bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
PHẢN HỒI MỚI

VŨ NHO 085 589 0003

CÁM ƠN BÁC ĐỖ CHIÊU ĐỨC!XƯA NAY BẠN ĐỌC CHỈ BIẾT PHỔ BIẾN THI TIÊN, THI THÁNH, THI PHẬT. NAY THÊM 12 DANH HIỆU NỮA! QUẢ THẬT CÁC BÁC TRUNG QUỐC THÍCH ĐẶT DANH HIỆU!TBT VŨ NHO

 

VŨ NHO 085 589 0003

RÁT THÚ VỊ!CÁM ƠN NHÀ VĂN HOÀNG QUỐC HẢI VÀ TS NGUYỄN XUÂN DIỆN ĐÃ GIỚI THIỆU! TBT VŨ NHO

 

VŨ NHO 085 589 0003

CÁM ƠN TÁC GIẢ BÀI VIẾT!TÔI ĐƯỢC BIẾT ANH THÁI BÁ TÂN HỌC TIẾNG ANH Ở NGA VÀ LÀ NGƯỜI CỰC GIỎI CẢ HAI THỨ TIẾNG NÀY!ANH BÁ TÂN ĐÃ DỊCH, VIẾT, XUẤT BẢN HƠN 100 ĐẦU SÁCH!

 

VŨ NHO 085 589 0003

Bài thơ này trên mạng. Nhan đề "LỜI MỜI" do chúng tôi đặt!

 

vũ nho 085 589 0003

CÁM ƠN NHÀ THƠ QUANG HUỆ ĐÃ BỀN BỈ CỘNG TÁC! CHÚC NHÀ THƠ NĂM MỚI MẠNH KHỎE, VUI VẺ, BÌNH AN!

 

Nhaf thow Quang Hueej

Cams own TS Vux Nho. Anhr minh hoaj raats ddepj.

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 39
Trong ngày: 251
Trong tuần: 1514
Lượt truy cập: 1429699

TẢN VĂN của NGUYỄN THAM THIỆN KẾ

UỐNG RƯỢU Ở CỔ THÀNH MONSARAZ
Du ký
(Kỳ II : Monsaraz)
7. Với Lisboa, mình gìn giữ sự háo hức để quan sát, đối chứng với thủ đô các nước châu Âu khác. Cascais cho sự ngẫu hứng tình yêu của con người ý nghĩa hơn khi được đặt trong khung cảnh thiên nhiên tương xứng. Đến Evora ta thấy riêng hình ảnh Bồ Đào Nha cá tính và cũng mang thuộc tính chung như bao nhiêu thị thành tỉnh lẻ.
Bác tài Lisboa cười mỉm: Cẩn thận với ma trận taxi Evora nhé. Vậy mà mình vẫn ngỡ ngàng. Cước taxi Evora gấp đôi Lisboa. Taxi không chạy rông hay nằm chờ nghêu ngao. Cần thì phải ghé siêu thị, quán ăn tiệm café mới có thể gọi taxi. Đồng hồ tính cước ở đây cũng nhảy nhanh hơn Lisboa. Gã taxi Mercedes đưa chúng mình từ Evora về Gouvernador hay tay chủ quán khi trả lại tiền thừa đều khều khợt gãi đầu như đang lên cơn ngứa. Hoặc ông chủ bán hàng lưu niệm những sản phẩm từ vỏ cây sồi bần dưới chân đền thờ La Mã thì vác tờ 50 euros chạy cả dãy phố đổi tiền lẻ. Rồi tiền lẻ lại tìm thấy ngay trong ngăn kéo quầy hàng. Những tủn mủn gây khó chịu mình đâu đụng ở Lisboa. Nhỉ? Không phải không có lý, khi mỗi nước chỉ một thủ đô kèm theo vô số tỉnh lẻ. Thủ đô không hẳn toàn người tử tế, nhưng ở đó nó quy chiếu chung cho sự sòng phẳng và lịch sự…
Chẳng biết vì khó khăn hay thuộc tính khôn vặt chi phối các mối giao tiếp xã hội đã tạo nên một phần các giá trị tỉnh lẻ. Hễ khách lạ sang trọng thì càng bắt nạt hét giá. Phải chăng họ thường trực phân khúc tâm lý rằng người giàu vài đồng lẻ thì đáng là bao. Ngoại trừ đôi điều ngứa ngáy cỏn con đó thì Evora vẫn là thành phố đáng sống nhất sau Lisboa của Portugal – theo như bình chọn của một tạp chí kinh tế cửa xứ sở sồi bần.
Ở Evora ta mò mẫm phố ngang, ngõ dọc, lên dốc, xuống dốc của tòa thành cổ nguyên vẹn tường bảo vệ. Phi pho. Chân mỏi, mắt căng xót mồ hôi. Đường phố hẹp như chiến hào. Hai mặt phố đối nhau qua con đường đá nhám củ đậu. Những căn nhà chật hẹp như lều vịt, cánh cửa sơn xanh, ra vào chủ nhân khom lưng suốt cả ngàn năm không hề thay đổi. Quán ăn VIP đến quán ăn vỉa hè, đâu cũng chỉ có vài món chung chung. Mình đã chén tới năm con sardines, mỗi suất còn thêm vô số khoai tây nướng nữa. Mình đã mạo hái đôi ba trái cam quýt mọc trên phố để Chị nếm thử mà không hề cảm thấy tội lỗi. Bỏ cam rụng thối còn có tội hơn. Lãng phí thức ăn, Chúa cũng ghét. Có những biệt thự cửa đóng then cài, vườn cam quýt chín trĩu trịt vây quanh trữ lượng vài ba tấn quả mà người ta cũng bỏ mứa mặc cho rụng cho rơi…
Hôm mới đến Casa Da Gouvernador, Anabella lái xe đưa chúng ta ra trung tâm Evora tìm tiệm ăn, ta đã không khỏi xuýt xoa tiếc những trái cam rơi rụng.
– Sao người ta không thu hái nhỉ? Để rụng rơi quá phí…
– Có phải của mình đâu mà dùng.
– Của ai vậy?
– Thành phố…
– Thành phố không sử dụng thì mình nhặt chứ sao…
– Ra chợ mua ăn ngon hơn.
Mải chụp ảnh hoa vườn biệt thự cổ, bị chó bull phộc ra hù, chúng ta lôi nhau chạy thì đụng phải soeur bán kẹo nuga dưới bóng cây quả đấu. Thôi thì mua mươi euros để khỏi nghe soeur càu nhàu. Ta bâng khuâng trước đền thờ Diana nghiêng vài cột đá. Có lẽ thời gian tồn tại của ta trên trái đất chỉ bằng một dấu mưa mòn mờ trên cột đá rêu phong. Hòa mình vào các quảng trường ngất nghểu vòi nước phun là lố nhố kẻ nhàn du. Ta là một phần thế giới và cũng chợt nhận ra rằng mình lạc lõng, thừa ra với đám đông. Muốn biết họ, nhưng lại không thích họ biết mình. Ta không dám nhìn vào mắt những kẻ bán hàng rong, không ít lần quay mặt trước bàn tay chìa ra của người ăn xin.
Quỳ gối làm dấu thánh trước cung thánh lộng chói vàng thiếp, gỗ quý cẩn ngà voi đến cung thánh sơ sài cây thánh giá gỗ đen xỉn thì lòng thống hối của ta vẫn tươi nguyên đâu có khác. Và nhà thờ Capela da Ossos – cất giữ năm ngàn hài cốt cư dân Evora thế kỷ XVI gửi thông điệp gì đây cho sự sống và sự chết của thế kỷ XXI? Xương cốt con chiên dựng nên cung thánh và xà cột tường ngăn chập chờn ánh nến âm u tỏa mùi chết chóc, nhưng chúng mình không cảm thấy lạnh lẽo. Chúa ở trong sự sống và cả trong sự chết.
Cổng thành Monsaraz buổi chiều chặng cuối hành trình Portugal, mình ngồi bên nhau trên núi cao ngắm lá rừng olive lật mình sáng bạc. Lá sồi bần chuyển sắc xanh sắc nâu. Cừu đàn như cuộn len lồng phồng di động. Tít tắp gốc nho nâu đen sắp hàng, chạy luống song song. Đột ngột trảng trống dội hoa vàng hoa tím dại. Sườn đồi uốn nghiêng cong sắc cỏ.
Cũng những lùm cây lúp xúp, những đàn cừu, những vạt đồi cát xói lở, đỏ khé gợi vùng Ninh Thuận. Khác chăng là những thửa ruộng vừa mới uốn mình trở dậy dưới lưỡi cày nở phồng như bột bánh. Những dải đường mềm lụa xe ngược, xe xuôi. Những mảnh vỡ nước hồ của con sông Guadiana cận biên Tây Ban Nha ánh ngọc bích loang sắc xanh lên trời bích ngọc. Mảnh trăng thượng huyền mòn gầy như chiếc liềm cùn mắc mấy sợi mây hồng phấn.
Những bức tường trắng giảm bức xạ nhiệt ban ngày, dấu ấn kiến trúc Hồi giáo của ngươi Moor từng thống trị nơi này và những mái ngói đỏ – sản phẩm của người La Mã thì lại giúp hấp thụ nhiệt ban đêm. Không hiếm hình ảnh cây thánh sắt giá ngự trên mái vòm củ hành… Hai phong cách kiến trúc không phong cách nào lấn át, làm chủ được tòa thành.
Dù Monsaraz được mệnh danh là thành phố trắng, nhưng thực chất bao quanh những ngôi nhà tường trắng là trường thành đá đen. Phải chăng máu người Moor, người Bồ, người La Mã từng thấm quyện tạo nên cái màu nâu đen đặc trưng của đá cổ thành…
Chiến tranh, tranh chấp lãnh thổ, tranh chấp văn hóa, chiếm đóng, tôn giáo chà xát cả nghìn năm mảnh đất này, người Bồ với 95% dân số tín ngưỡng Thiên Chúa giáo vẫn còn dấu vết tín ngưỡng ngây thơ đa thần cổ xưa. Người ốm vẫn cho là bị ma quỷ nhập vào. Vẫn tin khấn con mắt quỷ và các hành động ma thuật đuổi quỷ trừ tà cứu người. Khi có tang, mọi người đưa tang đều mặc áo đen, đặc biệt các bà góa phải mặc áo đen suốt đời…
Monsaraz không xa Olivenca, vùng đất thuộc về Tây Ban Nha từ năm 1801 nhưng tranh chấp với Portugal. Hội nghị Vienna năm 1815, Tây Ban Nha tuyên bố đồng ý trao Olivenca về Portugal. Hơn hai trăm năm, dù Bồ Đào Nha ráo riết yêu cầu Tây Ban Nha thực hiện việc chuyển giao Olivenca nhưng sự việc vẫn nhùng nhằng trì hoãn đến tận bây giờ…
Chuyện tranh chấp lãnh thổ giữa hai quốc gia láng giềng, một bên lớn xác, giàu có, tham vọng bành trướng, với một bên nhỏ bé, kiêu hãnh chưa bao giờ là câu chuyện lạ của thế giới từ cổ đại đến đương đại. Chân lý thực sự chỉ đứng về nước nhỏ một khi bản thân họ phải dám trả giá và biết vận dụng trí tuệ sức mạnh liên kết toàn dân tộc. Bởi nước nhỏ không đồng nghĩa là nước yếu hèn…
8. Quán rượu Templaris nửa hướng phố chính mái ngói ống thấp tè, nửa sàn gỗ đặt dầm khung sắt. Tường kính vươn chênh vênh lấn vỉa tường thành. Trần trệt thoải theo sườn dốc. Khoảng sân đá hẫng xuống, một cánh cửa trổ thông ra hào bảo vệ, đáy đủ rộng để di chuyển binh lính thiết cụ, lương thảo và lúc bình thường giữ vai trò con đường di chuyển vòng quanh thành.
Giữa nham nhở đá, trồi lên cây cam, quầng lá mỡ như vừa gội dầu olive. Lóa những chấm lửa cam chín, uốn cong cành, đã kịp bung từng chùm hoa trắng ngần nơi kẽ lá. Trái cam chín to như trái bưởi phủ Đoan, hoa cam tỏa hương quánh đặc giữa tiếng ong bay trong sắc khí buổi chiều hanh lạnh…
Ngược dốc đá vừa đủ hai người tránh nhau, cánh cửa sắt sơn đen, cúi thấp bước xuống ba bậc đá mới lọt vào không gian sáng trắng khăn trải bàn và chai lọ cốc chén. Kiếm, khiên, gia huy, sừng bò gắn mặt tường. Quán vắng phảng ngậy dầu olive lẫn cam tươi.
Hai gã phục vụ bàn đứng tuổi, giống nhau lạ lùng, béo lùn, hồng căng, hói, bụng phệ, nụ cười thắm những thân thiện. Vẫn ánh mắt tự tin và thiếu chút gì tự tin. Thực đơn bọc vỏ sồi bần toàn tiếng Bồ, không tiếng Anh cũng chẳng thèm tiếng Pháp. Chị đề nghị được dùng món đặc trưng Bồ của nhà hàng.
Chàng bồi hình quả bầu nậm, phính hồng, bóng nhẵn, trán như vừa xức dầu, cúi đầu kiên nhẫn, lăm lăm chiếc bút ghi thực đơn. Dường như chàng ta sẵn sàng đứng đó cả trăm năm chỉ để chờ khách đặt vài ba món. Rời thực đơn, Chị cười nhắc lại yêu cầu trước đó.
Chàng bồi trẻ nghiêng đầu duyên cười xướng to chai Porto Ferreira và hai món gì đó líu lo dài dòng. Ta được ưu ái với ly rượu mang ra tức thì. Kinh tế Bồ suy giảm, nhưng ly vang nhà hàng rót trên Monsaraz nổi tiếng đắt đỏ dung tích vẫn gấp rưỡi Paris hoa lệ. Ly vang chát trong thùng gỗ tuyệt vời của nhà hàng quen trang trại Gouvernador ở Evora cũng rung rinh tràn mép ly. Ta thấy: Không nổi tiếng rượu vang như Pháp, nhưng người Bồ hào phóng rượu hơn là người Pháp.
Chờ dài cổ chẳng thấy món, ngoảnh đi, ngó lại khách từ cửa chính lèn cứng gian phòng. Gã bồi chạy tới chạy lui đón. Đoàn khách người Anh. Cậm kịch những ông những bà khập khễnh chống can, dìu nhau, áo khoác, áo len choàng vai vắt cổ… lặng lẽ kiếm chỗ.
Không vô cớ dân đảo quốc sương mù lũ lượt du lịch Bồ Đào Nha. Hiệp ước liên minh Anh – Bồ ký kết năm 1373 hiện vẫn giữ thời hiệu. Một liên minh lâu đời nhất thế giới. Trong lịch sử, cả hai nước cùng tham chiến bảo vệ lẫn nhau trong chiến trận bán đảo Iberia và Đệ Nhất thế chiến. Người Việt chúng ta có thể học người Bồ qua sự kiện tìm kiếm đồng minh và liên minh này chăng?
Chàng bầu nậm rón rén bê món. Suất của Chị, một khúc cá tuyết im lìm trong nước sốt trong rắc hành. Phần của ta, đĩa đất sét nung hỗn hợp cùng cá với tôm, khoai tây nghiền, pho mát nướng nóng phừng phực. Vị Porto sực lên mê dụ. Nhưng không hiểu sao, miệng vẫn cứ nhạt thếch không có trạng thái háo hức muốn cầm dĩa…
Những người Anh sang trọng, uống cạn bình nước lọc vẫn loay hoay chọn món chưa xong.
Chẳng bù bữa trưa ở Monsaraz, tại “tiệm tối giản” hai phòng ăn nhưng chỉ phục vụ được sáu chỗ ngồi, một ngoài trời, một kín như ngách hầm. Cô chủ lầm lì như con hà mã đang chửa ngồi sau quầy. Tự lấy món. Tự thanh toán. Đến bánh mì và bơ cũng phải trả tiền mua thêm. Nước lọc nửa bình. Súp đậu hộp hâm nóng, thịt cừu khô khốc trong đĩa cơm rời rạc như gạo sấy nhúng nước lã. Mọi món như đã ngâm trong nước biển.
Hai mươi euros cho hai suất “tối giản”.
Thức ăn người Bồ hầu như món nào cũng dư muối, Chị nhỉ. Dẫu nghệ thuật ẩm thực Bồ hợp dung khẩu vị các đoàn quân viễn chinh, các đội thuyền buôn mang về từ khắp thế giới, nhưng vẫn không bão hòa được tính khem kiệm của nông dân canh tác trên đất sỏi cằn, tính xẻn so của người thợ xây xa nhà với chiếc làn đồ ăn vợ sắp, tính chắt bóp nâng niu thực phẩm dự trữ của thủy thủ lênh đênh hàng năm giữa đại dương…
Thời gian khó, vợ con thủy thủ Bồ không dám ăn thịt bò, vốn như thức ăn xa xỉ được ngâm trong nước muối dành cho đàn ông đi khám phá đất mới. Trẻ con, đàn bà, người già ở nhà chỉ dám ăn lòng và xương…
Dường như xu hướng vị giác cũng phản ánh tính cách dân tộc. Người Tàu ưa béo, ưa bùi. Người Pháp thích vị, thích hương lạ, ngâm tẩm, chế biến cầu kỳ. Người Việt ưa thanh nhã, trung tính.
Người Bồ ảnh hưởng ẩm thực Địa Trung Hải, nhưng lại muốn thức gì cũng rành rẽ tận cùng. Ngọt thì phải gắt như món bánh Pastéis lừng danh, mặn thì như thịt hun khói, và nước chanh thì không pha đường. Trên bàn ăn người Bồ không thể thiếu chai dầu olive, chai dấm táo. Ai thích béo thì tra thêm dầu, ai muốn nhạt thì nêm dấm táo… Piri Piri – loại ớt cay nhỏ của người Bồ du nhập từ Mễ rồi mang sang phổ biến ở Ấn đổi về hạt tiêu đen để kết hợp với quế, vani và nghệ tây, mùi và mùi tây, tỏi được dùng trong nhiều món. Món dân tộc đặc sắc nhất là cá tuyết Đại Tây Dương (Gadus morhua) có đến 365 cách thức chế biến khác nhau.
Đến Evora, được Anabella giới thiệu nhà hàng ruột, tránh món cá thì gặp món cừu, thịt lợn mặn đắng với khoai tây hầm hành lõng bõng. Cá nồng mùi dầu, thịt ruột nóng như nung.
Ngắm Lisbon và sông Tagus từ trên cao hồi tưởng về những thăng trầm lịch sử, nhưng ta không quên được vị thức ăn Bồ ám ảnh quanh chân râu. A, không hẳn thế, ở Cascais mình được gợi ý gọi món:Arroz de Pato, nguyên liệu gồm thịt vịt, cơm và thịt lợn. Trước khi cho vào lò nướng thì các loại thịt đã được hầm chín mềm. Vừa bặp môi đã tan chảy. Tiếp thêm ngụm vang đỏ. Ôi chao, món Arroz de Pato đã đưa ta tới ngưỡng cảm thức. Ngon rùng mình.
Món Amêijoas à Bulhão Pato gần giống hàu hấp cần tây ở Brussels, nhưng đây là ngao xào với dầu olive, rau mùi, tỏi và vang trắng… Vị hậu, đậm và duyên, ngâm nga chỉ dám ăn chậm chậm, mút mát, sợ cái vị ngon sẽ biến mất vào dạ dày quá nhanh. Ruột ngao thơm ngậy kèm nước sốt chấm với bánh mì giòn, ta đã phải vừa ăn vừa ư hư định hát khiến Chị phải nhướn mắt ra hiệu ý tứ!
Rượu vang Bồ ngay từ thời La Mã đã được liên tưởng với Bacchus, vị thần rượu và lễ hội trong thần thoại La Mã. Ngày nay một vài loại rượu vang của xứ này được xếp vào loại rượu vang ngon trên thế giới, đặc biệt là rượu vang ngọt Porto.
Chàng bầu nậm giơ cao chai rượu cổ dài nút bọc nhôm, tem trắng dòng chữ Monsaraz-premium thiếp vàng. Loại vang cao cấp được sản sinh từ những cánh đồng nho dưới chân tòa thành Monsaraz, trong cuộc thi quốc tế tại Brussels, năm 2008 – một trong những cuộc thi rượu vang biểu tượng nhất châu Âu có 500 loại từ hơn 20 quốc gia trên thế giới. Chai này thì hao tổn khá khá euros đây. Chưa đến Porto mà chúng mình vẫn uống Porto, huống là đang ở Monsaraz mà bỏ qua loại vang mang chính tên Monsaraz thì quá ngố. Cơ hội gần như có một không hai với ta.
Năng lượng sống của một dân tộc phụ thuộc vào năng lực tiêu thụ thức ăn. Sức hấp dẫn của nghệ thuật ẩm thực chính là sức hấp dẫn của một nền văn hóa. Hình như ta đã nhận xét thế khi nhấp ngụm rượu Monsaraz-premium! Ai bảo thức ăn ngon và rượu ngon không làm cho con người thăng hoa trí tưởng sản sinh ra văn hóa nghệ thuật?
9. Casa Pinto – đối diện với nhà thờ chính chạy dọc tòa thành. Khoảng không gian kết hợp sân nhà thờ với mặt đường rộng mươi chiếc sân bóng chuyền được gọi là quảng trường trung tâm. Chiếc Ford Ecosport màu cam chói phiên bản 2015 đậu chếch phía cửa. Chợ ở dưới chân núi. Người ta đang chuyển thực phẩm từ trên xe xuống…
Mặt tiền trắng lóa rộng nửa con phố. Bước qua hai cây olive trồng trong chum sành, đẩy cánh cửa treo túi vải đựng hoa lavender khô vào nhà, hai thái dương bỗng bị ép chặt bởi không gian vuốt dài của nhà ống. Nhưng chỉ một thoáng, không khí dịu ngây hương trầm được làn gió vô hình từ sâu trong căn nhà đối lưu ve vuốt, giải tỏa. Tiếng nước róc rách khoan thủng các bức tường, xuyên qua ký ức niêm phong. Hương hoa cam thương quen quyện hương trầm. Bụi đường, nỗi lo lắng, hồi hộp không đâu nơi xa lạ bỗng biến tan… Nhẹ bẫng…
Với năm phòng, Casa Pinto bố cục lệch tầng như mọi ngôi nhà ở đây để tận dụng công năng do địa mạo thoải dốc. Sảnh đợi phong cách nội thất Ấn. Phù điêu đồng, tranh thần Ganesha lộng lẫy mình người đầu voi. Mỗi phòng dựng một không gian văn hóa đặc trưng của một châu lục. Lối cầu thang dựng ngược, xinh xinh, bậc lót thảm cói, tay vịn gỗ, lan can cài trang trí những gốc, cành olive khô chuốt vỏ, gợi đến những khúc xương động vật phơi trắng sa mạc. Người ta kết ghép những “khúc xương” đó thành thân cây chới với giơ nhánh trong góc phòng khách. Chờn rợn, huyền bí. Phảng phất màu bạo lực, lẫn khiêu gợi. Trần gỗ, xà nguyên thân cây hun khói. Đèn chùm đồng gồm những chiếc đèn hình trái lựu, đính hạt thủy tinh mài, tua lụa đỏ, lóa những chùm tia sáng hồng kiểu sân khấu…
Dường như có một triết gia Ả Rập quấn khăn karo, râu dài đang đợi ta để kể câu chuyện bí mật về thành Monsaraz hoặc ẩn hiện một nàng công chúa che mạng đôi mắt sâu thẳm đang đốt trầm rồi dâng lên cốc nước trà bạc hà đã rắc bột bùa ngải.
Viên quản lý gốc Liban dáng như mẫu nam về già xem danh sách đăng ký và ngạc nhiên thấy chúng mình vác bộ hành lý đến. Xe của Anabella chỉ được phép đến bãi đậu ngoài cổng thành.
– Các vị không có xe ô-tô à? Vậy thì lưu trú ở đây làm gì những hai ngày…
– Không, chúng tôi có xe riêng đưa đến. Nhưng ông có thể hướng dẫn chúng tôi tham quan kia mà…
Viên quản lý khục cười, chỉ ra ngoài phố:
– Không có gì mà phải hướng dẫn! Nhà thờ trước mặt, ngay bên kia đường nhé! Bảo tàng bước qua hai bước phía tay trái! Tháp canh và đấu trường bên phải! Có gì đâu mà phải hướng dẫn. Cứ đi, quanh vài bước lại trở về đây. Ngoài ra có cái view 360 độ nhìn thấy mọi góc hồ nước. Đi vài tiếng là hết. Không có siêu thị chợ búa gì cả! Ở hai ngày mà không có xe thì không biết làm gì cho hết. Buồn đấy.
Bổ ngớ. Không ngờ Monsaraz chon von cô độc trên núi. Buồn thì sao. Buồn người ta vui của mình. Sự lựa chọn cảm tính bởi địa danh Monsaraz, tòa thành đá cổ từ thời La Mã. Đúng, đây là tòa thành La Mã trần trụi, thích hợp với những kẻ máu mê phiêu lưu, không có nghĩa là mình không tương hợp.
Một nhà thờ, hai tháp canh và đấu trường nhỏ, một bảo tàng mười mét vuông trưng bày một chiếc bừa cổ, hai nộm nhân nam nữ và màn hình cảm ứng lật ảnh, vài quán ăn phục vụ khách đến và đi trong ngày. Có sở cảnh sát bệnh viện, nghĩa trang… Mọi con đường như những con ngõ đều lát đá khai thác từ chính quả núi mà thời cổ đại người ta đã dùng xây dựng tòa thành.
Mình ối việc để làm với những ghi chép. Nhưng thời gian cho Bồ đã cận. Vả lại Chị có ý muốn trải nghiệm lộ trình khứ hồi Evora - Lisboa với xe bus tốc hành.
Chị bấm máy định gọi cho Anabella, may sao hai mẹ con họ xuất hiện như cây đèn thần của Aladdin sai khiến. Thì ra cô bé Katia và mẹ cũng lần đầu đến đây. Hào hứng với danh thắng nổi tiếng, hai mẹ con ríu riu giơ điện thoại ghi ảnh. Lạ nhỉ, Monsaraz di sản văn hóa thế giới cách Evora hơn giờ chạy xe, thế mà cả hai mẹ con Anabella chưa đến một lần. Ô, chính ta có thể đến tận Monsaraz nhưng đã hai mươi năm rồi hẹn đến Mỹ Sơn một lần mà chưa thể...
Mình hủy một ngày dự tính ở Monsaraz và sẽ trở lại Casa DA Gouvernador. Anabella ôm chầm lấy vai Chị rạng rỡ. Những ngày ở Casa DA Gouvernador khiến hai người là bạn thân tự lúc nào. Tất tả, Anabella dàn xếp với quản lý Casa Pinto. Họ đàm thoại tiếng Bồ trực tiếp với ông chủ là một người Ấn tận đẩu đâu.Việc êm thuận. Lịch trình rút bớt mà không mất tiền đặt cọc.
Hẹn ngày mai, lúc mặt trời đứng bóng, Anabella sẽ quay lại trên chiếc Fiat con rùa.
Được biết ông chủ Casa Pinto là người Ấn, mình hơi ngạc nhiên. Viên quản lý xoáy chiếc bút lòng vòng vào tờ báo, giảng giải. Giá đầu tư ở Monsaraz quá đắt với người Bồ, không mấy ai đủ sức vươn lên đây. Họ đầu tư dưới thấp an toàn hơn. Khách từ khắp các châu lục. Chủ hàng quán vài mét vuông, hay nhà nghỉ hạng sang như Casa Pinto đều là người Pháp, người Anh, Tây Ban Nha.
Vì thế ở Monsaraz không một ông chủ nào người Hoa. Trong khi thị tứ lèng tèng của châu Âu hay chính đất Bồ chưa kịp ám hơi khách du lịch đã chình ình cửa hàng của họ, bày bán hằm bà lằng từ bông ngoáy tai, thẻ chìa khóa, áo pull in tiếng Anh sai chính tả, mặc vào thì ngứa như con ghẻ cà răng, giày đi nửa ngày thối chân, dép đi hai ngày đứt quai. Và đặc biệt là valise, túi xách, túi đeo rẻ tiền hằng hà sa số kiểu dáng, lỡ tay kéo khóa là rách toạc…
10. Asilah – Căn phòng mang phong cách Hồi giáo. Phòng đối diện, lệch tầng tên Goa – phong cách Ấn. Hành lang và bậc cầu thang trải thảm cói căng đét. Cửa sổ phòng nhìn xuống mênh mông trang trại olive, thuôn thuôn trước mặt hai ống khói hình trứng trắng toát. Cây chanh thắp những chấm quả vàng phân vân trong góc sân nhỏ có hai bộ bàn ghế xinh xinh với nhiều bình đất nung trồng cây dương xỉ và rêu Nhật. Dây sử quân tử chăng hoa tím sữa lên gờ cửa sổ. Vòi tắm, gương sen đồng. Chậu rửa gốm, gương đôi khung gỗ mộc. Chiếc đèn trần ngôi sao đa giác. Phù điêu chim đại bàng vạch đường bay thẳng đứng… Sự thanh tao lẫn nghiêm cẩn chiếm lĩnh căn phòng. Đâu đây đang vang lên những âm thanh thầm thì, bí ẩn. Vừa cởi mở vừa khép chặt. Chân dung sơn dầu tông đen xám người phụ nữ có đôi mắt ướt thách thức, giễu cợt và cặp môi tím mim mím bí hiểm. Có điều gì đó khẽ như tấm voan đen mờ vừa được thiếu phụ thả choàng lên ngọn núi lửa phủ tuyết sắp trào phun. Ta bỗng trĩu mi thiu ngủ trong hương thơm thổn thức, muốn đặt mình xuống tấm nệm căng mềm đang chờ đợi… Một không gian sau này, ta có dịp gặp lại hồi thức ở Princess d’Annam Resort & Spa tọa lạc ở lạc ở mũi Kê Gà, Bình Thuận xứ Việt.
Dưới chân núi hoàng hôn nhuộm tím, phất lên một dải mây hồng vốn chỉ xuất hiện ở miền Địa Trung Hải. Bẻ bánh mì nhấm nháp, chiêu nước lọc, gương mặt Chị phủ lớp men sứ trắng lạnh. Chị đương thế nào? Chị vui hay buồn Chị nhỉ. Chỉ biết Chị đang ở bên đằm thắm đong đầy. Tất cả giấu sau lớp men sứ trắng. Điện thoại smartphone thi thoảng lại xoạch một tin nhắn.
Buổi chiều dạo quanh cổ thành cô tịch, ngác ngơ các cặp già lái xe sang và xe nhà lưu động. Góc nào cũng biển chỉ dẫn quán ăn thụt thò ngõ đá cụt. Quán trọ, khách sạn đá, trát vữa đất sét quét vôi. Màu trắng chan chứa khắp các căn nhà, tất cả vật liệu dựng đứng được gọi bức tường. Xa trắng, gần trắng. Màu trắng áp đảo đến nhức mắt. Màu trắng tường nhà le lói cả nơi đường chân trời. Mọi cánh cửa khép chặt có lẽ để tránh cái nóng hoặc những cái nhìn vô tình đến sỗ sàng của du khách.
Địa mạo Monsaraz vênh vao yên ngựa, đường đi hẹp, dốc nghiêng, vặn vẹo, hẫng bậc đá hoặc ngoắt lên, gập khúc bên phải, hất ngược bên trái. Nhìn đá thấy dấu vết con người phổ lên đá suốt ngàn năm tiếp nối.
Dưới chân thành, cảnh sắc trung du nước Bồ bày trong ánh dương phai ngày lổ đổ bóng tối lan nhòa các thung lũng, khe núi.
Chúc nhau. Mình hồi hộp nâng ly Ferreira óng màu mật ong pha café. Ngọt, cay, chát, đắng, mặn chiếm lĩnh khứu giác, mươi phút lướt qua, mặt như chạm lửa, chót mũi như chạm băng… tim dồn hơn lên đôi nhịp. Ta bỗng cảm giác mong manh giữa bao la màu tím đen đang tràn, điểm xuyết những chấm đèn thưa xa. Người lính Thiên Chúa giáo xưa trấn ải Monsaraz từng ngồi chỗ đây canh chừng sự xâm nhập của người Ả Rập… Nhấp ngụm thứ hai, yên lặng… chập chờn dưới núi, vó ngựa cuốn cát bụi, mũ giáp, khiên đồng, gươm giáo, lòe nắng cổ đại mất hút vào bóng tối.
Món cá da trơn ngon nhất nhà hàng Templaris và ngon nhất nước Bồ thịt trắng, hơi dai, nhạt nhẽo, xương sống nhỏ tít như đoạn xích dây chuyền. Nước sốt nhờ nhợ mặn, vị quế, vị hồi. Nếu món cá lăng ngã ba Hạc cũng dòng da trơn đạt ba sao Michelin thì đây chưa có sao nào. Đĩa tôm cá trộn khoai tây, cà chua nghiền lộn nhộn sắc vị. Mỗi miếng như đất sét trát lên vòm họng và kẽ răng. Cũng mặn sém mồm. Tiếng là ẩm thực phong phú, nhưng hai mươi ngày trên đất Bồ mình dùng mấy mươi bữa chính món đặc trưng vẫn là cá, thịt bò, cừu, lợn chế biến giản đơn, cốt là nhiều đạm, giàu calori và dồi dào muối…
Bàn bên, ông bà già Anh chẳng biết đã ăn xong món chính lúc nào. Trên bàn đã bày món tráng miệng lạ: “xúc xích sôcôla”, chúng xếp đầy giá trong các siêu thị của Bồ. Bột chocolat, bơ, trứng và vụn bánh được trộn đều với nhau trước khi được nhồi chặt bên trong túi vải hình trụ và làm thành món bánh có hình dạng chiếc xúc xích. Và kia, chúng được thái ra y những khoanh dồi lợn người Việt vẫn hăng hái ăn kèm hành củ nhúng tái hoặc với cháo trắng nóng. Ông già Anh điệu nghệ dùng dĩa xiên từng lát nhẩn nha nhai gật gù… Người vợ dùng loại fromage được làm từ sữa cừu với hương vị đặc trưng, vỏ ngoài cứng, bên trong mềm dẻo như sữa ông Thọ cô đặc để lạnh…
Chị nghi ngờ trước món ngon nhất Monsaraz. Mình trao đổi món, chia nhau mỗi thứ một nửa.
Anh chàng bồi trẻ thi thoảng nhao qua ý chừng chờ đợi những lời khen của mình. Chị làm như không nhận ra sự sốt mến ấy. Thở than:
– Người Bồ đằm thắm, nên ẩm thực của họ phản ánh điều ấy. Sự đậm đà đôi khi hơi thái quá.
Thì hẳn, ta nghĩ, ai bảo Chị sống những hai mươi năm ở cường quốc ẩm thực số một thế giới.
Một cánh hoa cam trên cây chợt rụng xuống bàn.
– Sao không gọi nước cam?
– Ừ nhỉ… Nước Việt không thiếu cam ngọt, quýt ngon, chanh thơm đặc vị, nhưng so với trái cây có múi ở xứ Bồ thì cũng quá phân vân. Người ta dùng máy gọt vỏ rồi mới ép nước cam. Cam nguyên chất thêm vào những múi cam bóc nõn ngần…
Cam quýt dường như là giống cây tự sinh trên khắp xứ Bồ. Đường phố hễ có khoảng đất nào trống là có cam quýt chanh mọc lên. Chúng tươi tốt vô tư ngã ba ngã tư đường, góc công viên. Trên cây đeo quả chín quả xanh chen hoa trắng nhụy vàng. Trái rụng lăn lóc trên cỏ xanh, trên vỉa hè ngay trước mũi giày...
Và ta cứ xao lòng không đâu trước cây xoan tần ngần hoa tím, quả ươm vàng đã tháng Tư chưa chịu khô mình. Ta đã gặp không ít cây xoan trên đất Bồ. Mỗi khi thấy sắc hoa tím và vòm lá thưa mỏng lại không khỏi giật mình như gặp người quen quên không chào. Ta thương cây xoan cô độc bên cửa sông Taugus, không xa tượng đài Khám Phá. Cứ như là nó đã theo người Việt nào đó sang đây rồi bị bỏ rơi. Ta ái ngại cho cây xoan bị nhốt giữa bốn bức tường, dưới tháp canh tòa thành Monsaraz. Hay hàng xoan trồng dọc lối vào bến xe liên tỉnh Evora, y đám lính canh, cành nhánh bị xén tỉa, nhưng vẫn tươi quân dung. Lá chưa kịp xòe, hoa đã tím và quả mùa cũ vẫn đương treo sắc vàng đậm hạt cườm.
Và rừng sồi bần, rừng olive dầm chân buồn bã trong cỏ gai hoa tím, rắc ríu nhau chạy đến đường chân trời. Người ta bảo trong mỗi người Bồ đều hội tụ phẩm tính của cây sồi bần, cây olive và cây nho. Đó là sự cần cù bất chấp thời gian chịu đựng cái nóng và vươn sống trên đất sỏi kiệt màu để dâng ngậy, cho bùi và gìn giữ sự thăng hoa để mơ ước và hy vọng…
Cả đất nước Bồ Đào Nha đặt trên các ngọn đồi. Bởi hầu hết các thành phố quan trọng của Bồ đều xây trên các ngọn đồi. Và nguồn dưỡng sinh kinh tế không nhỏ dựa vào nguồn trang trại đồi cây sồi bần, cây olive và các mỏ kim loại quý, vật liệu xây dựng ở các vùng đồi núi. Thành phố nào cũng xây quảng trường đường lát đá hoa cương sắp xếp hoa văn hình sóng nhiều biến thể nghệ thuật. Các vỉa hè bằng phẳng, vững bền tới cả trăm năm, nhưng khi mặt đá ướt nước, chúng sẽ trở nên trơn trượt, khó lường dưới đế giày.
Do dấu vết kiến trúc Moorish đậm nét phía Nam Tây Ban Nha nên sự giao thoa văn hóa đã cho Bồ những hình ảnh các tòa nhà vuông vức ngói đỏ hồng rực rỡ, tường trắng nắng tinh khôi, cổng sắt diêm dúa, sân phẳng rộng, hoa trồng dọc các ban công. Thi thoảng gặp các tòa nhà cổ mặt tiền ốp gạch gốm men lam của dòng nghệ thuật Azulejos thuần Bồ.
Mọi hình ảnh yên thuần, trật tự nhưng chúng mình không thấy đây là đất nước đang tươi vui, hạnh phúc. Nhịp sống đều đều, buồn buồn day dứt như giai điệu fado. Tất cả toát lên nhịp đời an phận. Nhưng tất cả lại như đang ẩn giấu cả nỗi chờ đợi ở một sự sống khác. Có lẽ thế chăng, bởi 87% người Bồ theo Công giáo Roma. Là nước phát triển, mức sống thứ 19 trên thế giới, bình yên thứ 14 và toàn cầu hóa xếp thứ 13, Bồ vượt trước nước Việt quá nhiều thời gian và khoảng cách.
Vàng son không thiếp mãi trên cột buồm chiến thắng, sự giàu sang hùng cường bong tróc theo thời gian.
Chính khát vọng chiến thẳng bản thân trước thiên nhiên đã khiến một dân tộc vài triệu người làm nên một quốc gia ra đời sớm nhất và kéo dài nhất lịch sử những đế quốc thực dân châu Âu. Nhờ thám hiểm hàng hải thế kỷ XV – XVI, Bồ trở thành một đế quốc toàn cầu sở hữu thuộc địa ở châu Phi, Nam Mỹ, châu Á và là một trong những đế chế kinh tế, chính trị và quân sự mạnh nhất thế giới?!
Bắt đầu từ vụ chiếm Ceuta năm 1415 đến sự kiện trả lại Macau lãnh thổ hải ngoại cuối cùng của Bồ cho Trung Hoa đại lục tháng 12 năm 1999 – Đế quốc Bồ duy trì được gần 600 năm.
Nhưng rồi biến cố lịch sử, thiên tai, góp thêm vào là thể chế độc tài đã vùi dập dân tộc Bồ kiêu hãnh thành những kẻ túng bấn và thất thế ở châu Âu.
Chúng ta không ngạc nhiên khi biết Bồ Đào Nha sở hữu nền giáo dục đại học lâu đời như Anh “Oxford”, Pháp “Sorbone”, Tây Ban Nha “Salamanca”. Đại học Coimbra thành lập ở một chủng viện từ năm 1290 tại Lisboa. Khuôn viên trường hiện nay nằm trọn trên quả đồi trong cung điện Alcáçovas hoàng gia xưa ở thành Coimbra.
Điểm nhấn Coimbra là thư viện Joanine 250.000 đầu sách, phong cách nội thất choáng lộng, xa hoa. Vật liệu quý mang về từ thuộc địa: gỗ mun Brasil, vàng và đá cẩm thạch châu Phi. Toàn bộ diện tích bề mặt tường được bao phủ bởi các giá sách làm bằng gỗ dái ngựa sơn mài nhiều màu với kiểu họa tiết sặc sỡ ảnh hưởng mỹ thuật cung đình phương Đông.
Hệ thống thư viện Bồ Đào Nha bắt đầu từ những sưu tập trong tu viện và từ thời kỳ Trung Cổ, có điều luật về đọc sách công cộng. Nhưng chúng ta hiếm gặp hình ảnh những sinh viên, người già đọc sách ngoài công viên hay trên các phương tiện giao thông…
Năm 1625 giáo sĩ Alexandre de Rhodes – cùng bốn cha Dòng tên và một giáo sĩ Nhật Bản đã cập bến Hội An. Duyên tình nước Việt với văn hóa Bồ đã bắt đầu từ đấy chăng? Không gặp người Pháp vĩ đại ấy, thì hành trang văn hóa người Việt chúng ta hôm nay viết thứ chữ gì nhỉ? Ấy thế mà người Việt mới biết đến văn học hiện đại của Bồ không lâu qua các tác phẩm của José Maria Eca de Queiroz và nhà văn nhận Nobel văn chương 1988 José Saramago (16.1.1922 –18.6.2010).
Mình bỗng nhận ra mình hạnh phúc hơn bao kẻ đam mê sách, bỗng được run rẩy trước khối nhà tầng hai trang trí gạch Azulejos nơi góc phố R. Garrett – Lisboa có hiệu sách lâu đời nhất thế giới đang mở cửa. Hiệu sách Bertrand với logo chữ B màu trắng nền đỏ trên niên số 1732. Tuổi lên mười, ta đi mười ba cây số đường rừng mua cuốn sách đầu tiên. Và ngoài tuổi năm mươi đến tận nơi cửa hiệu sách lâu đời nhất của loài người cũng xúc cảm như cầm trên tay cuốn sách giữa rừng xưa… Cũng đã may, nhưng phải sau bốn mươi năm ta mới có thể vượt qua chặng đường 20 ngàn cây số chẳng phải là điều không bình thường và cũng quá thường hay sao?
Bồ Đào Nha, chưa biết khi nào mới thôi day dứt bởi quá khứ vàng son. Đất nước này đang đối diện với bao nan đề nội tại và thực thể châu lục. Chưa thôi dòng người lũ lượt bỏ xứ ra đi tìm miếng bánh ngoài biên giới. Và cũng chưa biết khi nào dừng những khách du đến đây chỉ để thỏa tò mò vì hào quang đế quốc còn le lói trên các tượng đài. Ở một cấp độ nào đó, thì Bồ cũng chẳng khác nước Việt, xuất khẩu chủ yếu là quần áo, giày dép nút bần, bột giấy và một chút sản phẩm hóa chất, máy móc.
Chính phủ cánh hữu đương nhiệm của Thủ tướng Pedro Passos Coelho thực thi chính sách khắc khổ vùng vẫy thoát vết xe đổ là món nợ công đang siết quanh cổ. Thói vung tay quá trán hành hạ cả một đất nước chứ chẳng riêng một người. Nhưng tính cách khem kiệm khiến người dân Bồ thích nghi với chi tiêu tối giản dễ hơn Hy Lạp… Dân Bồ không mấy hăng hái đi biểu tình.
Thế giới đâu có phẳng nhờ kết nối như Thomas Friedman[1] vẽ vời. Joseph Stiglitz tỉnh táo hơn khi “biên tập” sách của Friedman[2] rằng “thế giới kết nối hơn mà không bằng phẳng hơn”. Địa mạo trái đất tạo hóa nhào nặn thế nào thì nay vẫn vậy, dù có động sơn, tạo thủy cũng chỉ là chuyển biến cục bộ. Thông tin giúp thúc đẩy các mối xung đột trở nên sâu sắc, tốn ít thời gian chờ bùng nổ hơn khi mà mỗi cá nhân còn chịu đựng sự bất bình đẳng, bị tước đoạt các cơ hội giữa thế giới ngày một trở nên giàu có, phức điệu nhờ những sân chơi lồi lõm, gồ ghề… Một dân tộc, một đất nước, một đời người cũng chẳng thoát khỏi quy luật tồn sinh Chúa định.
Không lẽ Portugal giờ đây vẫn ôm cành nguyệt quế rụng xơ lá tự ve vuốt mình bằng thời gian chết. Mà thời gian trôi một chiều lên phía trước chứ không bước giật lùi trở lại và nó kéo chúng ta tới tương lai, mặc ta muốn hay không.
11. Ta ngồi trên chiếc kỷ lót nệm bông, che mành gió nơi sân thượng Casa Pinto ngắm trăng thượng tuần giữa sao mờ. Những chiếc gối dành cho hai người nhưng chỉ mình ta dựa. Những bông hoa vây quanh ban ngày cũng khép cánh lâu rồi. Chỉ có hương hoa cam mê tỉnh. Non nước Portugal đẫm sương khoảng sáng khoảng tối hun hút những rộng dài. Đêm đầu tiên cũng là đêm cuối ở Monsaraz. Trăng lạnh. Ta lạnh trong sự cô đơn thanh thoát. Chị đã ngủ hay thao thức với những riêng tư vui buồn?
Monsaraz quờ tay là chạm đá. Thứ sa thạch nâu đen pha sắc, được quật lên tại chỗ làm hồn cốt cổ thành. Vô tình cũng ứa máu. Thành đá vòng ôm ngọn núi. Một trạm bưu điện, một hiệu thuốc, một trạm cảnh sát. Thế cũng đủ cấu trúc cho một địa chỉ hành chính. Thứ vốn dĩ đã cao dưới mặt đất là nhà thờ và tháp canh thì trên núi chiều cao lại được kích lên vượt bậc. Đã cao lại còn cao thêm…
Nhà thờ đá rêu phong, tháp chuông viền vân mây, cửa uốn vòm, cô độc cây thánh giá thép. Tháp canh đá sừng sững hốc lỗ châu mai, nửa Hồi giáo, nửa Thiên Chúa giáo. Sự uy nghi, đa chiều, lưỡng phân như hiện thân của Bồ nửa quay về quá khứ, nửa hướng tới tương lai gập ghềnh. Nắng nung đá đắng khét. Khí nóng ngậm trong đá cuối ngày vẫn phả ra như hơi lò nướng bánh Pastéis.
Ngày mai gặp Anabella và Katia. Mình sẽ trở lại Evora với Casa DA Gouvernador… rừng sồi bần, rừng olive cổ quái, bầy cừu dê và con ngựa tía đua hùng dũng vẫn brừ… brừ đánh hơi.
Sẽ khứ hồi Lisboa, để sau lưng một mùa xuân dang dở bao điều. Chẳng rõ Portugal nợ mình hay mình nợ đất nước này. Nợ Anabella, nợ Katia những điều bình dị nhất mà bất cứ người Portugal nào cũng có thể chìa tay đan kết.
Làm sao mình đi khắp Portugal.
Hãy còn Porto với những dãy nhà như tranh vẽ. Và ta nợ chỗ ngồi mái vòm quảng trường Placa da Ribeira, ngắm nhìn tàu bè chầm chậm trên dòng Douro mỗi khi chiều sẫm.
Hãy còn đó thung lũng Douro. Mình nợ con đường vắt ngang đèo đạp xe nợ con thuyền dọc sông Douro xanh ngọc giữa bạt ngàn ruộng bậc thang nho phủ kín sắc phì nhiêu.
Mình đã nâng ly Monsaraz trong khát khô Monsaraz.
Nơi tiệm rượu Templaris, vẳng giọng người đàn ông trầm khàn, pha ngữ điệu Anh trên dải âm guitar hát khúc fado cứa lòng…
“Ta nâng ly chát đắng, ta nâng ly ngọt dịu dàng, ta nâng ly tha thiết, nhìn vào mắt nàng lẽ nào ta phải tin những điều đau đớn giấu kín dưới nụ cười. Trăng cổ thành sáng như mũi kiếm sắc cắt đoạn lòng ta, cắt đoạn con đường vượt biển những ngày xa cố quốc. Trái tim ta đêm nay không ngủ, gửi người đẹp từng uống rượu cùng ta ở cổ thành Monsaraz những năm xa…”[3]
Trăng thượng tuần buông sáng lạnh nhưng ta chưa thể bái biệt cổ thành trắng lũy đá đen. Hương cam len như nỗi đau nhớ neo khóa cõi lòng đang thức mở. Monsaraz mảnh vỡ của tấm gương xứ Bồ góp thêm một chấm mờ cao giữa trời sao, ta đến và rời đi suốt hành trình phận số mà đích chờ phía trước vẫn hẹn ta mưa nắng chẳng phai mùa.
Hút chân đèo, lóa sáng đèn pha của chiếc xe ngược dốc như hai thanh trường kiếm thọc vào bóng tối. Buốt nhói.
__________________________
[1] Thomas Loren Friedman (sinh 20 tháng 7 năm 1953) nhà báo Mỹ viết cho The New York Times. Ba lần giải thưởng Pulitzr. Chủ đề chính của ông là các vấn đề ngoại giao, thương mại toàn cầu, Trung Đông và môi trường.
[2] Joseph Eugene Stiglitz (sinh 9 tháng 2 năm 1943) nhà nghiên cứu kinh tế Mỹ và giáo sư tại Đại học Columbia. Giải thưởng Nobel về thành tựu nghiên cứu khoa học kinh tế (2001).
[3] Lời một bài hát của điệu Fado.
Nguyễn Tham Thiện Kế - Lisboa, tháng 4 năm 2015.
(Rút trong tập du ký: Đợi Chị về tưới rượu bến sông-519 trang khổ 14.5 x 20.5-Nxb Hội Nhà văn-2017.)
tho-bien-dem
 
In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com