bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
BÀI VIẾT MỚI
PHẢN HỒI MỚI

vũ nho 085 589 0003

CÁM ƠN NHÀ THƠ NGUYỄN ĐỨC BÌNH ĐÃ CỘNG TÁC! CHÚC ANH SỨC KHỎE, MAY MẮN!

 

NGUYỄN ĐỨC BÌNH - ĐT :0969781942

Xin trân trọng cám ơn BBT Trang TÁC PHẨM VÀ BẬN ĐỌC !

 

VŨ NHO 085 589 0003

NHÀ THƠ LỪNG DANH HỒI NÀONHƯ NHÀ NHIẾP ẢNH LỪNG DANHUNG DUNG ĐỘC HÀNH XE BUÝTCHẢ QUAN TÂM AI BIẾT HAY KHÔNG BIẾT!ẤY LÀ...PHẨM CHẤT...CÔNG DÂN!

 

VŨ NHO 085 589 0003

Gay cấn thật chứ không đùa!May mà chú đã là Đảng viên!Hồi hộp phết!

 

VŨ NHO 085 589 0003

THƯA CÙNG BÀ CON GẦN XAbÁC ĐINH Y VĂN NHÀ TALÀ DÂN GIA VIỄN VỐN LÀ ĐỒNG CHIÊMCHÚNG TÔI BỢI LỘI ĐÃ QUENVỀ MÔN CHÈO THUYỀN CHẲNG CHỊU KÉM AICHÈO TAY CŨNG ĐÃ KHÁ TÀICHÈO CHÂN ĐỘC ĐÁO CHẲNG AI SÁNH TÀY!

 

vũ nho 085 589 0003

CÁM ƠN BÁC ĐINH Y VĂN ĐÃ CÒM VỀ CHUYỆN ...TÔI CÒM ANH TÂN TÔI CÓ THÓI QUEN ĐỌC DẦN VÀ GHI CẢM TƯỞNG...NẾU CẦN PHẢI GHI CŨNG LÀ MỘT CÁCH BÁO ĐI RẰNG TÔI ĐÃ ĐỌC...VÀ GHI LỜI BÌNH!

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 166
Trong ngày: 323
Trong tuần: 1472
Lượt truy cập: 1718098

TRUYỆN KÍ NGUYỄN KIM RẪN

anh_kim_ran

 

Nhớ anh Thành

                 Truyện kí

 

Hồi mới giải phóng miền Nam, bác tôi nhận được giấy báo tử người con trai yêu quý nhất của mình. Tôi đi công tác về, vội chạy sang. Bác đem tờ giấy ra bảo tôi:

- Không biết có phải không cháu ạ! Anh mày là Nguyễn Ngọc Thành. Nhiều giấy tờ trước đây chỉ ghi Nguyễn Thành. Cháu nhìn bảng “Gia đình vẻ vang” do Chủ tịch nước kí kia kìa. (Vừa nói bác vừa chỉ tay lên tấm bằng “Gia đình vẻ vang”). Vậy mà ở đây lại ghi là Nguyễn Văn Thành.

- Chắc họ viết nhầm – Tôi buột miệng nói.

Bác tôi trầm ngâm:

- Mong họ nhầm.

Tôi biết bác buồn lắm nên cố tưởng tượng ra cảnh anh tôi chưa chết. Bởi lẽ, đài báo cũng đã đưa tin, khối trường hợp báo tử rồi lại ở đâu về. Anh tôi làm báo và hoạt động bí mật, biết đâu lúc giải phóng, lại chả trà trộn vào hàng ngũ địch để hoạt động tình báo ở thời kì mới.... Bác tôi vẫn cúng giỗ anh (theo ngày hi sinh mà trên báo về). Và, bác vẫn mong anh cho tới ngày bác đi vào cõi trường sinh.  

Nhưng đến hôm nay thì rõ rồi. Đơn vị đã tìm thấy cái hang núi mà Ban biên tập đang làm việc thì bị sập. Các anh đã hi sinh. Hôm đưa anh về nghĩa trang xã nhà, tôi không về được. Hôm nay mới đến để thắp hương cho anh. Anh Thành ơi! Trong em, anh mãi mãi là người anh vô cùng kính yêu. Cầu mong anh sống khôn, thác thiêng phù hộ cho thằng em duy nhất trong họ đang đi trên con đường của anh, anh nhé! ... Tôi lầm rầm khấn vái. Trong đầu, những hình ảnh hôm tiễn anh đi lại hiện ra. Anh nhẹ nhàng bảo tôi:

- Em phải cố mà học nhé! Khó khăn gian khổ đến mấy cũng phải học. Phải dốc hết sức vào việc học tập. Phải mạnh dạn tự tin nhưng tránh ẩu. Phải học lên cao và học giỏi nhé!

- Vâng. Em sẽ cố gắng.

- Anh đã tốt nghiệp Khoa Văn đại học Sư Phạm, đã ra dạy cho trường Văn hoá Quân đội dăm năm nay, song vừa rồi anh lại định đi học thêm một bằng nữa đấy.

- Anh định học trường nào?

- Không phải là định mà cấp trên đã duyệt. Hồ sơ đã chuyển đi và trường Đại học Bách khoa vừa báo thì có lệnh điều động, nên phải bỏ con đường học tiếp.

- Anh có tiếc không?

- Tiếc và buồn chứ. Song bây giờ “tất cả cho tiền tuyến”... Đành vậy thôi. Hôm nhận giấy báo, anh ra bên suối ngồi một mình. Ngắm nhìn mây, núi cảm hứng trào lên, anh nghĩ ngay được mấy câu thơ đấy.

- Anh có nhớ không?

- Có. Đó là bài bát cú:

Vách núi vươn cao tưởng chọc trời,

Gửi hương xuân ấm đến  muôn nơi.

Nước cuộn sóng xanh về đâu tá,

Gió vờn núi tím ruổi xa khơi.

Trời xanh sao khéo thêu mơ ước,

Mặt nước thuỳ tri dệt mộng đời.

Nghìn năm núi đứng nhìn mây nước,

Núi in sắc nước, nước in trời.

- Bài thơ hay quá - Tôi kêu lên.

- Chả biết có là thơ được không nhưng đó là xúc cảm tức thời của anh.

- Anh nhiều tuổi thế mà chưa có người yêu à?

- Có chứ. Nhưng bây giờ đã chia tay.

- Sao thế?

- Vì anh ra đi. Anh không muốn làm khó cô ấy.

- Chả lẽ chị ấy không chờ được anh?

- Khi anh nói lời chia tay, cô ấy đã khóc và nhất định không đồng ý với anh. Cô ấy nói: “Nhất định em đợi anh. Em không thể lấy người nào khác. Em  sẽ làm cho Đảng, cho anh thấy được tấm lòng của người con gái xứ Lạng ...”. Song chiến tranh là chiến tranh. Nói theo nhà thơ Hữu Loan:

Lỡ khi mìmh không về

thì thương

người vợ chờ

bé bỏng chiều quê...

- Nếu chị ấy cứ chờ anh thì sao?

- Anh đã dứt khoát rồi. Đau lòng lắm nhưng cũng phải dứt khoát một cách mạnh mẽ để cô ấy khỏi đợi chờ. Anh đã khuyên cô ấy: “... đừng chờ anh làm gì. Hãy nhớ rằng anh luôn mong em hạnh phúc, luôn ghi hình ảnh em trong trái tim anh. Về phía anh, vào trong kia, rất có thể, Đảng bố trí anh phải lấy vợ để hoạt động bí mật. Lúc ấy, anh không thể không lấy. Lúc đó em đợi anh phỏng có ích gì”. Anh cũng đã dặn người nhà, nếu cô ấy về thăm hoặc gửi thư thì cũng luôn động viên cô ấy đi xây dựng gia đình. Em nữa, nếu có điều kiện gặp được thì hãy khuyên cô ấy... Sau này được học nhiều, đọc nhiều và trưởng thành, em sẽ hiểu: yêu một người là làm cho người ấy hạnh phúc chứ không nên ích kỉ.

Sau khi anh đi, chị ấy có về thăm tôi đôi lần. Cả nhà bác tôi, cả tôi nữa, nhắc lại lời anh dặn. Khuyên chị đi xây dựng gia đình...

Lâu nay, không biết chị ấy sống thế nào...

*

*    *

Phải hai năm sau, bố tôi mới nhận được thư anh. Tính từ ngày viết, phải sáu tháng trời, thư mới tới nơi. Anh viết:

Chiến khu, ngày 25 tháng 7 năm 1965

Chú thím kính mến!

Chú thím và các em vẫn mạnh khoẻ chứ ạ! Em  Rẫn học lớp 9 rồi nhỉ? Em có học giỏi không? Các em khác thì thế nào? Ôi! nhớ chú thím và các em quá. Chú ơi! Cháu cứ tự bảo, phải viết thư ngay cho chú và phải viết dài, song thời gian eo hẹp quá. Công việc bận rộn quá. Lại những con quạ sắt quấy rầy luôn. Ở đây, 7 giờ sáng mới làm việc được mà 4 giờ chiều đã phải nghỉ rồi bởi vì lán tranh ẩn sâu trong sương núi. Hồi con mới ra đi, nhân tiện đi qua nên có ghé thăm đền thờ bà Triệu, thăm nơi bút tích của cụ Nguyễn Trãi, thăm núi Lam Sơn của Lê Lợi, thăm đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan, thăm đỉnh Ngọc, Bến Thuỷ ở Vinh của Nguyễn Huệ...

Qua đèo Ngang, nhớ lại Bà huyện Thanh Quan , nói đúng hơn là nhớ lại tác phẩm bất hủ của bà mới thấy được hết tầm mắt của bà, tầm mắt của một nhà thơ thuộc giai tầng lớp trên. Bà thấy lòng mình đã đổ nát theo giai tầng của bà đang đổ nát suy vi. Cái hơi thở não nùng hoài cổ trong bài "Qua đèo Ngang" thật là buồn. Chúng cháu hôm nay thì khác. Cháu đã làm bài "Đèo Ngang" để tặng bà:

Xa vượt đèo Ngang, nguyệt xế tà

Thu phong khêu lá, nguyệt lồng hoa.

Rạt rào sóng biển thì thào vỗ,

Nhè nhẹ gió khơi quyện mái nhà.

Nhớ nước sôi lòng con cuốc cuốc

Tình nhà thao thức cái đa đa.

Dừng chân ngắm cảnh trời non nước

Vạn tấm lòng chung ta với ta!

Khi qua bến Thuỷ, nhìn đỉnh núi Ngọc, nhớ lại vị anh hùng áo vải Qung Trung, cháu đã ghi vào vách phà sông Lam bài thơ:

Ráng lộng chiều thu ngả tím dần

Rạt rào bến Thuỷ khách chen chân.

Đỉnh Ngọc vọi cao, ai rảo bước,

Những chiến binh hay những thiên thần.

 

Ta muốn hỏi núi, mây, sông, nước

Dinh luỹ xưa Nguyễn Huệ nơi nào

Dòng Lam cuộn trải hai thế kỉ

Có hay vân sắc những vì sao?

 

Quang Trung xưa tiến quân ra Bắc

Đoàn quân ta nay tiến vào Nam

Phà nhớ đón ta ngày thống nhất

Sẽ về tắm mát giữa dòng Lam...

Trên đường đi vào nơi bom đạn, song anh chẳng nghĩ gì đến gian khổ, hy sinh, đến đâu anh cũng ngắm nhìn mê say cảnh thiên nhiên đất nước và làm thơ. Thư anh dài lắm, chữ anh khá đẹp nhưng thư này chữ nghiêng ngả, có chữ khó xem quá. Tôi có cảm giác anh viết rất vội như cố viết cho kịp những cảm xúc đang trào dâng, những điều muốn giãi bày. Đến đoạn cuối lại càng khó xem:

     Chú ơi! Nơi đây, bao nấm đất đã nặng phần xương máu, bao oan hồn của hàng vạn sinh linh. Đây tất cả những gì rất sống, quyết chiến tranh vì muốn tắt chiến tranh.

Trời của ta, máy bay giặc xé nát

Đất của ta, thiết giáp xa nghiến vụn

Biển của ta, chiến hạm làm vẩn đục

Và màu tang phủ khắp xóm làng.

Bàn làm việc của chúng cháu hướng về phương Bắc. Mỗi lần thấy đàn quạ sắt bay đi, trở về, trái tim cháu lại hằn lên đau nhói. Không biết rằng bố cháu, chú thím và các em ngoài ấy có sao không? Chúng cáu chỉ muốn được cầm ngay súng để quét phăng đi bọn quỷ dữ hại người. Vào đây, tuy cháu không được làm công tác dạy học như trước, song cũng không được cầm súng trực tiếp ra trận. “Đã hay đâu cũng say tiền tuyến, Mà vẫn bâng khuâng mộng chiến trường” đấy chú ạ. "Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ hơn nghìn trang sách luận văn chương" có phải không chú? Chú ơi! Cháu vào đây gặp được rất nhiều anh em cùng Thái Bình mình. Chúng cháu luôn luôn chuyện trò, bàn luận với nhau. Ai cũng nghĩ rằng, ngày mai tiếng súng tắt hẳn, ta sẽ lại trở về miền Bắc, vứt tay súng, luyện tay cày, anh thích nghề này, anh thích nghề kia. Ai cũng mong tới ngày nắng đẹp, bình minh để bao vách đá biến thành bài thơ...

Đây là lá thư đầu tiên và cũng là cuối cùng anh gửi cho bố tôi và tôi. Tuy xa anh, nhưng những lời anh dặn dò hôm chia tay, tôi mãi không quên. Anh bảo tôi: “Hạnh phúc chỉ có thể tự giành giật lấy mà không chờ đợi ở một người nào. Anh lưu ý em một điều là: thực tế là thực tế, lí tưởng là lí tưởng. Từ lí tưởng biến thành hiện thực không phải giản đơn. Do đó, ta phải sẵn sàng nhận lấy mọi thử thách của cuộc đời, phải xắn tay áo mạnh dạn bước vào đời, xem thường tất thảy những khó khăn đối với ta bằng sự nỗ lực chủ quan của mình”. Chính lời khuyên nhủ của anh đã giúp tôi vượt qua bao ngày gian khổ để học hết đại học, để có được những thành tựu như hôm nay. “Có cái chết hoá thành bất tử” không phải chỉ là lí luận. Với tôi chính anh là bất tử. Trong họ tôi, anh vẫn mãi mãi là người con trai ưu tú của dòng họ. Trong làng xóm, anh mãi mãi là nhân vật của một cổ tích để mọi người kể cho con cháu nghe, răn dạy con cháu noi theo.

 

          Thị trấn Cầu Diễn, 27 tháng 7 năm 2012

 

(Đã in trong báo  "Quân đội nhân dân cuối tuần" số 863, 15- 7- 2012)

 

 

 

vbnhuy

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com