NGÀY CỦA SỰ SINH THÀNH
(Ký ức về ngày 30 tháng 04 năm 1975)
Nhà văn Lê Tuyết
Trưa hôm đó, (30/04/1975) Tôi cắp chậu quần áo và mang cái bụng bầu
nặng nề đã 9 tháng ra sông giặt. Trời cao xanh lắm, cả dòng sông mênh mông
đang bắt nắng chang chang. Tấm lưng đã dần dần bỏng rát tôi vội giặt nhanh
cho xong , thì từ xa bỗng nghe tiếng hét: - Thương ơi! Về mau!
Quay phắt lại, tôi thấy chị Dung đứng trên đê tay cầm nón vẫy tôi, và
không thể chờ thêm, chị lần xuống sông với cái bụng cũng đã 7 tháng nặng nề
của mình. Chuyện gì cấp thiết đến thế? Tôi vội lội lên bờ. Khi đã gần hơn, chị
kêu to, giọng vỡ ra vì sự vui sướng tột cùng: - Sống rồi!... em ơi! Con chúng ta sống… rồi!
Chưa hiểu, tôi cũng hét lên đáp trả: - Sao? Sao? Chị nói sao cơ? - Đại thắng rồi!... quân ta đại thắng… rồi! thống nhất đất nước… rồi…!
Tôi cố đi nhanh hơn: - Ai bảo thế? Sao chị biết?!
Chị hào hển: - Bác… Thép nghỉ phép mới lên. Đài… Đài tiếng nói Việt Nam của…
Bác… mới đưa tin… đúng rồi… hòa bình rồi!
Chân tôi như bị chôn xuống đất trước sự kiện bất ngờ! Vì niềm vui quá
lớn! mà hàng triệu bà mẹ, em thơ, người vợ… toàn dân, cùng bao người yêu
chuộng hòa bình trên thế gian này mong mỏi.
Bóng chị Dung nhòa đi, khi hai cái bụng song song, chị ôm choàng lấy
tôi, và òa lên nức nở. Chị em tôi cùng cơ quan, đều mang thai và có chồng
ngoài mặt trận. Sự xa cách và khó khăn khiến hai chị em xích lại gần nhau,
cảm thông và sẻ chia, chị hơn tôi 9 tuổi.
Hai chín tuổi chị lấy chồng, anh là sĩ quan quân đội. Mấy năm chưa có
con, một lần anh về thăm nhà, may mắn chị có thai. Nhưng từ đó anh đi không
có thư về. Rồi có tin đồn - Anh hy sinh!. Điều khủng khiếp đó làm chị suy sụp - nhưng chưa “báo tử” - hy vọng anh còn sống lại trở về mãnh liệt trong chị.
Chị chờ đợi …đến hôm nay.
Để cho cơn xúc động nguôi đi, hai chị em dìu đỡ nhau về nơi sơ tán.
1
Cơ quan tôi là Xưởng trường mỹ nghệ vừa dạy nghề vừa làm hàng xuất
khẩu, gồm nhiều nghề: sơn mài, khảm trai, mây tre đan, điêu khắc gỗ, sừng,
mộc tiện, thêu ren và trạm bạc. Tất cả có hơn 200 người, thanh niên nam nữ
đến 70 người. Nhiều bác già là nghệ nhân giỏi của tỉnh được triệu tập về đây
dạy nghề. Có bác được nhà nước phong tặng “đôi bàn tay vàng” rất quý. Chiến
sự ngày càng ác liệt, thanh niên mạnh khỏe dần dần ra tiền tuyến hết.
Hiện tại chúng tôi làm hàng xuất khẩu, ngày càng nhiều. Khẩu hiệu:
“Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt”… khiến chúng tôi quyết
tâm, quyết liệt dốc sức mình ra làm việc. Vì vận mệnh của đất nước, khó khăn
vậy mà những kiện hàng luôn đầy đủ chất lượng, số lượng và đảm bảo về kỹ
thuật, mỹ thuật, bao giờ cũng xuất khẩu đúng định kỳ. Đến ở đây, chúng tôi
cũng luôn được dân làng giúp đỡ. Hôm nay tin vui đến, không biết bà con đón
nhận ra sao? Vừa đến đầu xóm, đã nghe tiếng loa oang oang… - A lô! A lô! Quân ta đại thắng rồi! Đất nước thống nhất rồi! Bà con treo
cờ lên mừng chiến thắng! A lô! Nhà nhà treo cờ lên cho mau… A lô! A lô…
tối ra sân đình dự mít tinh… A lô! A lô…
Đám con nít chạy theo, reo hò inh ỏi người lớn gọi nhau í ới! Đã có tiếng
trống đang khua rồn rập tùng tùng… tùng tùng… thật náo nhiệt.
Đài tiếng nói Việt Nam, phương tiện thông tin truyền thông đại chúng
này lan truyền nhanh quá, nó làm cho một xóm nhỏ ven đê, nơi rất xa ánh đèn
thành phố, một bên là sông, một bên là đồng chiêm trũng quanh năm sống bình
lặng, nay bỗng bừng bừng sống động! Thế mới biết niềm vui trọng đại này có
giá trị tới mức nào, đối với những người dân bình thường nhất.
Chúng tôi về cơ quan, thấy đám thanh niên choai choai cầm mâm, cầm
xoong, chảo…gõ loạn xạ như đê sắp vỡ, các bác già nói cười ha hả, còn các chị
em nắm tay nhau nhẩy vòng tròn và hát: “hòa bình trở về quê ta, bướm vui nô
đùa với hoa…”. Rồi chiến thắng Điện Biên, qua miền Tây Bắc, kết đoàn… Tất
cả những bài mà họ thấy hợp vào lúc đó. mặt các chị còn nhọ nhem than đánh
bóng, chỉ thêu vương đầy trên áo, tay bợt trắng do ngâm nước và nở loét vì sơn
ăn… mặc nó - bởi bao ngày vất vả, âu lo làm huyết khối tích tụ. Nay nhiệt
huyết bừng bừng, máu lại chảy rần rật trên những khuôn mặt đảm đang ấy. Và
niềm vui cùng hy vọng đang tràn về trên đôi má đỏ hồng.
Chờ không khí bừng bừng tạm lắng, anh cán bộ tổ chức tuyên bố: - Bây giờ các tổ trưởng phân công công việc cho từng người, thu dọn
ngay chúng ta trở về cơ quan cũ. Khẩn trương lên! Các bác lớn tuổi và chị em
có thai ưu tiên cho về trước, nếu ai không có phương tiện đi thì ở lại cùng về
với ô tô cơ quan sau.
Dãy nhà chị em chúng tôi ở có 15 người, tất cả hối hả, thu dọn đồ đạc,
và chuyện trò rôm rả. Gần tôi có hai cô đùa nhau: - Đằng ấy sướng nhá! Lần này … mà về là chết với bà! Bà đòi cưới ngay
cho nóng sốt nhá! Gớm mong ngày mong đêm làm người ta sốt cả ruột… cứ lo
… quá lứa! - Ừ! thế đấy, mình không mong bằng mấy người ta ấy à? Lúc nào cũng
mong… thằng cu con! Thằng cu con! - Này! người ta cưới rồi. Thế là thường nhé! Đằng này… chưa cưới cũng
mong ... thằng cu mới hay cơ! Hi hi hi…
Các cô các chị cười nói ồn ào hơn cái chợ, thì bỗng nhiên tất cả giật trái
người: - Ới anh ơi!... Anh đi Anh mang cả hai con theo!... Để em thui thủi thế
này!... em về nhà với ai bây giờ… anh ơi! Đau đớn thế này… Anh ơi!
Tiếng kêu thê thảm, ai oán, đứt ruột, đứt gan phát ra từ cuối phòng. Mọi
người hốt hoảng nhìn, chị Thắm đầu tóc rũ rượi, hai tay ôm đầu vật vã. Không
biết nãy giờ chị đi đâu? Khi mọi người hò hát.
Tất cả chạy lại với chị, biết an ủi sao đây? Trong giây phút lịch sử thiêng
liêng này, thì nỗi đau tột cùng của chị lại tấy lên. Đó cũng là nỗi đau còn đang
rỉ máu của cơ quan tôi.
Ngày đó, chiến tranh đến gian đoạn quyết liệt, địch đã đem bom bắn phá
miền Bắc. Chủ trương của Đảng là: Lệnh tất cả nhân dân phải sơ tán triệt để ra
khỏi thành phố, thị xã. Cơ quan tôi khi đó ở thị xã Hà Đông nên chúng tôi chấp
hành ngay, sơ tán rất xa thành phố. Một hôm bom nổ rung nhà… Khiến mọi
người khiếp vía, bom trúng ga xe lửa, ga cách chúng tôi chưa đến 1km, đó là
mục tiêu địch đánh phá giao thông đường bộ.
Không ổn, cơ quan tôi lại đến một nơi khác, ở dây có nghề rèn, cách thị
xã 4km. Không có cầu cống, nhà ga hay nhà máy nào hết – yên tâm lắm – đó
đây trong làng chỉ có tiếng quai búa đập sắt của các bác thợ rèn vất vả, cần mẫn
làm dao, kéo …
Dân làng bố trí cho chúng tôi ở một khu chùa rất rộng, có ba dãy nhà xây
trước sân chùa bỏ không của các cháu lớp 1 cũ. Chúng tôi làm thêm vài dãy
nhà lá sau chùa để công nhân ở là ổn. Nơi đây mát lắm, vì hàng cây đại thụ
bao quanh ngôi chùa cổ kính, về phía đông lại có con sông Nhuệ uốn khúc
chảy qua. Thật là một nơi phong cảnh hữu tình.
Hơn một năm chúng tôi sống yên ổn. Tất nhiên vẫn có báo động, luôn
xuống hầm trú ẩn và ra đường phải đội mũ rơm. Với tin tức cập nhật hằng
ngày, miền Bắc bị bom đánh phá những nơi đâu, ngày càng ác liệt.
Một đêm, dãy nhà quay lưng ra đường của chúng tôi bỗng nhiên rung lên
bần bật, do có đoàn xe kéo theo vật nặng ầm ầm chạy ra phía sau làng, suốt
đêm như vậy, sáng ra tất cả lại lặng yên.
Chiều đó như mọi khi hết giờ làm việc, mấy đứa con gái chúng tôi ra
cánh đồng chơi. Đến nơi chúng tôi vô cùng sửng sốt, giữa cánh đồng mầu
mướt xanh, bỗng hiện lên một khu với những thành đất được đắp gọn gàng, và
nhiều bệ phóng mang đầu đạn tên lửa. Dù chúng được ngụy trang cẩn thận,
nhưng những đầu thép nhọn hoắt đang chĩa thẳng lên trời sừng sững, thì rõ
mồn một trên nền trời đỏ rực ánh hoàng hôn. Họ ra hiệu chúng tôi không được
đến gần.
Mấy hôm sau, sáng ra cả làng đông đặc người mặc quân phục mầu cỏ úa,
cầu vai và cổ áo mang phù hiệu “quân y”. Hằng ngày họ ra Viện 103 ở thị xã
học, đến chiều tối lại lũ lượt trở về làng.
Những ngày tiếp theo, chúng tôi không ngồi sản xuất được lâu, một lát
loa đài lại báo động: “đồng báo chú ý, đồng bào chú ý: máy bay địch cách thủ
đô 300km… rồi 200…50km… tiếng máy bay đã gầm rú, chúng tôi luôn phải
xuống hầm trú ẩn bất cứ ngày đêm. Không khí vô cùng căng thẳng.
Một đêm, máy bay gầm rú, tiếng động cơ phản lực xoèn xoẹt ngay sát
sạt trên đầu, những người gan dạ không xuống hầm, nhìn thấy giàn tên lửa
ngoài đồng xé màn đêm phóng lên trời những tia sáng đỏ lừ, cùng bao tên lửa
nơi khác, với pháo cao xạ, súng trường. Đạn bắn lên đan xen nhau đỏ rực trên
nền trời đen kịt, quyết liệt bắn máy bay địch.
Tiếng đạn nổ inh tai nhức óc! Tiếng bom rùng rùng kinh thiên động địa!
Nhìn về phía thủ đô, dưới đất lửa đỏ bừng sáng từng vùng, người ta biết “Hà
Nội bị ném bom rồi”…
Từ ngày đoàn xe đến đây, đã vài lần đang đêm họ rầm rầm kéo đi và
sáng ra, đường làng cũng không còn một bóng bộ đội quân y. Mà lạ lắm! Cứ
mỗi lần giàn tên lửa rời đi, là mỗi lần lớp quân y biến mất, còn sáng ra thấy bác
sĩ quân y đầy đường, thì giàn tên lửa đã sừng sững ngoài đồng. Sao mà đồng
nhất vậy!?
Một hôm họ cùng kéo nhau đi hết, đường làng vắng tanh, bỗng dưng
chúng tôi thấy trống trải, và một cái gì chờn rợn, chờn rợn làm chúng tôi lo
lắng, linh nghiệm sắp có điều gì đó xảy ra, và đúng thật.
Hôm đó trời rét như dao cắt, đã mấy đêm thủ đô Hà Nội bị bắn phá rồi,
loa đài báo động liên tục, cứ nghe bom đạn dậy đất, máy bay rú rít, đạn pháo
đầy trời là bà già và trẻ con trong hầm lại run rẩy. Chúng tôi có gan dạ hơn,
nhưng trước cảnh bom rơi đạn lạc thế này, ai ai cũng lo âu, hoảng hốt.
Đêm đó, chừng 3h sáng (22/12/1972), lên xuống hầm mãi, chúng tôi
thấy mệt. Lần báo động cuối cùng, bọn con gái chúng tôi bảo nhau không ra
hầm mà chui xuống gầm giường, trùm chăn ôm nhau ngủ. Cô Trường cấp
dưỡng, thương tôi lắm, cô có hầm riêng trong nhà ăn rất sạch, bao giờ cô cũng
dành riêng cho tôi xuống cùng cô. Nhưng hôm đó mới từ hầm lên, tôi không
xuống nữa.
Chúng tôi vừa chợp mắt bỗng đất rùng rùng rất mạnh, tiếng nổ nghe gần
bục, bục, và roạt một cái, gió mạnh ào vào phòng, chúng tôi cắp chặt lấy nhau,
rồi cùng bật dậy bởi tiếng thét thất thanh của chị Thắm: - Ối giời ơi! Chồng tôi đâu? Con tôi đâu rồi!!!
Tất cả ùa ra: Khu chùa còn nguyên, trước sân nhà chúng tôi trống trơn,
hai dãy nhà lá bay đâu mất!
Tôi lao theo tiếng chị Thắm – trong chùa tất cả đang chạy ra - trước sân
chùa trống hoang, ba căn nhà xây biến mất như chưa từng hiện hữu, chị Thắm
vừa nhẩy vừa mò đất và hét lạc giọng: - Chồng tôi đâu? Con tôi đâu? Ối giời ơi! Con ơi!... Anh ơi!!! - Có một cháu bé! Tiếng Anh Kiên kêu to – đồng thời nhiều tiếng tiếp
theo kinh hoàng: - Đằng này có người! Ôi bà Trường! -Có người nữa! Ối giời ơi! Anh Lê… còn nóng… hô hấp! Mau!
Tôi chạy sau chị Thắm (ở khu nhà chồng chị gần bờ ao) chị vồ lấy cháu
bé trên tay Anh Kiên rồi ngã chúi xuống rụng rời: - Con tôi… Lâm ơi! Con ơi!... (thằng bé mới 2 tuổi)
Đồng thời liên tiếp có tiếng kêu: - Ở đây có người đang rên… bới đất mau! - Đằng này có người kêu cứu! nhanh lên…
- Có một cháu bé – có người hét ngay cạnh tôi – tôi vồ lấy và thét lên:
cháu Quỳnh con chị, chị Thắm ơi! Cháu còn thở, mau lên! Anh Kiên nhào đến
ôm xốc cháu lên cùng chị Thắm ôm cháu Lâm, hai người vừa lay gọi cháu vừa
chạy về hướng bệnh viện.
Tôi lao lại chỗ cô Trường và anh Lê, mọi người đang cuống lên hô hấp
cho họ, thương quá cô ơi! Còn anh Lê anh chưa có vợ, người ta cố cứu...
Nhưng khi nâng đầu anh lên thấy ươn ướt, sau gáy anh bị vỡ, và óc đang chảy
ra rồi…thê thảm quá! Trời ơi! Ai bảo anh vào hầm trú ẩn cùng cô Trường,
“chỗ” của tôi… (vì buồn ngủ mà tôi đã thoát chết trong gang tấc).
Tất cả chúng tôi chồm chồm cào đất, vớ được miếng ngói hay mảnh gỗ
là vồ lấy đào bới. Trời vẫn tối quá, những hầm chữ A đất phủ mỏng thì người
sống sót, những hầm chìm dưới đất như vị trí hầm của cô Trường và bố con
anh Phúc (chồng chị Thắm) thì bị bắn tung lên. Còn hai chú họa sĩ cạnh đó vài
mét cùng chung một nhà thì lại bị đất phủ lên rất chặt. (Gần đó, thay vào cái
giếng khơi, là một hố bom khổng lồ, sâu hoắm). Chúng tôi khẩn cấp bới đất,
xốc được hai chú lên thì cả hai đã chết. Có lẽ không chết do ngạt thở cũng chết
vì sức ép bởi tai hai chú đều chảy máu.
Chao ôi! Tôi bủn rủn tay chân khi lôi được đồng nghiệp của mình trong
hầm lên, thì họ đã mềm nhũn, không còn thở nữa. Chúng tôi kêu, chúng tôi
khóc thảm thiết, mà hai tay vẫn mò bới đất như điên như dại khi tìm thấy vị trí
của hầm ai đó.
Tờ mờ sáng thì vị trí tất cả các hầm trong khu đã đào bới hết, phần lớn là
hầm chữ A, nên thoát chết khá nhiều, còn bao người bị thương, được đưa đến
bệnh viện cấp cứu ngay.
Khi mặt trời đỏ lừ, nhuốm máu tang thương! vừa nhô lên khỏi bờ sông,
chiếu ánh sáng lên khu đất trống trơn, hoang tàn, và soi rõ một hàng dài với 13
thi thể, mặt xám đen khốn khổ.
Có 8 người lớn và 5 đứa trẻ thơ. Đó là ông giám đốc, 4 họa sĩ, hai cô cấp
dưỡng và bác Phiên đã 70 tuổi thợ thêu. Trong số đó có hai con của chị Thắm
(các cháu đã chết trên đường đến bệnh viện) và chồng chị (họa sĩ Phúc). Tìm
mãi không thấy anh, có người làng mách thấy có người nằm bên bờ ao còn thoi
thóp thở, họ đã mang ngay anh xuống trạm xá xã… khi chị xuống tìm thì anh
đã chết, mặt xạm đen khói bom, đang nằm giữa bao thân xác của những người
thợ rèn lao khổ.
Tất cả chúng tôi đứng vây quanh đồng nghiệp của mình mà nước mắt lăn
dài. Những người mới hôm qua còn mạnh khỏe, chúng tôi đã làm việc có nhau,
ăn cơm có nhau. Cùng đồng cam cộng khổ, thân thiết gắn bó bao năm qua. Nay
bổng dưng chết tức tưởi, thảm thương, làm trái tim người còn lại rung lên đau
đớn. Tất cả muốn gào lên, muốn thét lên vì hờn căm và tiếc thương, xót xa bao
nhiêu trước những thân thể của các cháu còn quá non nớt này.
Chiến tranh là thế này đây, có trực tiếp chứng kiến mới thấy thấm thía
cái bạo tàn của nó, đó là sự hủy diệt tàn khốc, dã man, đẫm máu. Nó nhắm vào
trẻ thơ, cụ già, phụ nữ và những người thợ lành nghề vô tội.
Để có ngày hôm nay, ngày thống nhất non sông, ngày lịch sử trọng đại
và ngày huy hoàng của đất nước đã chịu quá nhiều khổ đau này. Biết bao xác
thịt của nhân dân, chiến sĩ ta đã trải khắp chiều dài đất nước. Nay Hòa Bình
đến ý nghĩa của nó trọng đại đến thế nào, giá trị của nó lớn lao đến thế nào đối
với nhân dân ta thì không sao nói hết.
***
Hôm nay cả dân tộc mừng rơi nước mắt, thì chị Thắm tủi thân.
Chị Thắm ơi! Chị mất chồng con đau đớn lắm! Tôi đã nói với chị rằng -
tôi cũng có cùng chung sự mất mát như vậy, nên thấu hiểu nỗi thống khổ của
chị: vì cha tôi hy sinh trong kháng chiến chống Pháp, để lại tôi còn trong bụng
mẹ. Mẹ sinh tôi, rồi nuôi tôi được mấy năm, khi cái hình hài yếu ớt ấy đang rất
cần hơi ấm của lòng mẹ, thì mẹ đã để tôi lại cho bà nội rồi đi bước nữa. Tôi
mất cha, không mẹ! Để:… Đêm đêm bé bỏng ôm bà!
Ngoài kia tê tái sương sa đẫm vườn!...
Cái tủi, cái hờn của tôi đến đất trời còn cảm thấu. Tôi đã căm thù chiến
tranh đến mức nào để cả đời tôi không anh, không em, đơn độc - và chồng tôi
nữa, anh là một họa sĩ trẻ tài năng. Liệu anh còn có trở về, hay máu xương anh
đã trộn vào đất nước mất rồi…
Trong cuộc chiến một mất, một còn, thì không cứ gì tôi và chị, còn có
gia đình chết cả nhà. Còn có cả làng bị hủy diệt nữa kia…
Tôi nắm bàn tay chị vuốt nhè nhẹ: - Nỗi đau của chị, của em còn nhỏ lắm so với họ phải không? Còn có
nhiều cách cho chị làm lại mà. Vậy chị hãy can đảm lên, để không ảnh hưởng
đến bà con mừng ngày độc lập… chị nhé! Nghe em nhé!
Chị nắm chặt tay tôi, ngồi dậy vấn lại tóc, với hai dòng lệ chan hòa,
nhưng chị đã bắt tay vào dọn dẹp. Lời của tôi đã có tác dụng, mọi người thở
phào, không khí vui trở lại.
Chị Dung hôm sau về cùng xe tải nên chiều đó tôi về sớm. Ngày ấy bụng
mang dạ chửa đến ngày sinh vẫn làm việc, vẫn đạp xe đạp, và xe lại chằng
buộc cồng kềnh bao nhiêu thứ là việc bình thường, chúng tôi tự biết phải cố
gắng như thế nào, vì trong bản năng của chúng tôi luôn có cái “gan” cái “lì”
của phụ nữ thời chinh chiến: không ỷ lại, không yếu đuối, không biếng nhác…
Đường đầy ổ gà, ổ voi, mà xe tôi vẫn bon bon. Trên đường bao người
cũng lũ lượt trở về Hà Nội, sau nhiều ngày dắt díu, bồng bế nhau đi sơ tán.
Nắng gắt, mặc, mỗi lần xe ô tô qua khói bụi mịt mù, mặc, bởi lòng tôi chỉ thấy
nao nức với niềm vui khôn tả - Hòa bình rồi, hết chiến tranh rồi, con tôi không
phải chui hầm khốn khổ nữa! Và chồng tôi sẽ trở về.
Đang lâng lâng, thì bỗng xẹt xẹt xẹt… Tay lái tôi loạng choạng, cái va li
tụt nghiêng, xe mất thăng bằng và tôi lăn xuống đất. Mấy người đi đường xúm
lại đỡ tôi lên, chằng buộc đồ đạc lại cho tôi và nhìn tôi ái ngại. Tôi cười vui vẻ:
“Chúng em” không sao đâu ạ! Em cám ơn ạ! và lại leo lên xe đi tiếp, tất nhiêu
tôi cũng thấy hơi lo.
Quả nhiên về nhà được hơn một tiếng thì tôi thấy lâm râm đau bụng, mới
đầu ít, sau cơn đến mau dần và đau nhiều hơn. Tôi vội tắm nhanh và mang tã
lót lên bệnh viện gấp. Nhà tôi cách bệnh viện hơn nửa cây số nên đi bộ được:
Tôi đi một mình vì cả khu tập thể còn ở nơi sơ tán.
Tối đó tôi không nằm, không ngồi được với những cơn co thúc, bụng
đau không sao chịu nổi. Xung quanh các chị đi đẻ đều có mẹ có chị em gái đỡ
nâng, còn tôi… Nghĩ đến chồng! Nước mắt tôi dàn dụa! Bao ngày cách xa, thì
hôm nay tôi thấy thiếu vắng anh rõ nhất. Sự cô đơn làm tôi yếu mềm đi. Tôi
mệt và khát quá… Chao ôi! Tôi đã thấm câu “đau như đau đẻ” ra sao. Mặc dù
tôi cố nghĩ đến niềm vui chiến thắng, cho quên đỡ đi mà vẫn đau quá! Mồ hôi
hòa nước mắt đầm đìa.
Đến đêm tôi mệt lắm! Những ngày qua chúng tôi ăn uống kham khổ quá,
buổi trưa được hai bát cơm vơi vơi, chiều hai nắm bột mì luộc và một bát con
canh rau muống. Nếu một thân thì cũng còn tạm ổn, đằng này có em bé ở trong
bụng thì thiếu chất quá. Tôi không thể nương tựa vào ai, lương còn để sắm đồ
cho ngày sinh con. nên tôi gầy guộc lắm.
10 giờ đêm, gần cạn hết sức lực thì cũng là lúc tôi nhẹ bỗng người, tiếng
oa oa kèm theo tiếng reo của cô hộ lý. “Con trai rồi! Thằng bé xinh quá!”...
Làm tôi tỉnh lại. Chao ôi! Rã rời!
Khi chị đặt nó vào vòng tay tôi, tôi sung sướng đến nghẹn ngào! Ôm
chặt lấy thằng bé với niềm vui vô bờ của người lần đầu tiên được làm mẹ.
Cả đêm tôi thao thức ngắm nhìn con, lòng thầm cám ơn tạo hóa, đã cho
nó được thừa hưởng những nét đẹp như tạc của cha nó - đó là vầng trán thông
minh, đôi mắt đen, cái mũi cao và đôi môi đầy đặn nghiêm nghị - Bây giờ
những nét ấy còn không hay là… cả đêm tôi ngắm con và lo lắng về chồng
không sao ngủ được.
Mới 5 giờ sáng, tôi bỗng giật mình ôm chặt con, một tràng pháo nổ
ngoài phố, rồi pháo nữa, pháo nữa… cứ tạch tạch đùng khắp nơi. Những đám
mây đen mang mùi diêm sinh tràn vào khu bệnh viện, tất cả mọi người nhổm
cả lên: Ngoài kia, cả rừng người ùn ùn đổ ra đường. Họ hò reo! Nào băng rôn,
biểu ngữ, cờ đỏ sao vàng rợp trời, và trong âm thanh náo nhiệt ấy bỗng vang
lên khúc hát: - Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng!...
Ôi! Nhạc sỹ nào sáng tác mà nhanh đến thế! giai điệu bài hát hào hùng,
lời ca đầy ý nghĩa xúc động lòng người. Đang vang xa và lan truyền trong đoàn
người trùng trùng, điệp điệp, đang ào ào tràn ra quảng trường lớn của thị xã…
Không khí ngùn ngụt ấy như lốc cuốn ào vào phòng, làm con tim đang
yếu ớt của tôi - cảm nhận niềm vui thiêng liêng quá mạnh - Khiến tôi run lên
và toàn thân nổi da gà… lát sau bình tĩnh lại, tôi ôm con ra ban công và chồm
hẳn ra ngoài lan can, để nhìn rõ hơn, để nghe rõ hơn và sung sướng hoà niềm
vui nho nhỏ của tôi, vào niềm vui lớn lao của dân tộc. Hạnh phúc vậy, mà sao
nước mắt tôi cứ chan hòa!
***
Cho đến nay 40 năm đã đi qua, con tôi hằng ngày đi trên những đại lộ
thênh thang, bên bao dãy nhà cao chọc trời, và cháu tôi được học trong những
khu trường khang trang, cùng nhiều tiện nghi đầy đủ.
Tôi và chị Dung ở chung một nhà (chúng tôi đã là thông gia với nhau).
Còn chồng chúng tôi không bao giờ trở về!!! Các anh không được thấy con của
mình. Chúng thật đẹp, học rất giỏi và đã thành đạt. Hai đứa thương mẹ lắm.
Chúng thường lặng lẽ khi hai bà ru cháu ngủ, nhâm nhẩm ngâm bài “đợi anh
về” của Ximônốp!
Chúng tôi thường bảo các con: Để có ngày nay, dân tộc ta đã trải qua
bao cuộc trường chinh đẫm máu. Các con phải nhớ công ơn đó mà học tập, rèn
luyện đạo đức cho tốt.
Bốn mươi năm cùng thương đau đã trôi qua, nhưng cứ đến ngày 30/4 thì
dư âm của chiến tranh và ngày hòa bình đầu tiên, vẫn vẹn nguyên và đậm nét
trong tôi!
Sài gòn, ngày 30 tháng 05 năm 1975
Tác giả
LÊ TUYẾT

Người gửi / điện thoại