
THƠ THÁI THUẬN (Tiến sĩ triều Lê)
征婦吟
庭草成巢柳又絲,
征夫何日是歸期?
半簾殘月傷心夜,
一枕啼鵑落淚時。
塞北雲長孤雁影,
江南春盡老蛾眉。
昨來幾度相思夢,
曾到君邊知不知?
Hán – Việt:
CHNH PHỤ NGÂM
Thái Thuận
Đình thảo thành sào liễu hựu ty,
Chinh phu hà nhật thị quy kỳ?
Bán liêm tàn nguyệt thương tâm dạ,
Nhất chẩm đề quyên lạc lệ thì.
Tái bắc vân trường cô nhạn ảnh,
Giang nam xuân tận lão nga my.
Tạc lai kỷ độ tương tư mộng,
Tằng đáo quân biên tri bất tri?
Dịch nghĩa:
Đám cỏ ngoài sân đã thành khóm, chồi liễu lại một lần buông tơ,
Không biết ngày nào người chinh phu trở về.
Soi qua nửa bức rèm, thấy mảnh trăng tàn mà thương tâm,
Vọng lại bên gối nằm, nghe tiếng quyên kêu mà rơi lệ.
Ải Bắc mây phủ đầy, con chim nhạn lẻ loi chiếc bóng,
Sông Nam xuân đã qua, nét mày ngài một ngày một già đi.
Đêm qua mấy lần có những giấc mộng tương tư,
Thường mơ đến bên chàng, chàng có hay chăng?
Thơ dịch:
LỜI THAN CỦA CHINH PHỤ
Cỏ mọc đầy sân, liễu đã buông
Ngày nào trở lại hỡi người thương?
Rèm thưa dạ xót, trăng tàn bóng
Gối lạnh lệ tràn, quốc gọi sương
Ải Bắc mây bay chim nhạn lẻ
Sông Nam xuân hết nét ngài vương
Tương tư lắm bận đêm thường mộng
Chàng hỡi! Thấu chăng nỗi đoạn trường?
Xuân Lộc dịch