望雄王故都
寧遜
極目青青草樹幽,
柁師說是古之都。
封彊恢拓從開闢,
城郭依稀在有無。
為德想應賢舜禹,
傳年是以倍殷周。
客來欲問當時事,
勝跡惟餘一上遊。
Phiên âm Hán – Việt:
Vọng Hùng Vương cố đô
Ninh Tốn
Cực mục thanh thanh thảo thụ u,
Đà sư thuyết thị cổ chi đô.
Phong cương khôi thác thung khai tịch,
Thành quách y hy tại hữu vô.
Vy đức tưởng ưng hiền thuấn vũ,
Truyện niên thị dĩ bội ân chu.
Khách lai dục vấn đương thì sự,
Thắng tích duy dư nhất thượng du.
Dịch nghĩa
NGÓNG TRÔNG CỐ ĐÔ CỦA VUA HÙNG
Trong xa tắp nơi cây cỏ xanh um
Bác lái đò nói: đó là kinh đô ngày xưa
Bờ cõi mở mang từ lúc khai thiên lập địa
Thành quách mờ mịt không biết ở chốn nào
Vua Hùng có đức tướng hơn cả vua Thuấn vua Vũ
Truyền đời cho con cháu gấp bội nhà Ân nhà Chu
Khách đến thăm muốn hỏi công việc lúc bấy giờ
Nhưng thắng tích thì còn một vùng gò núi
Ninh Tốn 寧遜 (1743-?) tự là Khiêm Như, Hy Chi, hiệu là Mẫn Hiên, là đại thần thời Lê Trịnh và Tây Sơn, quê ở xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Trước khi đỗ Tiến sĩ, ông đã được tuyển dụng làm quan, giữ chức Hiệu thảo thiêm sai Công phiên. Năm 34 tuổi, ông đỗ Tiến sĩ (1778), lần lượt được cử các chức: Tri bình phiên Phụng tá quân hải lộ, Tri bình phiên kiêm toản tu Quốc sử, Quốc luật, Hiệp trấn đạo Thuận Quảng, Tham tri chính sự kiêm Bồi tụng, Tham tán quân vụ. Năm 1788, theo Tây Sơn, được vua Quang Trung phong Hàn lâm trực học sĩ, giúp Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở điều khiển mọi công việc ở Bắc Thành. Năm 1790, được thăng chức Thượng thư bộ binh, tước Trường nguyên bá.
Tác phẩm có Tây hộ mạn hứng, Chuyết Sơn thi tập gồm hơn 300 bài thơ chữ Hán, sáng tác ở nhiều giai đoạn khác nhau, do con cháu sưu tập. Đặc biệt có chùm thơ 30 bài nói về phụ nữ (Tặng tài nữ, Ký tài nữ Thuỵ Liên, Mã thượng mỹ nhân,...) Điều đó ít thấy trong thơ chữ Hán đương thời.
Tài liệu tham khảo:
Tổng tập văn học Việt Nam (tập 07), NXB Khoa học xã hội, 2000