Đoàn Thị Lam Luyến thuộc thế hệ các nhà thơ thời kì chống Mỹ. Giống như các nữ nhà thơ tình tài hoa cùng thời khác như Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Mai, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Thị Hồng Ngát…thơ tình của Đoàn Thị Lam Luyến cũng hội đủ những cung bậc tình cảm, cảm xúc thường tình của người phụ nữ khi yêu. Nhưng điều khác biệt là đọc thơ tình của Đoàn Thị Lam Luyến nhiều người đều có chung nhận xét: chị là người có một “cách yêu đặc biệt”. Nói đặc biệt không hẳn vì chị đã từng đơn phương phát động cuộc “chiến tranh tình ái” trong thơ. Mà đúng hơn, có lẽ bởi chị đã hơn một lần nếm trải những thất bại tột cùng trong tình yêu, nên quan niệm yêu ghét ở chị rất rõ ràng mạnh mẽ, táo bạo, cứng cỏi, quyết liệt, có lúc như một lời tuyên chiến: “Em đã đoạt anh từ tay người đàn bà kia/ Giống như người đàn bà kia đoạt anh từ tay người đàn bà khác/ Bỗng chốc anh trở thành tư bản/ Trong tay những kẻ chỉ yêu tiền/ Ghen như sôi và giận như điên...” (Chiến tranh)
Bài thơ Huyền thoại của Đoàn Thị Lam Luyến (Rút trong 100 áng thơ tình Việt Nam- NXB Hội nhà văn,2002) không có cái cứng cỏi, táo bạo sẵn sàng lăn xả vào giành giật, làm nên cuộc “chiến tranh” tình yêu, nhưng nó vẫn có cái mạnh mẽ, quyết liệt đầy nữ tính vốn là bản chất trong thơ tình của chị. Thế nên, bài thơ đã đem đến cho độc giả niềm yêu mến và sự trải nghiệm đầy thích thú. Vẫn là sự đằm thắm, thủy chung, vẫn là nét dịu dàng, duyên dáng của người phụ nữ, nhưng sao đọc bài thơ, ta vẫn thấy có gì đó chua xót- một sự chua xót đầy tính nhân văn? Có phải vì tình yêu đơn phương của người phụ nữ đó chăng?
Ai đó đã nói rằng trong tình yêu, nam nữ đều bình đẳng. Xét ở góc độ nào đó thì điều ấy có lẽ đúng. Trong thực tế, phụ nữ vốn là đối tượng của cái đẹp, đối tượng của sự chinh phục. Nhưng trong bài thơ này, tình yêu của người phụ nữ chỉ là đơn phương, chị đang thất bại khi phải chứng kiến người mình yêu “tay trong tay” với người con gái khác thì đó là điều “khác thường”. Tuy nhiên, chị vẫn đợi, vẫn chờ cho dù sự chờ đợi có làm trái tim tan nát, chị vẫn không nản, vẫn hy vọng với một niềm tin không bao giờ tắt. Chính bởi lẽ đó, bài thơ đã tìm được sự đồng cảm của bao trái tim phụ nữ đã yêu, đang yêu và sẽ yêu.
Là người luôn khao khát tình yêu (có người phụ nữ nào sống trên đời mà không khao khát?), nhưng hình như với nhà thơ đa đoan này thì càng khao khát, càng đắng cay, thất bại. Có lần chị bộc bạch đại ý rằng, chị viết bằng sự góp nhặt của nhiều nỗi đau trong đó có nỗi đau tình đầu: "Ta trao cả cho anh/ Một con tim dào dạt/ Và anh trả cho ta/ Nỗi buồn đau tan nát/ Ta muốn ôm cả đất/ Ta muốn ôm cả trời/ Mà sao không yêu trọn/ Trái tim một con người" (Gửi tình yêu). Bởi thế, có thể hiểu những khao khát trong Huyền thoại này có cội nguồn từ những đắng cay mất mát đó chăng?
Không thể phủ nhận bài thơ Huyền thoại của Lam Luyến cũng được viết lên từ những nỗi đau cuộc đời. Chả thế mà mở đầu bài thơ là một khát khao, một mong ước cháy bỏng: “Giá được một chén say mà ngủ suốt triệu năm/ Khi tỉnh dậy, anh đã chia tay với người con gái ấy?/ Giá được anh hẹn hò dù phải chờ lâu đến mấy/ Em sẽ chờ như thể một tình yêu…”
“Giá” chỉ là một giả định, một ước ao. Ước ao đó được nhà thơ diễn tả bằng nghệ thuật đối lập và ngoa dụ với cặp từ một chén- triệu năm. Về thời gian, triệu năm đã là dài, nhưng “giá được anh hẹn hò”, người thơ còn dám đánh đổi bằng sự vô tận của thời gian: “dù phải chờ lâu đến mấy.” Và hơn thế, chị khẳng định chắc chắn không chỉ một lần: “Em sẽ chờ”. Chờ đợi vốn là một phẩm chất cao quý của người phụ nữ Việt Nam. Trong dân gian và trong chiến tranh, đã có biết bao người phụ nữ chờ đợi chồng, chờ đợi người yêu đến hóa đá như nàng Tô Thị đó sao?
Ở bài thơ này, cái tôi đầy cá tính của chị cũng hy vọng, đợi chờ bất chấp thời gian, bất chấp khó khăn trắc trở. Những từ “chờ”, “đợi” cứ lặp đi, lặp lại, tạo thành ẩm hưởng thiết tha như biểu tượng về một tình yêu vĩnh cửu. Sự chờ đợi của người phụ nữ trở nên cụ thể, bền bỉ, quyết liệt hơn nhờ sự so sánh: “Em sẽ chờ như hòn đá biết xanh rêu/ Của bến sông xa, mùa cạn nước/ Cơn mưa khát trong nhau từ thuở trước/ Sắc cầu vồng chấp chới mé trời xa…/ Em sẽ chờ anh như lúa đợi sấm tháng ba/ Như vạt cải vội đơm hoa, đợi ngày chia cánh bướm/ Như cô Tấm thương chồng từ kiếp trước/ Lộn lại kiếp này từ quả thị nhận ra nhau”. Em vẫn chờ anh như vạn vật, cỏ cây vẫn chờ nhau để tồn tại. Ở khổ thơ này, tất cả những gì có thể so sánh được người thơ đều đem ra so sánh, làm minh chứng cho sự chờ đợi tất yếu của thiên nhiên vạn vật. Chị tin ở sự chờ đợi ấy, dẫu chỉ là niềm tin mong manh chấp chới mé bờ xa cho một tình yêu không được đền đáp, vậy nên nó có thể dễ dàng tan biến như sắc cầu vồng. Điều đó nói lên rằng, chỉ có một trái tim yêu mãnh liệt đến cuồng say, bất chấp tất cả, mới có thể dũng cảm bày tỏ tình yêu một cách đầy bản năng và quyết liệt đến vậy!
Nhưng sự chờ đợi của chị không hẳn là dại dột, mù quáng. Mặc dù chẳng được anh hẹn hò nhưng chị vẫn tin vào phép màu của tình yêu để sống và chờ đợi… Chị tin ở thuyết nhân quả “ở hiền gặp lành”. Nhưng ông trời thật trớ trêu đã không gắn kết anh với chị mà “xui anh bắt đầu tình yêu với người con gái khác?” Người ta bảo phụ nữ khi yêu thường dại dột mù quáng, nhưng chị vẫn tỉnh táo để nhận ra rằng: “Có phải rượu đâu mà chờ cho rượu nhạt/ Có phải miếng trầu đợi trầu dập mới cay? Dẫu chẳng được hẹn hò, em cứ đợi, cứ say/ Ngâu xa nhau Ngâu có ngày gặp lại/ Kim- Kiều lỡ duyên nhau chẳng thể là mãi mãi”. Chị thật có lý khi viện dẫn ra bao nhiêu “dẫn chứng” để tự an ủi và củng cố niềm tin cho sự đợi chờ. Trong truyền thuyết nói riêng và văn học nói chung, bao mối tình trắc trở rồi cũng được đoàn tụ, mà chuyện vợ chồng Ngâu gặp nhau, dẫu mỗi năm chỉ một lần, hoặc Kim Kiều lỡ duyên nhau mười lăm năm, nhưng cuối cùng vẫn được tái hợp là những trường hợp cụ thể. Chị vẫn mong cuộc đời này cũng có những kết thúc có hậu như thế. Như vậy, sự chờ đợi của chị không phải là phù phiếm mà chính là niềm tin (dẫu mong manh), là cái phao để chị có thể bấu víu mà yêu, mà nhớ, mà khổ đau và không thôi hy vọng. Nói về sự chờ đợi bất chấp thời gian, nhà thơ Vũ Thị Khương cũng viết: “Chắc gì? Đã chắc gì đâu!/ Hôm nay, cả những ngày sau em chờ…” Mới biết, niềm tin ở người phụ nữ là vô cùng mãnh liệt!
Trở lại với mạch cảm xúc của Đoàn Thị Lam Luyến, câu thơ: “Dẫu chẳng được hẹn hò em cứ đợi, cứ say” như xoáy vào lòng người đọc. Ta như nghe được nỗi da diết được cất lên từ thẳm sâu đáy lòng của một người phụ nữ khát yêu, luôn hoài vọng về một tình yêu tròn đầy, vĩnh viễn nhưng lại gặp đầy bất trắc. Câu thơ vừa thực vừa ảo làm toát lên sự cứng cỏi đầy cá tính, nhưng cũng rất đỗi dịu dàng của người phụ nữ khi yêu. Vì tình yêu, chị sẵn sàng thế chấp tất cả dẫu không được sẻ chia, đền đáp. Điệp khúc “Em sẽ chờ”, “Em cứ chờ”, “Em vẫn chờ” như một sự tăng tiến, thách thức với thời gian để làm nên một tình yêu huyền thoại. Có thể sự đợi chờ của chị sẽ là mãi mãi, có thể tất cả chỉ là vô vọng nhưng chị vẫn không nản, vẫn tin vẫn ao ước, mặc dù chị biết ao ước cũng chỉ là…ước ao. Phải chăng, đó cũng là lý do để con người ta có thể quên đi những cay đắng trong cuộc đời để yêu và sống?
Với giọng điệu thiết tha sâu lắng, hình ảnh cô đọng, hấp dẫn, Huyền thoại của Đoàn Thị Lam Luyến là một bài thơ hay, đầy ám ảnh về một tình yêu đơn phương của người phụ nữ. Dù là đơn phương, nhưng bài thơ không có sự chán nản, thất vọng mà thay vào đó là một tâm hồn trong trẻo, đằm thắm; một khát khao rất đời thường của một trái tim yêu mãnh liệt- yêu đến tận lòng. Với ý nghĩa ấy, Đoàn Thị Lam Luyến đã tạc nên một huyền thoại tình yêu đẹp đẽ trong thơ và trong cuộc đời.
Báo Hải Dương ngày 30/10/2020