Thế kỷ thứ 18 là một trong những thế kỷ rối ren và tao loạn nhất của chế độ phong kiến nước ta. Trong cùng một thời đoạn, bốn thế lực chính trị cùng nhau cát cứ và tranh đoạt khốc liệt, chia cắt đất nước ra từng mảnh. Đó là Vua Lê - Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, Nhà Nguyễn và Tây Sơn ở Đàng Trong. Ấy là chưa kể những cuộc khởi nghĩa nối tiếp nhau nổi dậy ở khắp nơi. Dân tình đói khổ, nhân tâm phân tán, bọn tham quan, ô lại thi nhau đàn áp và vơ vét bóc lột dân nghèo đến cạn kiệt. Thảm trạng đó đã đặt đất nước đứng trước nguy cơ xâm lược của ngoại bang.
Với Thiên Mệnh, Nguyễn Trọng Tân không đặt cho mình nhiệm vụ phản ánh toàn bộ diện mạo với biết bao biến thiên của thế kỷ ấy. Thay vào đó, anh tập trung vào việc cô đặc lịch sử trong vòng 15 năm (1774 - 1780). Đó là giai đoạn các mâu thuẫn xã hội đã đẩy tới đỉnh cao, tiến trình lịch sử đã tới nút cuối cùng, đòi hỏi phải được cởi thoát bằng cách này hay cách khác. Đứng trước tình thế đó, cần phải có một thế lực chính trị vượt trội, một anh hùng kiệt xuất, đủ sức cố kết lại nhân tâm, đập tan mọi phản loạn, kê lại thế nước, thu giang sơn về một mối.
Thế lực chính trị đó, người anh hùng kiệt xuất đó chính là Nguyễn Huệ.
Thoạt đầu, Nguyễn Huệ xuất hiện với tư cách là đồng tác giả của nghĩa quân Tây Sơn. Sau đó, chỉ trong một thời gian ngắn ông vượt lên như một ngôi sao sáng chói, đáp ứng sự lựa chọn và đòi hỏi khe khắt của lịch sử. Thiên Mệnh tập trung mọi ánh sáng nhằm soi tỏ chân dung, tài năng, cốt cách của con người phi thường này.
Với nguyên tắc “không làm sai lạc lịch sử, hoặc không làm méo mó nhân vật của thời đại đó” như đã được thổ lộ trong lời bạch, Nguyễn Trọng Tân với kiến văn sâu rộng và sức tưởng tượng phong phú đã xây dựng nên một cốt truyện gay cấn và hấp dẫn đến từng chương, từng đoạn. Văn của anh hàm súc và chuẩn xác như một nhà sử học, chi ly và phóng túng như một tiểu thuyết gia. Phải là người có trường vốn và văn tài đến mức nào mới có thể hoàn tất một thiên truyện 500 trang viên mãn đến mức ấy.
Ta hãy xem Nguyễn Trọng Tân chạm khắc nhân vật trung tâm của Thiên Mệnh như thế nào.
Nguyễn Huệ thực sự gán tên tuổi của mình vào lịch sử với trận thuỷ chiến lừng danh Rạch Gầm - Xoài Mút. Điều kỳ lạ là với một vị tướng sở trường về bộ binh, được rèn luyện cưỡi ngựa bắn cung từ nhỏ trên địa bàn rừng núi, sao lại sớm có tầm nhìn xa rộng ra biển Đông vào sông rạch để xây dựng đội thuỷ binh tinh nhuệ đến thế. Công việc rất mới mẻ này vừa mới được mở đầu thì trời đem đến cho ông một người trợ lực tài giỏi là Nguyễn Hữu Chỉnh, viên tướng đứng đầu đội thuỷ binh ở Đàng Ngoài vừa “bỏ chỗ tối, tìm về chỗ sáng” với Tây Sơn. Phải nói là, Nguyễn Hữu Chỉnh đã cúc cung, tận tụỵ, đem hết sở trường của mình để bày cách đóng thuyền, dựng buồm, luyện binh, rèn tướng cho Nguyễn Huệ. Nguyễn Huệ đã thốt lên, sao Nguyễn Hữu Chỉnh ở Đàng Ngoài mà thuộc từng cánh rừng, từng loại gỗ, từng loại nhựa cây đóng thuyền, sơn ván, nhuộm buồm đến thế? “Tất cả bọn họ và Nguyễn Hữu Chỉnh không biết là nhờ moi được kiến thức về thuỷ quân của Chỉnh, Nguyễn Huệ nảy ra việc thành lập một đội khinh thuyền điêu luyện trong thuỷ binh Tây Sơn” (Trang 129).
Đội khinh thuyền điêu luyện đó được Nguyễn Huệ bí mật đưa ra đảo Lý Sơn để luyện tập hai năm trời. “Hai năm trời ăn sóng nói gió trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, sói biển trở thành đội thuỷ quân vô cùng điêu luyện. Không một người lính nào được về đất liền. Lính sói biển có thể bắn cung trúng dây buồm thuyền giặc cách xa trăm thước. Quăng móc sắt, đu người leo soái hạm như leo tường nhà. Lặn giữ hơi rất lâu, bám đáy đục thủng thuyền giặc. Sói biển điều khiển thuyền lao trên nước như chạy xe trên đất bằng. Làm xiếc trên nước. Nhiệm vụ của sói biển là thám thính. Đột kích bất ngờ. Lấy nhỏ đánh lớn. Dùng ít đánh nhiều. Đánh rút chớp nhoáng” (Trang 130).
Sau khi đích thân trinh sát thực địa, bố trí quân binh, tìm cách dụ địch vào nơi mình muốn, Nguyễn Huệ bất ngờ tung sói biển vào trận. Trên bờ thì tên lửa, đụn lửa, thuyền chứa chất cháy tới tấp đổ xuống chiến thuyền của địch, tạo thành một trận hoả diệm sơn trên khắp sông, các chiến thuyền của quân Xiêm đã vón cục lại, tiến lui không lối thoát. Dưới nước thì sói biển luồn lách, tung hoành đục thuyền, bắn tên làm tan tác các soái thuyền to xác. Quân trên bờ lọt vào ổ phục kích chết như rạ “Hai trong bốn viên đại tướng tài giỏi nhất của quân Xiêm La bỏ mạng trong trận này. Gần một vạn quân bộ nằm lại. Hơn một vạn thuỷ binh hùng mạnh cùng mấy trăm chiến thuyền của quân đội Xiêm La mãi mãi vùi thây dưới sông nước Việt” (Trang 133).
Trong lúc thiên hạ còn đang sửng sốt về chiến công Rạch Gầm - Xoài Mút thì Nguyễn Huệ thừa thắng, bất ngờ tấn công Bùi Thế Đạt, chiếm Quảng Nam, mở rộng cương thổ Tây Sơn ra Liên Chiểu, Đà Nẵng. Được Nguyễn Hữu Chỉnh bắt mối với Nguyễn Phú Như nhận làm nội ứng, Nguyễn Huệ chiếm Thuận Hoá không tốn một giọt máu, một người lính nào.
Liên tiếp quật ngã quân Xiêm La và quân Đàng Ngoài, tên tuổi Nguyễn Huệ trở thành nỗi kinh hoàng đối với mọi đối thủ. Không một ngày ngơi nghỉ, đôi mắt của Nguyễn Huệ hướng ra phía Bắc. Một lần nữa ông lại cần đến Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn Hữu Chỉnh lại hết lòng phò trợ ông. Mọi thông tin về chính trị, quân sự, dân tình, địa hình, đường sá... Nguyễn Hữu Chỉnh đều cung cấp đầy đủ. Đến cái khó nhất là lấy danh nghĩa gì để cất quân ra Bắc, Nguyễn Hữu Chỉnh cũng lại hiến kế cho ông: Phù Lê - Diệt Trịnh. Thế là Nguyễn Huệ cất quân ra Bắc, chỉ đến khi vượt qua sông Gianh mới cho người cầm thư về báo với vua anh Nguyễn Nhạc.
Bề dày chiến công của Nguyễn Huệ lại đi vào lịch sử khi bất ngờ tiến quân vào Đông Kinh như vào chỗ không người. Nhà Trịnh tan tác. Trịnh Tông trên đường chạy trốn, bị tay chân làm phản, bị trói giải về Đông Kinh, rút dao tự sát.
Nhưng phải chờ đến trận đại phá 30 vạn quân Mãn Thanh, bức chân dung về thiên tài quân sự Nguyễn Huệ mới thực sự hoàn tất. Cho đến nay, chưa có sách nào giải thích được một cách thuyết phục về cuộc hành quân thần tốc của Nguyễn Huệ từ Phú Xuân ra Đông Kinh đúng vào dịp Tết Kỷ Dậu - năm 1789. Màn hào quang xung quanh Nguyễn Huệ càng có thêm vẻ thần bí. Xưa nay các bậc vĩ nhân đều như thế cả. Đó là một bí mật của lịch sử.
Trong Thiên Mệnh, Nguyễn Trọng Tân cho ta biết khá kỹ việc Nguyễn Huệ lên ngôi vua, thay thế Nguyễn Nhạc đã thoái vị, rồi đến việc bày binh bố trận khi tiến vào Đông Kinh. Có vẻ như với đội quân hùng mạnh của nhà Thanh được chuẩn bị rất kỹ cả năm trời dưới bàn tay chỉ huy của tên tướng cáo già Tôn Sĩ Nghị, cuộc ra quân lần này Nguyễn Huệ mới có được kẻ đối đầu tương sức?
Tài dụng binh của Nguyễn Huệ thiên biến vạn hoá, thật khó lường. Nhưng có hai nguyên tắc mà ông không bao giờ từ bỏ, đó là tuyệt đối tận dụng yếu tố bất ngờ và xây dựng đội đột kích tinh nhuệ lĩnh nhiệm vụ tiên phong. Đội tinh nhuệ tiên phong ở trận Rạch Gầm - Xoài Mút là đội thuỷ binh sói biển, còn ở trận đại phá quân Thanh lần này là 200 thớt voi chiến do đích thân Nguyễn Huệ chỉ huy cùng nữ tướng Bùi Thị Xuân.
Với sức mạnh chẻ tre của quân Tây Sơn, hệ thống các đồn chốt chặn từ Gián Khẩu đến Đông Kinh lần lượt bị bóc vỏ. Đồn Ngọc Hồi, lá chắn quan trọng nhất với 3 vạn quân đóng giữ phút chốc bị phá tan. Tướng Hứa Thế Hanh bị voi của Bùi Thị Xuân quật ngã, xéo chết. Đồn Khương Thượng thất thủ, Tướng Sầm Nghi Đống treo cổ tự vẫn. Hướng Tây Bắc, đại quân của Ô Đại Kinh bị đội quân Kẻ Gió của nữ tướng Cả Vàng chặn đánh nát nhừ, không một tên lính nào tới được Sơn Tây.
Trong tuyệt vọng, Tôn Sĩ Nghị bỏ lại ấn tín, giáp trụ, nhảy lên mình ngựa tháo chạy bạt mạng qua biên giới. “Đúng giờ Tý ngày 5 tết Ất Dậu, Vua Quang Trung mặc áo bào ngồi trên bành voi cùng đô đốc Bảo, đô đốc Bùi Thị Xuân đem đại binh tiến vào Đông Kinh” (Trang 428).
Với võ công ta tôn Quang Trung là Vĩ nhân, với tâm công ta tôn thờ ông là Hiền nhân. Hiền nhân ở chỗ nào?
- Trong hai lần kéo quân ra Bắc, dẹp tan Chúa Trịnh, thanh thế ngút trời, việc chiếm lấy ngôi vua dễ như trở bàn tay. Nhưng Nguyễn Huệ đã không làm như thế. Cái chỗ khó vượt qua nhất Nguyễn Huệ đã vượt qua như không. Ấy là nhờ sức mạnh của chữ tâm.
- Trong lần ra Bắc lần thứ hai, sau khi được Ngô Văn Sở và Phan Văn Lâu cung cấp đầy đủ chứng cứ phản trắc của Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Huệ đã giết Vũ Văn Nhậm bất kể đó là con rể của anh mình, như vậy là biết đặt việc nước lên trên việc nhà. Trừ xong tên đại ác Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Huệ bố cáo chiêu hiền đãi sĩ. Một lời bố cáo đặt các bậc chí sĩ Bắc Hà trước bao nhiêu lựa chọn. Cuối cùng thì Nguyễn Huệ đã thu phục được những tên tuổi sáng giá như Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp, Ninh Tốn, Bùi Dương Lịch...
- Giương cờ “Diệt Trịnh - Phù Lê”, nhưng khi Trịnh Tông bỏ chạy, tự sát dọc đường “Nghe tin Đoan Nam Vương Trịnh Tông sợ mà tìm đến cái chết, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ sai Chương phủ Nguyễn Văn Dụng lên Sơn Tây đưa thi hài Trịnh Tông về Đông Kinh. Lại sai bắt Đỗ Tráng, Hà Noãn tra tội. Nguyễn Văn Dụng làm tờ khai lên vua Lê Hiển Tông nói rõ về nguyên nhân cái chết của Trịnh Tông. Nguyễn Huệ cho phép làm tang ma cho chúa Trịnh Tông theo nghi lễ đế vương. Lại bố cáo với dân chúng rõ về hành động phản chủ của Đỗ Tráng và Hà Noãn. Hai tên này sau lễ an táng của Trịnh Tông bị đem ra chém để làm bài học răn đe. Việc làm đó của Nguyễn Huệ khiến các đại phu nhà Lê - Trịnh rất hài lòng. Vừa hài lòng vừa ngỡ ngàng. Tác động mạnh tới tâm tư suy nghĩ của giới sĩ phu Bắc Hà về Nguyễn Huệ. Tuy vẫn còn đầy ngờ vực, nhiều bậc đại khoa, danh sĩ có tiếng đất Đông Kinh đã dần thay đổi ác cảm với Huệ” (Trang 169).
- Quan hệ của Nguyễn Huệ và Bằng Trung Công Nguyễn Hữu Chỉnh là mối quan hệ phức tạp hơn nhiều. Với nguyên tắc “không làm méo mó nhân vật của thời đại đó”, Nguyễn Trọng Tân đã có cách nhìn khách quan và công tâm về Nguyễn Hữu Chỉnh. Không thể phủ nhận công lao của Nguyễn Hữu Chỉnh đã giúp Nguyễn Huệ xây dựng đội thuỷ binh Tây Sơn, lấy thành Phú Xuân, cung cấp tin tình báo và nghĩ ra danh nghĩa “Phù Lê - Diệt Trịnh”, làm cho cầu nối giữa Vua Lê và Nguyễn Huệ. Nguyễn Hữu Chỉnh là một võ quan có tài, gian hùng và tráo trở, một nhân vật vừa tối vừa sáng, lắm công nhiều tội, tự mang lấy một kết cục bi thảm. Song không ai có thể phủ nhận trong ánh hào quang của Nguyễn Huệ có một phần công lao của Nguyễn Hữu Chỉnh. Chính vì thế mà lần ra Bắc lần thứ hai, Nguyễn Huệ đã đến mộ thắp hương cho Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Huệ nói với Ngô Thì Nhậm: “Quân sư biết không, lần đầu gặp Nguyễn Hữu Chỉnh ở Quy Nhơn, ta đã bị Chỉnh cuốn hút rất mạnh. Ông ta thực sự là một nhân tài đất Bắc. Một chỉ huy thuỷ chiến bậc thầy. Nguyễn Hữu Chỉnh đã chia sẻ với ta, mẹo mực xây dựng đội thuỷ binh. Chỉnh cũng là người nối kết ta với vua Lê Hiển Tông. Và chắc hẳn việc vua Lê gả công chúa Ngọc Hân cho ta cũng có bàn tay sắp đặt của Chỉnh” (Trang 338). Sau những lời đánh giá về Nguyễn Chỉnh, Nguyễn Huệ còn thở than, căn dặn Ngô Thì Nhậm “Cùng cầm tinh con gà với ta. Ôi, Tân biến vi Toan. Đời người chẳng biết thế nào. Giờ Bằng Trung Công đã trút sạch bụi trần. Quân sư cho tìm người thân của ông ta. Nếu họ muốn đưa hài cốt về quê hay nằm lại đây thì xây cất cho đàng hoàng. Hãy giúp họ một tay” (Trang 339).
Những cử chỉ và lời nói trên đây không phải là việc làm lấy lệ theo nghĩa “Nghĩa tử là nghĩa tận” thông thường, cũng không phải là sự ban phát của đấng bề trên với kẻ đáng thương hại mà là sự đánh giá của Nguyễn Huệ, bậc đại dũng đại nhân “với một danh sĩ nhà Lê. Riêng ta còn có chút ơn với Chỉnh” như lời Nguyễn Huệ trước lúc vào thắp hương cho Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Trọng Tân đã rất cao tay khi đưa chi tiết này vào Thiên Mệnh “bởi lòng quân tử khác lòng người ta”.
Trước khi tiến quân ra Bắc lần thứ nhất, Nguyễn Huệ hỏi Nguyễn Hữu Chỉnh rất kỹ về tình hình kẻ sĩ Bắc Hà. Ông coi đó là đội ngũ có vị trí nắm giữ rường cột quốc gia rất cần được thu phục. Việc ban chiếu cầu hiền của ông trong lần Bắc tiến lần thứ hai đã gây ra những cuộc tranh luận nảy lửa trong giới khoa bảng. Có ba việc gây ra tranh cãi nhiều nhất là việc giết hại Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm, việc mất tích của sứ đoàn nhà Lê và cuộc huynh đệ tương tàn giữa Nguyễn Huệ và vua anh Thái Đức - Nguyễn Nhạc. Người thức thời thì bảo Thiên Mệnh đã được trao cho Nguyễn Huệ, người hủ lậu thì chê trách, thậm chí còn lo ông sẽ cướp ngôi nhà Lê. Tranh cãi mãi rồi những bất đồng cũng thu hẹp lại. “Ai giữ được nước, vỗ yên được dân thì đó chính là người chúng ta cần hiệp tác” (Trang 325). Cuối cùng “Trừ vài người không tỏ rõ thái độ, còn lại đều đồng tâm cử Ngô Thì Nhậm thay mặt các danh sĩ Bắc Hà soạn bản tấu ra mắt Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ” (Trang 326).
Tại cuộc hội ngộ đầu tiên với các văn thần đất Bắc “Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ mừng lắm. Huệ cầm tay Ngô Thì Nhậm chân thành: - Thật trời để dành ông cho ta đấy”, “Bắc Bình Vương giao thái tử Lê Duy Cẩn làm Giám Quốc, lo việc thờ cúng tiên liệt và điều hành công việc triều chính. Phong Ngô Thì Nhậm làm Lại bộ tả thị lang tước Tinh phái hầu giúp Cẩn coi sóc chính sự. Phan Huy Ích làm Hình bộ tả thị lang, tước Thuỳ nhân hầu. Ninh Tốn giữ chức Hàn Lâm trực học sĩ. Chương phủ Nguyễn Văn Dụng - Hộ bộ thị lang, Trần Thuận Ngôn lo việc hành chính, hậu cần. Các văn thần khác đều được phong chức và giữ các trọng trách trong triều. Về quân sự, Đại tư mã Ngô Văn Sở, Nội hầu Phạm Văn Lân thống lĩnh quân đội” (Trang 333).
Thu phục được giới văn thần đất Bắc, thế lực của Nguyễn Huệ như hổ mọc thêm cánh. Quan hệ giữa ông và Ngô Thì Nhậm ngày càng gắn bó, tin cậy. Nguyễn Huệ thân mật gọi Ngô Thì Nhậm là “Quân sư”. Về phía mình, Ngô Thì Nhậm vui mừng tìm thấy được minh chủ, tự dặn đem hết sức ra phò tá. Chính ông là người đã đề xuất để ngỏ Đông Kinh, cho quân Thanh ngủ trọ mấy đêm để kích thích sự chủ quan của địch và bảo toàn lực lượng của ta. Nhưng cống hiến quan trọng nhất của Ngô Thì Nhậm là thời kì hậu chiến. Thắng thì thắng đấy, nhưng không được quên mình là một nước nhỏ, hơn nữa đất nước vẫn còn ba bè bảy mối, làm thế nào để làm dịu bớt cơn giận dữ và cay đắng ngút trời của vua Càn Long, khiến ông ta không đem quân sang báo thù? Công việc bang giao vừa căng thẳng vừa khó nhọc đặt tất trên đôi vai của Ngô Thì Nhậm. Vâng lệnh Quang Trung, Ngô Thì Nhậm dẫn đầu sứ đoàn ta sang Quảng Tây thương nghị với sứ đoàn Mãn Thanh, do Tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An cầm đầu. Biết rõ Phúc Khang An là người Mãn, đồng hương rất thân thiết và tin cậy của Tổng quản đại thần Hoà Thân và vua Càn Long, Ngô Thì Nhậm đã huy động tất cả tài năng của mình trong những cuộc đấu trí vô cùng căng thẳng, mềm mại nhưng cương quyết, khôn khéo và cảnh giác, không sa bẫy của đối phương “cuối cùng Ngô Thì Nhậm và sứ bộ đạt được sự chấp thuận của Phúc Khang An về việc chấm dứt chiến tranh. Nhà Tây Sơn thả tù binh và xin phong vương cho Vua Quang Trung. Nhưng sau chuyến đi của Ngô Thì Nhậm, đúng như Vua Quang Trung dự đoán Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp còn giở không biết bao nhiêu trò thâm hiểm bắt Quang Trung phải thực hiện. Ngô Thì Nhậm thấy không cần phải bẩm báo lên Vua Quang Trung. Nhậm cử tiến sĩ Vũ Huy Tấn làm chánh phái bộ tiếp tục các cuộc thảo luận với Phúc Khang An. Bảy lần sang Quảng Tây kiên trì đấu lý và thuyết phục, sứ bộ Tây Sơn mới khiến Phúc Khang An và Thang Hùng Nghiệp chấp thuận hầu hết các yêu sách đã nêu ra” (Trang 444).
Một kỳ tích ngoại giao nữa, chưa từng có trong lịch sử bang giao quốc tế là thuyết phục Vua Càn Long chấp nhận một sứ đoàn 159 người sang Yên Kinh mừng thọ ông 80 tuổi mà người dẫn đầu là “Quang Trung giả”. Ngô Thì Nhậm với trí tuệ mẫn tiệp hơn người, biết rất rõ tâm lý của Vua Càn Long là cần có mặt của Vua Quang Trung ở Yên Kinh để lên mặt với các nước chư hầu, ông đã tìm mọi cách thuyết phục bộ ba Phúc Khang An, Hoà Thân và Vua Càn Long chấp nhận “Quang Trung giả”. Một màn kịch ngoại giao kỳ lạ mà người sắm vai chính lại là Vua Càn Long. Ông đón tiếp đoàn trọng thị nhất, tốn kém nhất, hơn hẳn với các sứ đoàn các nước khác.
Vậy là, với tài năng của Nguyễn Trọng Tân, từ đỉnh cao của quyền lực và vinh quang, Quang Trung - Nguyễn Huệ đã bước vào lãnh địa của văn chương, trở thành hình tượng nghệ thuật kỳ vĩ có sức ám ảnh xúc động lòng người.
Với Thiên Mệnh, Nguyễn Trọng Tân không chỉ thành công trong việc xây dựng nhân vật trung tâm và các nhân vật chính diện mà còn rọi con mắt tinh tường của tiểu thuyết gia vào việc phơi bày các nhân vật phản diện, thậm chí cả “khoảng tối dưới chân đèn”. Chính ưu điểm này đã làm cho cuốn tiểu thuyết xuất sắc này trở thành một tổng phổ nghệ thuật có giá trị phức hợp và đa thanh. Những trang anh viết về sự tranh giành quyền lực trong nội bộ Vua Lê, Chúa Trịnh hấp dẫn đến ghê rợn. Trịnh Sâm là một điển hình. Vốn Trịnh Sâm là con trai trưởng của Minh Đô Vương Trịnh Doanh, chơi rất thân với Thái tử Lê Duy Vĩ, con trai của Vua Lê Hiển Tông. Hai nhà muốn ràng buộc, Minh Đô Vương còn muốn gả con gái của mình là quận chúa Tiên Dung cho Lê Duy Vĩ. Trong một bữa cơm tại nhà Trịnh Doanh, vợ của ông là Châu Thị đã không cho Trịnh Sâm ngồi cùng chiếu với Lê Duy Vĩ. Điều đó làm cho Trịnh Sâm vô cùng đau khổ. Đáng lẽ phải oán trách Châu Thị thì Trịnh Sâm lại dồn tất cả tội lỗi và oán thù lên đầu Lê Duy Vĩ. Mấy năm sau khi đã yên vị lên ngôi chúa, việc đầu tiên của Trịnh Sâm là tìm cách trả thù Lê Duy Vĩ. Bước một là vu cho Lê Duy Vĩ thông dâm với cung tần của cha mình là Trịnh Doanh để bắt giam. Bước hai là vu cho Lê Duy Vĩ giết lính canh, cướp tù để đem ra hành hình. Vua Lê Hiển Tông quyền cao chức trọng là thế mà đành khoanh tay bưng nước mắt không cứu nổi con mình. Ấy là chưa kể việc vì say đắm Đặng Thị Huệ mà Trịnh Sâm thẳng tay phế trưởng lập thứ gây ra nạn kiêu binh làm vấy máu cả kinh thành. Xem ra các chi tiết trên là không thừa. Nó chỉ làm tăng thêm lý do “Phù Lê - Diệt Trịnh” để kéo quân ra Bắc của Nguyễn Huệ mà thôi.
Thế còn “Vùng tối dưới chân đèn”?
Nguyễn Trọng Tân đã chẳng dành một chương “Anh em Nhạc – Huệ tương tàn” đấy thôi. Có gì đâu. Nguyễn Nhạc thì muốn em mình nộp thêm số vàng bạc thu được của Chúa Trịnh. Còn Nguyễn Huệ thì muốn thu hai vùng đất Quảng Nam và Quảng Ngãi về tay mình. Thế là kinh thành Quy Nhơn bị quân của Bắc Bình Vương bao vây mà nã pháo suốt ngày đêm làm cho Vua Thái Đức thất điên bát đảo. Cuộc xung đột chỉ tạm yên khi có chuyến công du hoà giải của Nguyễn Lữ và Ngọc Hân công chúa.
Câu chuyện thật đáng tiếc và ngoài mong muốn, ấy là chưa kể về sự mất tích khó hiểu của sứ đoàn nhà Lê, đã trở thành nỗi giằng xé đớn đau của giới danh sĩ Bắc Hà trong quá trình đáp lại “Chiếu cầu hiền” để ra mắt Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ. Và biết đâu, nó chẳng phải là một trong những duyên do để cầm chân Nguyễn Du suốt 10 năm phong trần tại Thái Bình?
Con đường của một thiên tài đến với một thiên tài khó khăn tới mức đó ư?
Khép lại trang cuối của Thiên Mệnh, tôi tần ngần tự hỏi: Đây là lịch sử hay tài năng? Ngẫm nghĩ mãi, tôi tự trả lời, lịch sử hay cuộc sống nói chung xét cho cùng chỉ là cái cớ để nhà văn bộc lộ và ký thác tư tưởng, tình cảm, tầm nhìn và tài năng của mình trước con người và trời đất. Nếu Thiên Mệnh không phải mang trong nó sứ mệnh của một thông điệp lịch sử như câu kết trong lời tự bạch của tác giả thì đây hẳn là thành quả sáng tạo độc lập của nhà văn, nhằm vĩnh cửu hoá một thiên tài, một thời đại, tạo một cơ hội để bạn đọc nhìn thấu về quá khứ, suy nghĩ để rút ra một triết lý sống đẹp đẽ làm hành trang tinh thần trong hành trình gian nan bước tới cõi thiện.
Với ý nghĩa đó, Thiên Mệnh đã đi vào đời sống, trở thành người bạn đường tri kỷ của người đọc. Những tác phẩm hay xưa nay đều thế cả. Trong văn chương đương đại, nhắc đến những tên tuổi sáng giá nhất trong làng tiểu thuyết lịch sử chắc chắn người ta không thể quên tên tuổi Nguyễn Trọng Tân.Ẩn bớt