 4D, n-D”) và chất suy tưởng triết học tạo nên giọng điệu hiện đại, giễu nhại mà vẫn trầm tư. Đặc biệt, hình tượng “gương” được phát triển thành một ẩn dụ trung tâm xuyên suốt toàn bài, thống nhất hình thức và tư tưởng.
Một đặc điểm đáng chú ý khác là cách Đặng Tiến sử dụng thơ tự do theo hướng tối giản bề mặt nhưng đa tầng nghĩa. Nhiều câu cực ngắn, thậm chí chỉ một từ (“Méo”/ “Tròn”/ “Lõm”/ “Lồi”), tạo cảm giác như những nhát cắt liên tiếp vào cùng một đối tượng quan sát. Việc xuống dòng bất thường khiến nhịp thơ lúc ngập ngừng, lúc dồn dập, mô phỏng chính quá trình tự soi xét của ý thức. Bài thơ cũng vận dụng hiệu quả tương phản nghệ thuật: gương phẳng và gương méo, vô tri và không vô tri, khuôn mặt thật và khuôn mặt “chế” qua app, công nghệ và ngôn từ. Nhờ vậy, mạch thơ không phát triển theo cốt truyện mà theo sự va chạm giữa các lớp nhận thức, tạo nên chiều sâu triết luận mà vẫn giữ được sức gợi cảm xúc.
“Soi” không hỏi “ta là ai”, mà đặt người đọc trước chiếc gương ngôn từ nơi mọi mặt nạ đều rơi xuống và chỉ còn lại sự thật trần trụi của một con người đang sống. Sau cùng, hóa ra cái đáng soi nhất không phải khuôn mặt trong gương, mà là kẻ đang đứng trước gương tưởng rằng mình đã biết mình.
Có lẽ đó cũng là bài thơ chắc nhất. Giờ tôi muốn tìm một bài nặng nhất. Đây rồi, “Những tiếng nói vọng về từ chữ”, 9 trang (167-175), 823 chữ. Bài này có các đoạn: Lời Hamlet, Lời Fantine, Lời AQ, Lời Thị Nở, Lời Don Quixote, Lời Giáo Thứ, Lời ta.
Đây là một bài thơ đa thanh, nơi Đặng Tiến triệu hồi các nhân vật văn học nổi tiếng từ nhiều nền văn hóa để họ tự cất tiếng nói về số phận mình và về thế giới. Hamlet tố cáo quyền lực, tuyên truyền và sự giả dối; Fantine phơi bày bi kịch của người nghèo bị đạo đức giả dồn đến bước đường cùng; AQ trở thành biểu tượng của bản năng phá hoại và sự tự ti bị đẩy đến cực độ; Thị Nở giễu nhại những chuẩn mực lễ giáo, bênh vực quyền sống tự nhiên; Don Quixote bảo vệ lý tưởng giữa đám đông thực dụng; Giáo Thứ than khóc cho sự trì trệ, cam chịu và “sống mòn” của xã hội.
Điều đáng chú ý là các nhân vật không còn nói đúng nguyên văn của nguyên tác, mà được Đặng Tiến “tái chế” thành những phát ngôn mới để đối thoại với hiện thực đương đại. Vì thế, bài thơ không chỉ là cuộc gặp gỡ của Shakespeare, Hugo, Lỗ Tấn, Nam Cao, Cervantes... mà còn là cuộc chất vấn đối với thời đại hôm nay.
Tôi chú ý nhất Lời Fantine:
Ta không còn gì ngoài tấm thân tàn tạ
Không còn gì
Không còn gì
Ta trót sinh ra xinh đẹp và nhẹ dạ
Nhẹ dạ với trái tim yếu mềm
Yếu mềm và thăm thẳm yêu thương
Yêu thương và tha thứ
Ta không trách gì kẻ bỏ rơi ta
Hắn là cha của con gái ta
Con gái ta đẹp như thiên thần
Đẹp như trăng non
Đẹp như ban mai tia nắng
Nghe nói nó đang ốm
Ốm thập tử nhất sinh
Ta không còn gì ngoài tấm thân tàn tạ
Ta bán thân ta
Mắc mớ chi các người
Mắc mớ chi
Mắc mớ chi
Các người cao giọng ngôn từ bóng loáng
Ta cần gì lẽ công bằng nơi các ngươi
Cái ta cần bây giờ là một gã đàn ông
Trẻ hay già cơ bắp hay mắc nghiện
Ta đang cần tiền
Con gái ta đang ốm
Đang ngấp nghé miệng vực tử thần
Ta đang cần bán thân
Một lần
Hai lần
Ba lần
Và có thể là bốn là năm
Và chết rũ bên đường lạnh cóng
Lạy Chúa cho con một gã đàn ông
Lời thỉnh câu rơi vào khoảng trống không...
Ở đây, bi kịch không còn là “văn học” nữa mà thành tiếng kêu của thân xác bị dồn đến đáy. Fantine không xin công lý, không xin thương hại, không xin những ngôn từ đẹp. Nàng chỉ cần tiền cứu con. Chính sự trần trụi ấy đánh sập mọi đạo đức bóng loáng. Câu “Mắc mớ chi các người” quá sức rung động: nó trả lại quyền phán xét cho kẻ khổ. Xã hội có thể nhân danh luân lý để khinh bỉ người bán thân, nhưng không dám chịu trách nhiệm về cái hoàn cảnh đã đẩy người ta tới đó. Fantine vì thế trở thành bản cáo trạng đối với mọi loại hình đạo đức giả. Đau nhất là tình mẫu tử: thân xác nàng rã nát, nhưng tình yêu con vẫn nguyên vẹn. Fantine không sa đọa; chính thế giới đã sa đọa khủng khiếp trước nàng.
Phần cuối, “Lời ta”, đóng vai trò điểm hội tụ:
Chập chờn thức ngủ
Tháng Chạp mưa buồn
Vọng về từ chữ
Từ xa xôi kí ức
Buồn tênh muốn khóc
Đàn kiến trong thơ thần đồng hoặc thần sắt
Náo nhiệt chuẩn bị tang ma
Bác giun ông giun bà giun em giun...
Chết nhiều kiểu đua nhau chết
Những bộ óc vĩ đại
Những vũ khí tối tân
Gaza hồng hải biển đen đại nga tiểu nga tình nhân loại mất giá thê thảm
Thời không vua
Rất nhiều vua già
Tê giác tràn ngập thành phố.
Sau khi nghe tất cả những tiếng vọng từ văn chương thế giới, nhà thơ trở về với thực tại: chiến tranh, Gaza, Hồng Hải, Biển Đen, sự suy thoái của các giá trị nhân loại và cảm giác hỗn loạn của một “thời không vua”. Như vậy, bài thơ khẳng định rằng văn học không chết trong sách vở; những nhân vật lớn vẫn tiếp tục lên tiếng trước các bi kịch mới của con người. Đây thực chất là một bản hợp xướng về lương tri nhân loại, được viết bằng những giọng nói vọng về từ ký ức văn chương.
Về nghệ thuật, “Những tiếng nói vọng về từ chữ” là một bài thơ đa thanh (polyphonic) rất rõ nét. Đặng Tiến không phát biểu trực tiếp mà mượn bảy giọng nói khác nhau để tạo nên một diễn đàn tư tưởng. Hamlet, Fantine, AQ, Thị Nở, Don Quixote, Giáo Thứ và “ta” vừa độc lập vừa đối thoại ngầm với nhau. Nhờ đó, bài thơ vượt khỏi phạm vi trữ tình đơn tuyến để trở thành một “tiểu thuyết thơ” thu nhỏ.
Thủ pháp liên văn bản được sử dụng rất đậm đặc. Các nhân vật bước ra từ Shakespeare, Hugo, Lỗ Tấn, Nam Cao, Cervantes... nhưng không lặp lại nguyên tác. Chúng được tái sinh trong một bối cảnh mới, mang những suy tư mới. Điều này tạo nên cảm giác văn học thế giới đang cùng hiện diện trong một không gian ngôn ngữ Việt.
Bài thơ cũng nổi bật bởi ngôn ngữ khẩu ngữ và sân khấu hóa. Nhiều đoạn giống độc thoại kịch, giàu tính trình diễn. Các câu ngắn, lặp đi lặp lại (“Không còn gì”, “Mắc mớ chi”, “Đổi thay”, “Ta là con sâu”...) tạo nhịp điệu ám ảnh, đồng thời khắc họa tính cách nhân vật chỉ bằng vài nét.
Ngoài ra còn có nghệ thuật giễu nhại và hạ bệ. Thị Nở nói bằng giọng tưng tửng mà thâm thúy; AQ tự nhận là sâu; Don Quixote vừa bi hùng vừa hài hước. Tiếng cười ấy không làm giảm sức nặng tư tưởng mà ngược lại, khiến bi kịch hiện lên sắc lạnh hơn.
“Những tiếng nói vọng về từ chữ” của Đặng Tiến kết hợp độc thoại kịch, khẩu ngữ đời thường, giọng điệu giễu nhại và chất suy tưởng triết luận trong một cấu trúc hợp xướng linh hoạt. Các thủ pháp điệp ngữ, liệt kê, tương phản và hạ bệ huyền thoại được sử dụng hiệu quả, tạo nên nhịp điệu vừa dữ dội vừa chua xót. Thành công lớn nhất của bài thơ là biến ký ức văn chương nhân loại thành một tấm gương phản chiếu những khủng hoảng tinh thần, đạo đức và xã hội của thời đại hôm nay. Đặc biệt, cấu trúc bài thơ vận động từ những tiếng nói cá nhân đến “Lời ta”, biến toàn bộ tác phẩm thành một dàn đồng ca nhân loại, nơi các số phận văn chương từ nhiều thế kỷ cùng vọng về để chất vấn hiện thực hôm nay. Đây nhẽ chính là thủ pháp nghệ thuật quan trọng nhất và cũng là linh hồn của bài thơ chăng?
Giờ xin sang phần hai có tên hơi bị bí hiểm: “TUYỆT NGỮ THI”.
Nếu phần một (“SOI”) như thể là hành trình nhìn lại bản thân, thì phần hai (“TUYỆT NGỮ THI”) có lẽ là hành trình nhìn thẳng vào những giới hạn cuối cùng của đời sống, lịch sử và ngôn ngữ. Các tên gọi cho thấy một thế giới đầy thương tích: địa ngục, chiến tranh, quốc nhục, cái chết của nhà thơ, những người đã khuất, những mùa thu sắp qua và những mảnh vỡ chiều đông. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn vang lên những khúc tụng ca, thánh ca, những tiếng gọi từ cánh đồng, từ ngọn gió qua vườn, từ bạn bè và văn chương.
Ở phần này, Đặng Tiến tiếp tục đối thoại với các nhà văn, nhà thơ và nhân vật lịch sử, nhưng giọng điệu trở nên cô đặc, quyết liệt và suy tưởng hơn. Những câu hỏi về sự thật, phẩm giá, ký ức, bản mệnh và số phận dân tộc liên tục trở đi trở lại. Từ Hemingway, Trần Vàng Sao, Nguyễn Mộng Giác, Phan Khôi đến Đỗ Phủ, tất cả như những chứng nhân cùng tham dự một cuộc đối chất lớn với thời đại. Bởi vậy, “TUYỆT NGỮ THI” không chỉ là thơ về sự kết thúc, mà còn là nỗ lực gìn giữ tiếng nói con người trước nguy cơ bị lãng quên, bị che khuất hoặc bị xóa mờ giữa cơn nhiễu loạn của thế giới hiện đại.
Xét từ cấu trúc, phần hai còn cho thấy một chuyển động đáng chú ý từ tiếng kêu cá nhân đến suy tư mang tầm văn hóa và nhân loại. Những bài như “Mùi địa ngục”, “Quốc nhục”, “Chiến tranh”, “Ta sống nghĩa là ta chịu đựng” hay “Tân-tê giác” gợi cảm giác một thế giới đang vô cùng rạn nứt cả về tinh thần lẫn đạo lý. Trong khi đó, các bài tưởng niệm, hồi cố và đối thoại văn chương lại mở ra một không gian ký ức rộng lớn, nơi người sống trò chuyện với người chết, người hôm nay đối thoại với những tiếng nói từ quá khứ. Vì thế, “TUYỆT NGỮ THI” không chỉ là một tập hợp các bài thơ mà còn là một biên niên sử tinh thần được viết bằng cảm thức mất mát, phản tỉnh và hy vọng mong manh.
Có lẽ ai cũng tò mò với bài “Tuyệt ngữ thi”, vừa là tên gọi của phần hai vừa kết tập thơ.
“Tuyệt ngữ thi” có thể xem là bài thơ mang tính tuyên ngôn và kết luận của toàn bộ tập thơ. Điều đặc biệt là bài thơ không đưa ra một chân lý nào, không hô hào, không giáo huấn, mà chỉ xoáy vào một trạng thái duy nhất: không hiểu nổi. Câu “Tôi - cứ - cố - mà - không - tài - nào - hiểu - nổi!” lặp đi lặp lại như một tiếng kêu hiện sinh. Đó không phải sự thiếu hiểu biết thông thường, mà là nỗi kinh ngạc của một con người còn giữ được khả năng hoài nghi giữa một thế giới đang đồng thanh chúc tụng.
Nhà thơ dựng lên một bức tranh xã hội ngập tràn các nghi thức tập thể: lễ hội, huyền thoại, linh vật, dâng hương, cờ đèn kèn trống, những biểu hiện của niềm tự hào và sự đồng thuận. Nhưng càng nhiều tiếng nói, càng nhiều hoạt động, cái tôi trữ tình càng cảm thấy lạc lõng. Điều khiến anh kinh ngạc không phải đám đông đang làm gì, mà là việc rất ít người còn đặt câu hỏi.
Đặc sắc hơn, bài thơ không phê phán từ vị thế của một nhà hiền triết cao cả gì sất. Trái lại, tác giả liên tục tự hạ thấp mình: “xuẩn ngốc”, “lạc hậu”, “thằng đần”, “gã khờ cổ tích”. Đây là một nghịch lý nghệ thuật quan trọng. Càng tự nhận mình ngu dốt, cái tôi càng có quyền nghi ngờ những điều được coi là hiển nhiên. Đó là truyền thống của Hamlet, Don Quixote, AQ và nhiều nhân vật từng xuất hiện trong tập thơ.
Khổ cuối đưa bài thơ lên chiều kích triết học sâu hơn khi gợi nhắc bài thơ nổi tiếng của Trần Tử Ngang: “Tiền bất kiến cổ nhân, hậu bất kiến lai giả...”. Giữa trời đất mênh mang, nhà thơ cảm thấy “bơ vơ”, “kinh hoàng”, “trống hoác”. Vì thế, “Tuyệt ngữ thi” không phải bài thơ về sự hiểu biết, mà là bài thơ về sự cô đơn của tư duy độc lập. Và có lẽ, theo Đặng Tiến, khi nhân gian ai cũng đã có câu trả lời, chính người còn biết ngơ ngác mới là người còn sống.
“Tuyệt ngữ thi” được xây dựng trên một thủ pháp chủ đạo: điệp khúc ám ảnh. Câu thơ “Tôi - cứ - cố - mà - không - tài - nào - hiểu - nổi!” trở đi trở lại nhiều lần như tiếng chuông dội trong khoảng không, vừa tạo nhịp điệu vừa làm nổi bật trạng thái khủng hoảng nhận thức của chủ thể trữ tình. Đây không phải sự lặp lại đơn thuần mà là sự gia tăng cường độ cảm xúc qua mỗi lần xuất hiện.
Bài thơ cũng sử dụng hiệu quả nghệ thuật liệt kê. Hàng loạt cụm từ “mải mê chúc tụng”, “mải mê tự hào”, “mải mê huyền thoại”, “mải mê trực tuyến”, “mải mê dâng hương”... tạo cảm giác một dòng thác ngôn ngữ cuồn cuộn, phản ánh trạng thái say mê tập thể đến mức vô thức. Sự lặp lại ấy vừa trào lộng vừa phê phán ác liệt.
Một thủ pháp nổi bật khác là nghịch lý và tự hạ bệ. Nhà thơ tự nhận mình “xuẩn ngốc”, “thằng đần”, “gã khờ”, nhưng chính từ vị thế ấy lại đặt ra những câu hỏi lớn lao nhất. Đây là kiểu chiến lược nghệ thuật quen thuộc của những kẻ “giả ngu để nói thật”.
Đặc biệt, bài thơ vận dụng liên văn bản khi dẫn vọng câu thơ của Trần Tử Ngang. Nhờ đó, nỗi cô đơn của cái tôi không còn là tâm trạng cá nhân mà được nâng lên thành cảm thức hiện sinh. Sự kết hợp giữa khẩu ngữ đời thường, nhịp thơ đứt đoạn, điệp ngữ, liệt kê và liên văn bản đã tạo nên một giọng thơ vừa bi hài vừa triết luận, rất phù hợp với vị trí kết tập của bài thơ. Xin mời thưởng thức toàn bài:
TUYỆT NGỮ THI
Một lần nữa lại phải kêu lên
Tôi - cứ - cố - mà - không - tài - nào - hiểu - nổi!
Có thể rất có thể tôi cực kì xuẩn ngốc
Cực kì lạc hậu
Thằng đần, gã khờ cổ tích
Rất có thể...
Một lần nữa lại phải ngửa mặt kêu trời
Tôi - cứ - cố - mà - không - tài - nào - hiểu - nổi!
Tại sao?
Tại sao?
Tại sao?
Không ai trả lời...
Nhân gian mải mê chúc tụng
Mải mê tự hào
Mải mê linh vật
Mải mê huyền thoại
Mải mê trực tuyến
Mải mê thăm viếng
Mải mê dâng hương
Mải mê cúi đầu giả vờ khiêm nhường
Mải mê cúi đầu đầy nhóc niềm kiêu hãnh
Giả vờ tiến hóa
Mải mê rưng rưng
Vào mùa lễ hội mùa xuân mùa hạ mùa thu mùa đông
Mải mê cờ đèn kèn trống...
Ngơ ngác tôi
Kinh hoàng tôi
Bơ vơ tôi
Trống hoác tôi
Tôi - cứ - cố - mà - không - tài - nào - hiểu - nổi!
Bơ vơ kinh hoàng trống hoác ngơ ngác
Bốn phương tám hướng
Bất kiến cổ nhân
Bất kiến lai giả
Đương thời kiến vô nhân
Bất niệm thiên địa chi du du
Tôi - cứ - cố - mà - không - tài - nào - hiểu - nổi!
Khép lại tập thơ bằng “Tuyệt ngữ thi”, Đặng Tiến không trao cho người đọc một đáp án mà để lại những câu hỏi. Đó là lựa chọn nghệ thuật đầy bản lĩnh “nặng và chắc”. Sau hàng trăm trang thơ, đi qua chiến tranh, lịch sử, văn chương, ký ức và thân phận con người, nhà thơ vẫn giữ nguyên sự ngơ ngác trước thế giới. Chính sự ngơ ngác ấy là giá trị lớn nhất của bài thơ. Bởi khi đám đông đã quen chúc tụng, tin tưởng và tự mãn, thì quyền được hoài nghi, được không hiểu nổi, lại trở thành một hình thức tự do tinh thần hiếm hoi và đáng quý.
Khép lại SOI, người đọc bắt gặp một Đặng Tiến luôn đứng giữa hai bờ: hoài nghi và thương yêu, bi ca và hài kịch, tuyệt vọng và hy vọng. Thơ anh không ru ngủ con người bằng những mỹ từ dễ dãi, mà liên tục đánh thức khả năng tự vấn. Từ chiếc gương soi khuôn mặt đến những tiếng nói vọng về từ văn chương nhân loại, từ những phận người nhỏ bé đến những biến động lớn lao của thời đại, tất cả đều quy tụ vào một câu hỏi căn bản: con người sẽ sống thế nào để không đánh mất mình. Có thể vì thế mà SOI không chỉ là một tập thơ để đọc, mà còn là một cuộc đối thoại dài với lương tri, ký ức và tự do tinh thần của mỗi mỗi.
.
PS: Đặng Tiến có viết nhiều bài kiểu “tụng ca”, trong tập SOI này tôi cũng “bị” đem ra soi. Nhưng đó dĩ không phải là lý do viết bài này, mà là tôi thấy THƠ ĐẶNG TIẾN không những cực kỳ ấn tượng, vạm vỡ mà còn có một chất giọng quá sức hiếm hoi trên “không gian thơ Việt lầy”.
[24/5 - 12/6/2026]

vbnhuy

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com