bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
PHẢN HỒI MỚI

VŨ NHO 085 589 0003

BAN TỔ CHỨC VÀ BAN GIÁM KHẢO LÀM VIỆC CHU ĐÁO, CẨN THẬN QUÁ!CHÚC MỪNG NHÀ THƠ  NGUYỄN THỊ MAI ĐƯỢC GIẢI CAO! TBT VŨ NHO

 

VŨ NHO 085 589 0003

Cám ơn nhà thơ Mai Nam Thắng!Vũ Nho cũng đã từng viết về nhà thơ NGUYỄN THỊ HỒNG NGÁT, in trong tập "33 gương măt thơ nữ". Đó là bài nhan đề : "KHÁT VỌNG ĐAM MÊ SỐNG MỘT ĐỜI HỮU ÍCH"

 

VŨ NHO 085 589 0003

CÁM ƠN PHẠM HỒNG HÀ ĐÃ GỬI CHO BẢN DỊCH CÂU CHUYÊN NÀY!TBT VŨ NHO

 

VŨ NHO 085 589 0003

CÁM ƠN SƯƠNG NGUYỆT MINH, NHÀ VĂN ĐỒNG HƯƠNG NINH BÌNH! CON SÔNG HOÀNG LONG CHẢY QUA QUÊ TÔI VÀ QUÊ ANH. TÔI Ở THƯỢNG NGUỒN!

 

VŨ NHO 085 589 0003

Cám ơn nhà văn HOÀNG VIỆT HẰNG ĐÃ GỬI CHO BÀI NÀY!

 

VŨ NHO 085 589 0003

Cam on đich gia thai xuan nguyen!"Anh vẫn là “con” trong một tiếng gọi, nhưng lại là “khách lạ” trong một thân phận. Tình cảm vẫn còn, chỉ có quan hệ đã đổi thay. Bởi thế, câu thơ tiếp theo vang lên t...

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 52
Trong ngày: 398
Trong tuần: 898
Lượt truy cập: 1874338

NƠI TẢN ĐÀ VIẾT TÁC PHẨM ĐẦU TAY

vna_potal_phu_tho_lien_hoan_hat_xoan_thanh_thieu_nhi_thanh_pho_viet_tri_lan_thu_vi_nam_2019_stand

NƠI TẢN ĐÀ VIẾT TÁC PHẨM ĐẦU TAY
(Giấc mộng con -Tập I và vở tuồng Tây Thi)

            NGUYỄN THAM THIỆN KẾ
Mùa đông ấy, cách đây lâu; ba người: Sao Mai, Nguyễn Hữu Nhàn và tôi đi thực tế một chuyến ngược Kim Thượng - xã miền cao của huyện núi Thanh Sơn, Phú Thọ sau một lời ngỏ mời của ông Bí thư Huyện ủy...
Kỷ niệm với hai nhà văn khả kính trong dịp hạ phóng vặt, tôi những mong được tái hiện dịp khác. Qua hơn tuần nằm chăn chiên, ăn thịt chua, uống rượu cần, cơm gạo nương, lội suối đến bợt chân, gỡ vắt trong nách, chúng tôi trở lại huyện lỵ Thanh Sơn. Đêm ấy hình như mù trên đồi Vân lên nhiều sương, hương cà phê của đồn điền cũ vẫn còn đọng nơi quán còm thưa vắng... Những cái tên xa ở đâu đó dội về: Đồn Ướt, Đồn Vàng, Hoàng Trung... trong tiếng nai gộ bầy nơi bến ngang sông Bứa.
Sớm mai cái huyện lỵ hồi chưa đổi mới, gầy gò móp méo như miếng da trâu sấy trên gác bếp người Mường. Tôi đã gặp và biết hương vị của nó khá nhiều trong suốt chuyến đi. Thứ thực phẩm đề phòng khi quẫn bách chợt khách đến nhà.
Mái gồi, mái ngói vỡ, mái tôn bụi đường phố phủ dày đến vài centimet. Đèn dầu hỏa chớp chớp trong tiếng nhạc ngựa, mõ trâu xua ruồi, muỗi dưới những xương tán bàng trơ trụi. Hàng phố hấp hé cửa đóng cửa mở: bán phụ tùng xe đạp, xoong nồi gia công, dép lốp, dây chun buộc, cửa hiệu vá mông vá gối quần bò, lộn cổ áo sơ mi. Thưa thưa bóng người lầm lũi lướt đi, lướt lại giữa lòng đường bị thu hẹp của những thước củi chẻ xếp khối cao, xe ba gác, xe trâu hạ càng còn lấm bùn đất rừng xa...
Nhâm nhi thứ cà phê màu nước gạo rang cháy, nhưng nồng nàn thắm môi trong hốc quán giữa phố; thứ cà phê mà chắc là chủ quán mua lại của trẻ trâu bới mót trong những cây cà phê sót lại đơn lẻ của một đồn điền chỉ có trong nỗi nhớ mù mờ của người già bản địa bên kia sông.
Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn khặc khừ súc miệng nước muối lẫn cà phê. Chả là nhà văn bị viêm họng quanh năm nên bất cứ thứ nước gì trong cốc trước mặt, phản xạ có điều kiện bật thức trong ông. Nhà văn lão thành Sao Mai mút từng giọt cà phê, ngẫm ngợi; quấn lại chiếc khăn phu la len xám, nhón tay chỉ sang bên kia đường, nơi một dãy nhà kho bỏ trống hoang, dây bìm leo xanh mái ngói mốc:
- Này ông trẻ! (Chẳng hiểu sao cả Sao Mai lẫn Nguyễn Hữu Nhàn thường diễu cợt gọi tôi long trọng như vậy). Anh có biết những mét vuông đất dưới cái cơ ngơi kia là nơi Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã viết những tác phẩm đầu tay, nơi bắt đầu một chân trời của một định mệnh, ngôi sao dẫn đường cho một thời văn học, lúc Thi Nhân mới 27 tuổi...
Không thể ngỡ ngàng hơn hay giật mình hơn, tôi để cà phê bỏng trào tay, rớt ướt gối quần. Huyện lỵ núi bỗng không bình thường là một huyện lỵ. Tôi chỉ biết thở dài ngơ ngẩn, năm đó tôi đã 28 tuổi đời lông bông.
Tôi chẳng muốn tin một tẹo nào trong câu chuyện của Sao Mai. Không lẽ nơi rừng núi "khỉ ho, cò gáy", nơi tôi vật vã lớn lên cùng với đại gia đình đi khai hoang kinh tế lại in đậm những dấu vết Thi Nhân của "Thề non nước" mà cha vẫn thường đọc trầm trầm một mình khi thơ thẩn trong vườn; tôi vô tình được nghe và cũng có thể "Thề non nước" đã ru luôn các em tôi vào giấc ngủ vo ve cánh ruồi.
Nhưng một nhà văn bốn mươi năm tuổi nghề, thì hai mươi năm đã ở Thanh Sơn lại có thể đưa ra một sự kiện không có thật cho văn học sử sao?
... Nghe vẳng ngay đầu giường. Bếp lửa nhọm nhẹm cháy củi mục, khói nhòa trong mõ điểm canh, Tản Đà bơ phờ ngồi bó gối nhìn ngọn lửa, để quên những gắp thịt trâu khô nướng, những ống cơm lam cháy khét. Gương mặt ngà ngà hơi men nếp cẩm bỗng sáng bừng đồng thời với ngọn lửa được gió thổi lên...
Tản Đà mường tượng đến mỗi chặng đường của mình qua bốn biển năm châu, hay là hình dung đến một nhan sắc và nỗi lòng Tây Thi? Ông ngồi đó như con hạc xếp mình đợi sáng.
Tiếng là dạy học, nhưng chỉ là bữa đực bữa cái, Tản Đà lên lớp chủ yếu là kể chuyện và đọc thơ cho các trò nghe. Những đêm trăng dãi vàng xuống sông Bứa, xuống màu lá rừng, Tản Đà chiếu cuộn, nách kẹp chai rượu và đùm món nhắm ra ngoài bãi cát, vừa uống rượu vừa tắm sông, tắm trăng, tắm sương trần truồng... ngầm ngậm nhấp bóng mình, bóng trăng trên trời, bóng trăng dưới nước.
Tản Đà dạy học chưa tròn tháng, bà Nguyễn Thị Tùng lên thăm chồng, ngã nước, sốt rét liệt giường. Tuy Nguyễn Bá Huân giúp nhiều, nhưng Tản Đà không hề biết tính toán chi tiêu, nên khó vẫn hoàn khó, dù có lương bảo học. Bữa bữa Tản Đà nhịn rượu dành thêm tiền mua thuốc và đong gạo nấu cơm cho vợ, mình ăn vụng ngô nướng.
Trong căn nhà vách liếp nhìn thấy cả cỏ vườn, ké dại nở hoa đỏ khé đầu hồi, nền đất nồng khai cặn trẻ và mùn giun đùn trong gậm giường chưa hoàn thổ; Tản Đà ngồi trên hòn cuội trắng nhám, vần từ dưới sông lên, hai chân trần thọc trong tro bếp, hặm hụi thổi lửa sắc thuốc cho vợ, tranh thủ cúi xuống tập giấy kê trên đùi thập thõm viết. Ngòi bút sắt buộc vào mẩu que tre khô vốn bẻ từ bờ rào ruộng ngô mé sông, lọ mực tím hòa vào chiếc nắp lọ thuốc kí-ninh, đặt trên cái đít giá vo gạo úp xuống nền nhà. Chốc chốc đãng trí, Tản Đà đưa ngòi bút chấm miệng như thói quen thấm nét bút chì; đôi môi Thi Nhân ngoe ngoét tím màu hoa bèo. Đôi mắt đảo tròng, phát quang như kẻ lên cơn hầu đồng. Mái tóc bù xù, trắng xám những tàn tro củi gỗ...
Trên giường, bên cạnh bàn chân vợ trùm chăn bông chàm, ngọn nến trám lật lờ nghiêng ngả đùn khói đen, phả ra thứ ánh sáng vàng vàng ảo não... "Giấc mộng con - Tập 1" và "Tây Thi" được Tản Đà viết trong những tháng ngày như thế...
Để sửa vở tuồng "Tây Thi", Tản Đà phải đợi khi vợ lui bạo bệnh mới hướng dẫn cho vợ nhập vai Tây Thi. Trên cái giường gỗ mộc, Tản Đà tiến lui, lên lên xuống xuống với cái góc nhà chật như trong bồ thóc, hăng mùi khói, mùi tương cà, mắm muối...
Năm 1916, "Giấc mộng con - Tập 1" Tản Đà tự đứng tên xuất bản. Năm 1917, rạp Thắng Ý (Hải Phòng) và đoàn Sán Nhiên Đài (Hà Nội) cùng nhau công diễn vở tuồng Tây Thi. Cái hào quang sân khấu và thi ca của Thi Nhân đã bắt đầu từ vùng rừng có câu ca:
Em xinh em đến phố Vàng
Má hồng để lại da vàng mang đi...
Người ta đồn rằng, chính câu ca ấy là của Tản Đà ngậm ngùi nói với Nguyễn Thị Tùng, lúc hai người rời huyện lỵ núi Thanh Sơn, khi Thi Nhân nhìn sông Bứa, núi Vân và gương mặt xanh lá của vợ.
Tản Đà ở Hoàng Trung (phố Vàng) được sáu tháng, nhưng chỉ với thời lượng ít ỏi ấy, Thi Nhân đã kịp chuẩn bị cho mình tư thế của một bậc trưởng lão ngất ngưởng đặt nền móng cho thi ca hiện đại nước nhà...
Hôm chia tay, Tri châu Nguyễn Bá Huân thân chinh tiễn Tản Đà tận bến Trung Hà. Kẻ ở người đi. Kẻ đi không nỡ, kẻ ở không nài. Trong mắt họ đã thấu cái chí của nhau từ lâu. Nguyễn Bá Huân chắp tay trước ngực, bộ quan phục bay lộng gió sông cùng bộ râu cằm mới kịp lơ thơ, đằng sau ông đám phu cáng, nha dịch thốt nhiên nín phắc... Nhấc hành lý và đỡ bà Nguyễn Thị Tùng lên thuyền, Nguyễn Bá Huân chỉ dòng sông Đà trong sẫm mọi khi, hôm ấy bỗng nhiên nhiều rác rến bởi mưa đầu nguồn:
- Bao giờ thì anh Hiếu từ bờ bên kia sang bờ bên này nhỉ?!
Tản Đà trầm ngâm, ngoảnh mặt nhìn ngọn núi Ba Vì, nhìn bạn lâu lắm, rồi rút trong ngực áo nậm rượu, rót cho bạn một, rót cho mình một. Trước khi nâng chén, Tản Đà nghiêng nậm dốc hết rượu còn lại xuống dòng sông ngầu bọt. Chiếc nậm rỗng rơi tõm, lềnh bềnh trên sóng, chốc lát khuất lấp lẫn vào màu nước gan gà...
- Anh là Non, tôi là Nước. Nước Non đã hẹn nhau thì sao mà dứt được cái tình. Nhưng tôi của ngày hôm nay sẽ không phải là tôi của ngày mai nữa...
Hai tay lồng nối, chắp trước ngực, Nguyễn Bá Huân hơi cúi đầu thi lễ trước bạn. Trên đây là chút ít tôi được biết về sau, do trưởng nam của Thi Nhân là nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Khắc Xương cho hay.
Vâng, xin trở lại cái giây phút bên cánh cửa sắt của dãy nhà kho hoang, tôi muốn khám phá cái bình thường nhưng kỳ diệu ở phía trước mà bất lực, thì nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn dẫn đến người bảo vệ kho hàng, tay khư khư một chùm chìa khóa.
Ba chúng tôi, hai già và một trẻ cứ quẩn quanh mãi khu đất lổn ngổn ngọn xấu hổ khô già, cỏ đuôi ngựa hoa bung tới thắt lưng, cứ như vừa đi tìm một vật quý vừa rớt xuống quanh đây mà không thấy. Một lối mòn dẫn xuống bến, vách cao dốc đứng, khoét sâu vào đất sét vàng. Lối này ngày xưa Tản Đà từng lom khom vin tay lên xuống? Trên bãi cát sa bồi, chấm trắng, chấm vàng của đám hoa dại ven sông Bứa sớm đông chợt lóe... Có phải quãng ấy ngày xưa Tản Đà đã xuống tắm và trải chiếu uống rượu. Chẳng ai dám chắc... nhưng có lẽ đúng là như thế.
Ba chúng tôi chẳng biết nói với nhau điều gì, mà thường ngày chúng tôi đâu phải hạng độn khẩu. Nhưng mà cần phải nói chứ, ba kẻ hậu sinh khi đứng trước dấu tích Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ở một nơi chẳng mấy ai ngờ. Hình như hồn Thi Nhân cũng đã nhập vào nơi cây cỏ hoang hoang.
Tôi giục hai người già. Họ ậm ừ không nói và cũng dường như sắp nói...
3.4. 1996
Nguyễn Tham Thiện Kế
vnp_hoi_hoa_xuan_ecopark_2019_1
In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com