Vòm trời kia có thể sẽ không em
Không biển nữa. Chỉ mình anh với cỏ
Cho dù thế thì anh vẫn nhớ
Biển một bên và em một bên...
(Trần Đăng Khoa)
LỜI BÌNH NGUYỄN THỊ BÌNH
Tôi yêu bài thơ này từ khi nghe ca khúc “Chút thơ tình người lính biển”, được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc từ bài thơ “Thơ tình người lính biển” của Trần Đăng Khoa. Mà không chỉ riêng tôi, rất nhiều người yêu thích bài hát này. Bởi nội dung bài hát được chuyển tải bằng giai điệu ngọt ngào, du dương, sâu lắng, ngân nga hút hồn người…Điệp khúc “Biển một bên và em một bên” như chạm khắc vào trái tim mọi người, để rồi tỏa lan mãi mãi…
Đọc bài “Thơ tình người lính biển”, tôi càng bị hấp dẫn và yêu hơn, bởi lời thơ giản dị, mộc mạc, chứa chan cảm xúc, mà khát quát được tình yêu biển, yêu đất nước, hài hòa trong tình yêu lứa đôi. Tất cả cứ nhẹ nhàng, sâu lắng, không có có chút gì hô hào, lên gân. Mà trái lại, rất tự nhiên gần gũi, như cuộc sống vốn dĩ là như vậy.
Đúng là âm nhạc đã chắp cánh cho thơ, mà thơ cũng là linh hồn của nhạc. “Thơ tình người lính biển” được Trần Đăng Khoa sáng tác năm 1981, in trong tập “Bên cửa sổ máy bay”(1985). Bài thơ viết về cuộc chia tay đầy lưu luyến, lãng mạn của người chiến sĩ hải quân, khi ra khơi làm nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Trần Đăng Khoa cũng không phải là nhà thơ đầu tiên viết về cuộc chia tay. Trước đó, Nguyễn Đình Thi có“Chia tay trong đêm Hà Nội”; Nguyễn Mỹ có“Cuộc chia ly màu đỏ”; Phan Thị Thanh Nhàn với “Hương thầm”…đều viết về những cuộc chia tay xúc động, lưu luyến, giữa người ra đi bảo vệ Tổ quốc, và người ở lại hậu phương. Nhưng cuộc chia tay của người chiến sĩ hải quân trong “Thơ tình người lính biển” của Trần Đăng Khoa vẫn mang một sắc diện riêng khó lẫn. Đó là tình yêu biển đảo và tình yêu lứa đôi không hề tách biệt, mà luôn hòa quyện trong tình yêu đất nước quê hương.
Câu thơ mở đầu:“Anh ra khơi” thật nhẹ nhàng, êm ái trong khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ:“Mây treo ngang trời những cánh buồm trắng… Tàu anh buông neo dưới chùm sao xa lắc/ Thăm thẳm nước trời, nhưng anh không cô độc…”. Nổi bật giữa thiên nhiên đất bao la, là hình ảnh sóng đôi: anh và em dạo bước trên bến cảng…Thú vị là biển và em cùng lúc xuất hiện, vừa là sự đối sánh, vừa là sự cân bằng, động viên, nâng bước anh trên hành trình giữ biển: Điệp câu “Biển một bên và em một bên”, lặp lại đều đặn cuối mỗi khổ thơ, vừa như khúc nhạc ngân nga, như tiếng sóng dịu êm vỗ mạn tàu; vừa là điểm nhấn khẳng định tình yêu hòa quyện riêng chung của người lính biển. Dù gặp cảnh huống nào, trong tâm khảm người lính “Biển và em” luôn khăng khít, bổ sung cho nhau, tiếp thêm động lực cho các anh vững chắc tay súng, giữ bình yên cho Tổ quốc. Trong cảm nhận của Anh, biển và em là hai thái cực:“Biển ồn ào, em lại dịu êm”, nhưng với người chiến sĩ hải quân, thì đó là sự hòa quyện tuyệt vời. Bởi cả hai đều là tình yêu, là mục đích phải bảo vệ. Hình ảnh so sánh “Anh như con tàu lắng sóng từ hai phía” làm nổi bật sự vững vàng kiên định của người lính. Câu thơ“Thăm thẳm nước trời, nhưng anh không cô độc”,khẳng định lòng tự tin của người lính, bởi trong anh:“Biển một bên và em một bên”. Tình yêu biển và em, luôn thủy chung, son sắt trong trái tim người lính đảo...
Trong bất cứ hoàn cảnh nào, người chiến sĩ Hải quân luôn ý thức sâu sắc về nhiệm vụ và trọng trách của mình với Tổ quốc. Bởi “Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên/ Bão thổi chưa ngừng trong những vành tang trắng/ Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng”. Biên cương và hải đảo luôn bị kẻ thù rình rập, bao người đã ngã xuống cho bình yên của Tổ quốc. Câu thơ “Anh đứng gác. Trời khuya. Đảo vắng” được ngắt thành 3 câu trên một dòng thơ, giúp ta hiểu nhiệm vụ, thời gian, hoàn cảnh của người lính đảo, qua đó giúp người đọc hình dung những vất vả gian lao, nhưng cũng rất tự hào của người lính biển.
Trong việc giữ gìn, bảo vệ Tổ quốc, điều gì cũng có thể xảy đến, người lính hiểu rất rõ: “Vòm trời kia có thể sẽ không em/ Không biển nữa. Chỉ mình anh với cỏ”…Nhưng, cho dù phải đối mặt với cái điều xấu nhất ấy: “thì anh vẫn nhớ/ Biển một bên và em một bên...” Tình yêu biển và yêu em vẫn kiên định, nhất quán, trước sau như một, thậm chí cái chết cũng không thể chia lìa. Như vậy, cùng với tình yêu nước, tình yêu lứa đôi của người lính luôn là nguồn động lực mạnh mẽ, giúp các anh vượt qua mọi gian khổ khó khăn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm.
Bài “Thơ tình người lính biển” của Trần Đăng Khoa là một bài thơ hay, rất ám ảnh và có sức lan tỏa. Bằng ngôn từ giản dị, sâu sắc, thi ảnh độc đáo, gợi cảm, nhịp điệu linh hoạt, cùng với các biện pháp tu từ (so sánh, ẩn dụ, điệp câu), bài thơ đã lôi cuốn, thức tỉnh bao thế hệ độc giả về trách nhiệm công dân và tình yêu Tổ quốc. Có thể nói, bài thơ là biểu tượng đẹp của tình yêu đất nước và tình yêu lứa đôi, thủy chung, sắt son, bền chặt. Đó là động lực để người lính chắc tay súng bảo vệ sự bình yên của đất nước.