
Có một dạo vào thời kỳ cuối thập kỷ bảy mươi trong thời bao cấp, ở miền Bắc người ta đua nhau đi lao động xuất khẩu tại các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, nhiều cơ quan cho đi tới một phần tư quân số để giảm biên chế, để ước mong được đổi đời. Quả thật nhiều gia đình có người xuất ngoại giàu lên trông thấy. Những xe đạp mifa, bàn là, quạt tai voi, tủ lạnh, ti vi, quần jean, áo bay, áo lông tràn ngập chợ trời... Nhưng sau này cũng có không ít những chuyện thương tâm xảy ra ở những gia đình tuy có khá lên về vật chất, nhưng lại lục đục, hạnh phúc gia đình bị tan vỡ. Ngày ấy tý nữa thì vợ tôi cũng được đi lao động xuất khẩu ở Tiệp Khắc, nhưng vì các con tôi còn nhỏ, nên vợ tôi đã ở lại, nhường xuất đi cho cô bạn gái cùng phòng. Tôi chẳng biết chuyện này là may hay rủi, nhưng đến khi nhìn thấy cảnh gia đình tan nát của anh bạn, tôi lại cho mình thật là may mắn.
Thời kỳ này ở Việt Nam chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn, cơn bão vỡ hụi những năm 91, 92 ở Hà Tây làm cho chúng tôi bị điêu đứng, đến nỗi cuối cùng tôi phải chuyển cả nhà vào sinh sống, công tác tại một Trung tâm trực thuộc viện ở Đông Nam Bộ.
Một lần ra họp ở Viện, tôi được các anh ở phòng Đặc sản cũ rủ đi đưa tang anh Thanh. Cái chết của anh làm tôi thực sự bất ngờ. Ôi người anh trai kết nghĩa của phòng, một chàng thư sinh, với nước da trắng như con gái, cách ăn nói lịch thiệp của người Tràng An thanh lịch, những câu chuyện súc tích, cách kể chuyện nhẹ nhàng, có duyên của anh làm cho người nghe thích thú, mến mộ. Anh đã giúp tôi rất nhiều trong công tác nghiên cứu, học tiếng Anh, v.v... Càng được làm việc, học tập và sống cùng anh, tôi càng khâm phục, coi anh như thần tượng, là tấm gương sáng để hàng ngày phấn đấu noi theo. Nhất là sau khi, tình cờ tôi được xem kết quả học tập của anh thời sinh viên ở khoa Hóa trường Đại học Tổng hợp Hà Nội: Trong 36 môn học, môn nào anh cũng đạt điểm 5, kể cả môn Anh Văn (điểm cho theo thang điểm năm bậc lúc bấy giờ). Duy nhất chỉ có môn thể dục là anh được điểm 4. Thảo nào anh nói tiếng Anh thành thạo, nhiều lần anh được mời lên làm thông dịch viên trong những cuộc tiếp khách nước ngoài của ban lãnh đạo viện. Riêng tiếng Nga là do anh tự học, thế mà anh dịch được nhiều truyện, tài liệu khoa học từ tiếng Nga sang tiếng Việt. anh là một trong bốn tác giả soạn quyển VI SINH - tài liệu nghiên cứu sinh hóa cơ bản cho các cán bộ và sinh viên trong lĩnh vực sinh hóa. Dù bận công tác, nghiên cứu, anh vẫn viết được hơn một trăm đầu sách: sách dịch từ tiếng Nga sang tiếng Việt, cũng như các sách viết từ các công trình nghiên cứu, sưu tập của anh, mà nhiều cuốn đã được dịch sang tiếng Nga. Với tính cẩn thận, vốn kiến thức uyên bác, anh còn được nhà xuất bản tiếng Nga thuê anh hiệu đính nhiều bài viết, bản dịch trong lĩnh vực sinh hóa. Ở trong viện nhiều người thường xuyên đến trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, kiến thức với anh, được anh góp ý tận tình, kể cả các vị giáo sư, tiến sĩ. Cho nên anh được nhiều người quan tâm, giúp đỡ, tôn trọng. Với một công dân bình thường như anh, lại chết trẻ ở độ tuổi 54 - cái tuổi đang sung sức nhất của một đời nghiên cứu, thì đám ma của anh có thể nói đông và nhiều người thương cảm nhất ở Hà Nội trong lúc bấy giờ. Nhiều ô tô con của đại diện các ngành, các nhà xuất bản, các trường đại học, rất nhiều cán bộ công nhân viên của Viện, bà con khối phố đi tiễn đưa anh đông đúc, chật cả dãy phố ĐC thật là cảm động.
Sau buổi đưa tang anh, tôi về cứ suy nghĩ mãi, quyết tìm hiểu qua bạn bè, bà con dân phố, các người thân của anh chị. Tôi được biết thêm về cái chết uẩn khúc của anh. Không biết bao nhiêu người khi tôi tiếp xúc, hỏi chuyện về anh, họ thường mở đầu câu chuyện bằng câu: “Giá mà anh đừng cho vợ đi lao động xuất khẩu!... giá mà chị vợ anh đừng xinh đẹp thế... giá mà chị ấy kiên định hơn... ôi biết bao cái giá mà... Nhưng! Cuộc đời mà, ai có thể biết hết, lường trước được ma lực của đồng tiền, cái cám dỗ của cuộc sống sa đọa, khi vợ chồng phải sống cách xa nhau hàng ngàn ki lô mét.
Ngày còn cùng công tác với anh, tôi thường đến nhà anh: một can gác xép nhỏ ở phố ĐC, bên dưới và xung quanh là chỗ ở của các anh em anh, sống quây quần hòa thuận với bà mẹ già phúc hậu - người phụ nữ đất Hà thành thanh lịch. Vợ anh là Y sĩ - một cô gái Thái Bình xinh đẹp, nết na, sau khi ra trường được anh xin về công tác tại trạm xá gần nhà. Anh chị có hai cháu, một trai, một gái xinh xắn, kháu khỉnh, khỏe mạnh. Một lần cả hai vợ chồng tôi đến thăm, khi ra cô vợ tôi cứ khen nức nở: gia đình anh thực hạnh phúc, lại được sống giữa lòng Hà Nội, tuy chưa thực sự giàu có nhưng trong thời bao cấp, có được cuộc sống như thế này thật sự là một niềm mơ ước lớn của nhiều người. Nhưng - ở đời khổ về chữ nhưng này? Con người ta thường mơ cao hơn, khi đã đủ ăn, đủ mặc, con cái đề huề, học hành tử tế, họ lại muốn được thực sự giàu có hơn, có xe hơi, có nhà lầu, có tiền bạc dư giả, có cuộc sống nhàn hạ, v.v...
Chẳng biết là nghe bạn bè xui khiến, hay những câu chuyện, những sản vật ngoại, mà các gia đình có người xuất dương mang về ùn ùn, khiến chị Thúy - vợ anh cứ nằng nặc đòi đi xuất khẩu cho bằng được. Thế rồi có ngày anh nhận được lá thư của vợ: Trong thư chị ấy kể: được làm việc ở nhà máy sản xuất dụng cụ y tế ở ngoại ô Béclin của Đông Đức. Chị được làm ở bộ phận ATK (kiểm nghiệm sản phẩm), công việc vừa nhàn hạ, lại được lương cao. Anh còn cho
tôi xem bức ảnh chị chụp chung với các đồng nghiệp, trông chị thật xinh xắn, đẹp lộng lẫy, nổi bật nhất trong nhóm nữ công nhân người Việt. Tôi thực sự mừng cho anh, thế là gia đình anh từ nay thực sự được đổi đời. Được hai năm, chị gửi về cho anh nào xe đạp Đức, mô tô Mokich, máy ảnh, vải vóc, tủ lạnh, bàn là... toàn là những đồ xịn, mà thứ nào lúc bấy giờ cũng đều là vật mơ ước của nhiều người. tôi bảo anh sao không mang xe máy để đi làm có hơn không, anh chỉ cười, và nói đùa cùng tôi là số anh không biết đi xe máy? Hàng ngày, hôm nào tôi không đi làm bằng xe buýt, lại cùng anh đạp xe đi về qua đường Hoàng Quốc Việt trước cửa Viện Khoa học Việt Nam. Anh có thói quen đạp xe chầm chậm, vừa đi vừa suy nghĩ, hoặc kể chuyện cho bạn đồng hành.
Những năm sau đó, số đồ ngoại đổ về gia đình anh ngày càng nhiều, tôi nghĩ chắc là anh phải vui lắm, nhưng không hiểu sao anh vẫn đi làm đều đặn trên chiếc xe đạp cũ, những bộ quần áo giản dị như ngày nào. Có điều tôi thấy anh có vẻ buồn buồn. Tôi cho là do vợ chồng xa cách nên anh không vui vậy thôi. Đôi khi có điều kiện tôi lại gần tìm lời tâm sự chuyện gia đình cùng anh, nhưng anh vẫn im lặng, hoặc là lảng tránh sang chuyện khác.
Còn chị Thúy - vợ anh từ ngày sang Đức, chị càng ngày càng béo ra, xinh tươi, khỏe mạnh, nhưng nhiều khi cũng tỏ ra rất tư lự. Những cô bạn cùng phòng nhiều lần rủ chị lao vào những cuộc liên hoan, vui chơi, ca hát, nhảy múa cho quên đi nỗi nhớ quê hương, nhớ nhà trên đất khách quê người không được, họ bảo chị là người lạnh nhạt, thậm chí là người tự kỷ, hoặc người hâm, v.v... Nhưng từ năm thứ hai trở đi, chị đã dần dần tham gia vào các cuộc vui chơi, đặc biệt là khi, ở ký túc xá của chị, xuất hiện thêm anh chàng Sơn - công nhân mới, đã từng là thủy thủ tàu Vốt Kô ở Hải Phòng mới nhập. Không phải vì anh ta đẹp trai, khỏe mạnh rất nam tính hấp dẫn chị, mà là những câu nói đùa vui vẻ, cách nói chuyện thẳng thắn, ánh mắt ngời sáng, luôn nhìn thẳng vào người đối diện làm cho chị lúng túng, nhưng lại có cảm tình.
Thế rồi cái gì đến, nó cũng sẽ đến. Vào một đêm mùa đông lạnh giá, sau cuộc vui với bạn bè, trở về phòng trong cơn chếnh choáng say, vì mấy cốc rượu Vốt Ka, rồi khi anh chàng thủy thủ dìu chị về phòng, săn sóc chị, chị đã ngả vào lòng anh lúc nào không biết nữa... Sau lần đó chị tỏ ra hối hận, vì sự trượt ngã, chót phản bội lại chồng. Chị luôn tránh mặt chàng thủy thủ nọ và thầm hứa sẽ không bao giờ để xảy ra những chuyện tương tự. Nhưng cuộc sống cách xa gia đình, cái lạnh, cái rét từ trong tâm hồn cộng với cái rét thấu xương nơi xứ người, cứ đẩy đưa,
xô đẩy chị. Những cuộc làm tình mãnh liệt của những cơ thể cường tráng, những giây phút vụng trộm cứ ngày càng tăng dần về tần suất,
để đến nỗi khi tỉnh lại, chị lại càng thương anh Thanh người chồng thanh lịch, người cán bộ khoa học, luôn thương yêu chị và các con hết mình. Chị lại càng cảm thấy thương yêu gia đình chị hơn. Chị không thể tưởng tượng được có thể có ngày nào đó các con chị phải xa bố hoặc mẹ, sống trong cảnh bố mẹ ly thân. Những hình ảnh ngày xưa tràn đầy hạnh phúc khi chị được sống bên anh. Những sự chăm sóc tận tình khi chị bị ốm, lúc anh đưa chị đi đẻ, v.v... cứ đua nhau ùa về dằn vặt làm cho chị đau lòng...
Mấy năm sau, những lần về phép, gặp lại anh, chị đã muốn nói thẳng cùng anh, viết đơn xin ly dị. Nhưng biết bao lần, viết rồi lại xé. Chị không đủ can đảm trình bày sự thực cùng anh. Hình như anh cũng biết chuyện..., nhưng không hiểu vì lòng bao dung, vì những công trình nghiên cứu dang dở cuốn hút, vì tình thương yêu các con mãnh liệt, anh vẫn bình thản chăm sóc chị và các con, mặc dù đôi khi chị nhận thấy anh cũng có vẻ buồn... Cho đến gần cuối năm thứ ba, khi đất nước Đức thống nhất, hợp đồng xuất khẩu lao động với Đông Đức bị chấm dứt trước thời hạn. Chị và mọi công nhân khác được bồi thường một số tiền không nhỏ. Sau đó với vẻ thông minh, thành thạo buôn bán của anh chàng Sơn, chị đã góp vốn cùng anh mua hàng, đánh nhiều quả lớn từ các nước Đông Âu về Việt Nam, rồi các mặt hàng khác từ Việt Nam sang Đức. Chị càng say làm giàu, lại càng thường xuyên đi buôn cùng anh chàng Sơn, xuôi ngược Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Sài Gòn... Càng ngày chị càng phất lên, thế là chị mua nhà ở chung cư Thành Công: Một căn hộ tầng trệt rộng gần hai trăm mét vuông để mở cửa hàng buôn bán. Chị còn mua thêm một căn hộ khác ở gần đó trên tầng hai để anh và các cháu ở. Cuộc đời vẫn cứ bình thản như vậy diễn ra, đôi khi có những cuộc to tiếng, cãi vã gì đó xảy ra nhưng rồi với bản tính hiền lành, với một lòng bao dung của anh, bao giờ anh cũng nhẹ nhàng rút lui, để rồi chính cách cư xử ấy của anh lại làm cho chị cảm thấy thương anh hơn, mà không nỡ quyết liệt đòi ly dị. Nhiều người cho là anh sợ vợ, bị vợ dắt mũi... nhưng tôi luôn cho rằng với một người luôn tin vào khoa học, luôn muốn cống hiến hết mình cho khoa học, thực sự thương yêu con cái sâu sắc, thì cách cư xử của anh tôi cho là hợp lý, không có gì đáng chê trách. Chính vì vậy gia đình anh vẫn không bị đổ vỡ. Nhưng những đợt sóng ngầm trong tâm hồn anh, chị vẫn đôi lúc diễn ra. Lúc mãnh liệt ầm ào, lúc lừng lững như sóng thần muốn nhấn chìm tất cả. Tôi tin là anh luôn mong mỏi chị vợ anh, với bản chất cơ bản của người con gái Việt sẽ có ngày tỉnh ngộ và sẽ biết cách gìn giữ hạnh phúc gia đình cho anh và cho các con.
Nhưng đối với anh, người ta thường nói: “Bốn chín chưa qua, năm ba đã tới”. Cái thời điểm quan trọng của đời người, cái thời điểm mà đồng hồ sinh học của người ta có thể bị nghỉ ngơi chỉ vài giây, hay vài phút, nó làm cho người ta lơ đễnh, dễ bị tai nạn trong cái thời khắc ấy. Tôi cũng chưa thực sự tin ở điều này, nhưng ở trường hợp của anh, thì điều ấy có thể xảy ra lắm chứ. Với những suy nghĩ ngổn ngang về công việc, về các công trình nghiên cứu dang dở, những chuyện bất đồng ở gia đình, luôn túc trực trong anh, với thói quen đạp xe chầm chậm của anh cho nên lại gặp giờ khắc xui xẻo thì chắc chắn là tai nạn sẽ ập tới:
Một buổi chiều tan tầm, khi anh đạp xe chậm trên đường về nhà qua đường Hoàng Quốc Việt, một đống cát của gia đình nào đó đang xây dựng đổ ở ven đường, làm xe anh khựng lại, rồi anh ngã ra, liền bị một xe tải phía sau trờ tới, người tài xế đã không xử lý kịp, chiếc xe tải trườn qua người anh, đè nát hai đùi, sau đó dù được đưa vào bệnh viện cấp cứu kịp thời, nhưng vì vết thương ra nhiều máu, anh đã tử vong tại bệnh viện sau hai giờ.
Ôi! Cuộc đời và những tham vọng! Có lẽ nào cái chết của anh là do số phận? Nhưng sự thực là sự thực, biết làm sao được. Chắc chắn sự ra đi của anh sẽ đè nặng lên vai chị, gây cho chị bao sự đau lòng. Tôi thấy chị vẫn đi buôn, vẫn xuôi ngược Bắc Nam, tất bật lao vào cái vòng xoáy kim tiền.
Một lần muốn cần một tài liệu cũ nghiên cứu của anh, tôi đến nhà anh để mượn. Khi gõ cửa căn nhà mãi không thấy ai ra mở cửa, chỉ nghe thấy những tiếng rú rít, những tiếng nhạc của các trò chơi điện tử ầm ào... Mãi sau cháu gái đầu của anh mới ra mở cửa với lời hỏi cộc cằn: chú hỏi ai? Mẹ cháu đi vắng rồi. Thế rồi cháu
lại quay vào chơi tiếp trò chơi trên máy vi tính của mình. Còn cậu em trai, ngày xưa rất quý
tôi, khi tôi tới nhà, nhưng hôm ấy cũng thờ ơ, cắm cúi nhìn vào màn hình với những tiếng hét, tiếng súng bắn nhau loạn xạ, chớp xanh chớp đỏ nhoáng nhoàng. Ôi cuộc đời các cháu cứ chơi như thế này thì sẽ đi đến đâu? Tôi đành lặng lẽ ra về, lòng trĩu nặng thương nhớ tới người anh trai kết nghĩa.

Người gửi / điện thoại