
NHỮNG TRIẾT GIA
Alois Jirásek
Chiến lũy cũ của một khẩu đội pháo dã chiến gần khu rừng nhỏ, giờ đây đã lún sâu một nửa và bị bụi rậm bao phủ, vẫn đứng trơ trọi giữa cánh đồng cô quạnh suốt một trăm năm qua.
Nó là dấu tích duy nhất còn sót lại của cả một hệ thống công sự và lũy đất từng kéo dài xuyên qua đồng bằng, nơi vô số đại bác quân Phổ từng chĩa vào quân đội Hoàng đế đang cố thủ trong chiến hào.
Giờ đây, chiến lũy ấy giống như một ngôi mộ cổ, nơi những người chăn gia súc thường nhóm lửa sưởi ấm vào những buổi sáng sương mù hay những chiều đông giá lạnh, rồi từ đó cất tiếng gọi vang vào cõi xa xăm.
Vào năm 1778, trong cuộc chiến tranh giành quyền kế vị Bavaria, toàn bộ vùng đất dọc sông Metuje và thượng nguồn sông Elbe — nơi hai đạo quân đóng giữ — trông chẳng khác nào một tổ kiến khổng lồ.
Đứng đầu quân đội Phổ là Friedrich; đối đầu với ông là Joseph. Cả hai đều được xem là những nhà hiền triết.
Một màn sương dày phủ kín vùng quê như mặt hồ sâu thẳm. Buổi sớm tĩnh lặng đến mức tưởng như quanh đó chẳng hề có một người lính nào.
Không nơi nào tiếng chuông được phép vang lên; thay vào đó là giọng một người đàn ông đang hát bài thánh ca cổ:
— “Bất cứ ai dưới sự chở che của Đấng Tối Cao—”
Václav Suk, người lính thuộc trung đoàn Hoàng đế dưới quyền Hiller, đang đứng gác tận tuyến tiền tiêu bên mép thung lũng cỏ, đã nghe thấy bài hát ấy.
Bụi cây rậm rạp che khuất nửa thân người anh. Vì trời lạnh, anh kéo chặt chiếc áo choàng xám lên tận vành mũ ba góc, đến cả bím tóc buộc sau gáy cũng không lộ ra ngoài.
Rồi bài hát lại vang lên — như thể ngay phía đối diện anh! Chẳng lẽ quân địch đã ở gần đến thế sao?
Suk vốn thích những bài hát phong trần cùng đồng đội bên đống lửa hay trước quầy hàng của một cô gái theo đoàn quân, nhưng lần này bài thánh ca kia lại khiến lòng anh rung động lạ thường.
Bà ngoại anh thường hát bài ấy khi đi từ phòng khách sang phòng ngủ, từ buồng riêng lên gác mái, tiếng dép lê lạch bạch đánh thức cả nhà.
Suk cũng bắt đầu hát theo. Giọng hát phía bên kia im bặt một lúc rồi lại cất lên, và bài ca cũ trôi xa dần theo màn sương đang tan.
Tuy nhiên, Václav không thể chịu đựng lâu hơn. Sự tò mò đã thắng thế. Người lạ phía bên kia hố sâu vẫn hát tiếp như một ca sĩ chuyên nghiệp, dường như muốn hát trọn mọi khổ thơ đúng như cách bà của Suk vẫn thường làm.
— Này, người anh em bên kia, anh có phải lính không?
Đó là cách Suk bắt đầu câu chuyện, và anh không phải nói vào khoảng không vô vọng. Anh biết mình đang trò chuyện với một người lính thuộc toán quân tiên phong Phổ.
— Thế sao anh là người Brandenburg mà lại nói được tiếng Tiệp?
— Tôi là người Tiệp ở Kladsko, vùng biên giới Bohemia. Theo ý Chúa, tôi đã phục vụ trong quân đội sang năm thứ hai rồi.
“Anh ta hẳn là một người ngoan đạo,” Suk thầm nghĩ. “Chắc chắn thuộc giáo phái Helvetian.” Và anh nói thẳng điều ấy ra.
Người lính Phổ xác nhận.
— Anh tên gì?
— Jan Koláčný.
— Và chúng ta cứ đứng đây chuyện trò thế này… các quan trên mà biết thì sẽ nói sao đây?
— Sao nào? Chúng ta có làm điều gì xấu đâu?
— Phải rồi. Dù sao chúng ta cũng là đồng bào, đều là người Séc cả. Biết bao giờ mới lại có dịp gặp nhau thế này?
Câu chuyện chùng hẳn xuống. Qua màn sương đang nhạt dần, Suk thấy bóng người lính Phổ với chiếc mũ nhọn tựa mũ giám mục.
Anh đứng cạnh một cây dẻ gai cổ thụ sum suê. Một lúc sau, Suk lên tiếng:
— Hôm nay lạnh thật—
— Lạnh quá đi chứ. Lại đây sưởi ấm đi.
Koláčný nói chân thành như thể đang đứng nơi ngưỡng cửa căn nhà miền núi phủ tuyết của mình.
— Ở đâu cơ?
— Lại đây với tôi. Tôi còn cả một chai đầy đây.
Suk khựng lại. Nỗi nghi ngờ trỗi dậy. Biết đâu đó chỉ là một mánh khóe nhằm dụ anh rời bỏ vị trí canh gác đã được giao!
Koláčný hiểu ý.
— Đừng sợ, bạn tôi ơi! Tôi làm sao có thể hại anh được? Chúng ta hãy hạ vũ khí xuống và mỗi bên bước tới một đoạn.
Giọng nói ấy không hề mang vẻ dối trá. Suk thấy Koláčný dựng khẩu súng vào thân cây rồi bước tới.
Hai người lính gặp nhau giữa quãng đường. Gã người Phổ — kẻ thù của người Tiệp — chìa tay ra với sự chân thành không chút giấu giếm.
— Cứ lại đây, đừng sợ. Anh và tôi nào có làm gì sai trái với nhau. Chúng ta là anh em cùng dòng máu. Những chuyện mà các bậc quân vương của những vùng đất này gây ra cho nhau thì có liên can gì đến chúng ta?
Hậu duệ của những người Bohemian lưu vong, tín đồ Helvetian yêu Kinh Thánh ấy đã nói như vậy. Và chàng trai hoạt bát từ quê nhà hiểu anh.
Khi hai người ấy cùng suy ngẫm, hẳn trước họ đã có biết bao người từng trăn trở như thế; và chắc chắn rồi đây cũng sẽ còn nhiều người khác tự hỏi: liệu các vị vua có phải là những nhà hiền triết, hay như Plato từng mơ ước — những nhà hiền triết sẽ trở thành vua?
“Và câu chuyện kết thúc ở đó,” ông giáo già — người kể lại chuyện này cho tôi — nói thêm, đồng thời chỉ tay về phía những công sự đất đổ nát nơi chúng tôi đang dừng chân nghỉ ngơi.
“Hai ‘nhà triết học’ ấy đã quá mải mê chuyện trò nên bị bắt gặp. Ngay tại nơi này, vua Phổ từng ngồi đóng đại bản doanh, và Koláčný đã bị giải tới đây để xét xử.
Anh ta khai hết mọi chuyện, và chỉ ít lâu sau người ta đã xử bắn anh ở phía sau chiến lũy kia.
Người còn lại quả có thoát khỏi làn đạn chiến trường. Nhưng anh ta phải chịu trận đòn roi đẫm máu, còn những năm tháng trừng phạt sau đó kết thúc nơi đâu thì chỉ có Chúa biết.
Đấy, anh thấy đó — một đội quân mà biết triết lý và suy ngẫm thì còn làm nên trò trống gì nữa?
Tiểu sử:
Alois Jirásek (1851–1930) là nhà văn, nhà viết kịch và nhà hoạt động văn hóa nổi tiếng của Czech Republic (khi ấy thuộc Vương quốc Bohemia trong Đế quốc Áo–Hung). Ông được xem là một trong những cây bút lịch sử quan trọng nhất của văn học Séc. Truyện NHỮNG TRIẾT GIA được dịch từ phiên bản tiếng Anh của Šárka B. Hrbková trong Truyện ngắn Tiệp Khắc in năm 1920 tại New York, Mỹ.
Phiên bản tiếng Anh
THE PHILOSOPHERS
BY ALOIS JIRÁSEK

Người gửi / điện thoại