1. Giọng điệu giễu nhại
Mộng đế vương là cuốn tiểu thuyết giễu nhại. Giọng điệu giễu nhại bao trùm hầu hết tác phẩm, Giáo chủ Nguyễn Thành Nam - nhân vật chính - bị giễu nhại nhiều nhất. Hầu hết những nhân vật liên quan đến Nam, đều bị giễu nhại ( ở mức độ, sắc thái khác nhau), trừ Diệu Ứng - nhân vật chính thứ hai - và một số ít người khác.
Trước tiên là hình dáng bề ngoài của nhân vật này. Ông già tuổi ngoài tám mươi , mặt bé choắt, mũi khoằm, trán dô, hàm nhọn, chân tay lòng khòng, trơ xương. Lưng ông lại gù, dị dạng. Tóc ông màu trắng, dài chừng vài mét, tết lại như sợi dây thừng vắt quanh cổ, chảy xuống lưng, tất nhiên búi tóc không to như của đàn bà (…) Ông mặc quần một ống, có thể gọi là váy, ngắn đến đầu gối, như các cô gái, nhưng lại khoác tấm vải cà sa, để hở một cánh tay, kiểu nhà Phật, trông vừa lạ, vừa khôi hài (tr. 13). Nam luôn luôn đeo bên mình quả địa cầu ran nứt, vết rạn nứt nói lên nguy cơ của chiến tranh hạt nhân. Ông lại đeo bên mình chiếc chìa khóa to tướng, đó là chìa khóa mở cửa hòa bình (tr. 84). Khi đến đại sứ quán Bắc Việt ở Cam-pu-chia, đầu không đội mũ nón, chân không giày dép, người ngợm có lẽ đến chục năm chưa tắm, dáng lại còm, bé choắt, dị dạng. Ông cũng giữ dáng vẻ như thế khi gặp đại sứ Mỹ Bân-cơ (tr.137).
Hơn thế, suy nghĩ, ước vọng, việc làm hoang tưởng của ông mới bị giễu nhại một cách nặng nề nhất. Ông là người kiên trì nuôi mộng đế vương, cũng đồng thời yêu hòa bình, yêu Tổ quốc, thương nhân dân một cách chân thành, pha lẫn ngây ngô. Ông muốn dân tộc, nhân dân hai miền được hòa giải, hòa hợp, điều ấy, lúc ấy là ảo tưởng nhưng cũng là nỗi niềm xuất phát tự đáy lòng ông. Khi thực hiện những điều mong muốn, ông trở nên người lẩm cẩm, xa thực tế. Danh xưng của ông là một mớ lộn xộn, do tự ông (và cả do tác giả) cố ý nêu ra: Nam, Nguyễn Thành Nam, Nam Nguyễn Thành, Pháp danh Thích hòa bình Nguyễn Thành Nam, cậu Hai, ông đạo Nam, ông Đạo Dừa, ông đạo Vừa Vừa, cậu Hai Nam Nguyễn Thành, vua Minh Mạng tái sanh, Hoàng Đế, vua Nguyễn Thành Nam, bần đạo,… Ông được gọi, được tôn là tu sĩ, sư tổ, thánh sống, giáo chủ… Con người Nam, ngoài dáng vẻ kì quặc với những đồ vật phụ trợ lỉnh kỉnh ( ngoài quả địa cầu, đồng hồ, có lúc còn mang theo cái gậy 12 con giáp) tạo nên sự luộm thuộm, nhếch nhác, thì tên gọi một mớ linh tinh, trùng lắp càng góp phần tăng lên tiếng cười và cái nhìn bỡn cợt, coi thường của mọi người. Từ suy nghĩ, ý đồ đến lời nói, hành vi, việc làm ở phạm vi, những chi tiết nhỏ, vặt vãnh đến điều to tát, viển vông khi ở cương vị cao xa ngất ngưởng, Nam đều là đối tượng để giễu nhại, mua vui. Tổ chức đoàn đi ra Bắc để bàn việc hòa giải, hòa hợp thì trên nóc xe để con gà Gô-loa bằng đồng. (Tại đỉnh núi nọ, nơi Nam hành đạo nổi bật pho tượng hình con gà trống đứng trên quả địa cầu vươn cổ gáy. Nam tuổi gà , đạo Nam là thần kê đang cất tiếng gáy báo hiệu bình minh một kỉ nguyên mới của đạo Vừa Vừa (tr. 111). Xe cũng đặt trên nóc một chiếc ghe để nhằm làm phép giảm thiên tai lũ lụt cho miền Trung. Thuê xe đò nhằm hãng có tên Đại Nam . Sắp xếp người đi có đủ thành phần ba miền Trung - Nam - Bắc cho có vẻ hòa hợp dân tộc , để tỏ ra làm vua ở một nước Việt Nam phải là người không có tư tưởng cục bộ địa phương (tr. 209). Tại một hoàn cảnh khác : chọn chàng chụp ảnh có tên là Việt để cùng với ông kết hợp thành: Việt Nam. Đến nơi công quyền sang trọng, gặp những người quyền thế tên tuổi để bàn việc lớn thì mang theo cái lồng nhốt chung mèo và chuột, xảy ra cảnh hài hước : mấy con chuột cống không bỏ chạy, lại ngồi thành một hàng cùng chú mèo ngước nhìn lên sư tổ (tr. 140).
Sự liên thông giữa Trạng Trình cùng câu sấm của Trạng : Bất chiến tự nhiên thành với vua Minh Mạng ( tái sanh) và Cụ Hồ do Nam nghĩ ra, cũng là khập khiễng, vu vơ, làm trò cười cho những người bình thường không lâm bệnh hoang tưởng. Danh xưng đạo Dừa bắt nguồn từ phạm vi ảnh hưởng, vai trò và nội dung Vừa Vừa của đạo này, lại chính tại vùng có nhiều dừa, để rồi giáo chủ dùng nước dừa làm đồ ăn thức uống, tránh dùng nước lã diệt mất vi khuẩn đáng thương; thêm lí thú nữa là dân Nam Bộ nói vừa vừa cũng trật ra âm dừa dừa!, thì đấy là chuyện quẩn quanh , tắc tị, phù hợp với cách nói nói dzậy mà không phải dzậy, rất tếu của những anh Hai Nam Bộ. Nhiều người (kể cả người có vị thế cao) khi bị ông đạo Dừa làm cho mê muội (hoặc giả vờ mê muội) đều chế giễu đạo Dừa, không ít khi ông đạo Dừa bị người đứng ngoài và tác giả chế giễu. Sự tưởng tượng có lúc trở nên cao độ khiến giọng điệu giễu nhại cũng theo đến cùng, cả khi giễu nhại ẩn ý. Chẳng hạn : Người Mĩ vốn tự hào là cường quốc mạnh nhất toàn cầu (…) nay đã trở thành đồ đệ của cậu Hai (tr. 141).
2. Thông điệp ám dụ
Có thể xếp Mộng đế vương vào số những tiểu thuyết lịch sử, kiểu phái sinh. Lạ và khác so với thông thường chăng, là tiểu thuyết này không viết về nhân vật có trong chính sử, mà đề cập một nhân vật tuy có thật nhưng riêng lẻ, lạ kì, chỉ là giáo chủ một nền đạo tự xưng ất ơ, chẳng đâu vào đâu.
Tiểu thuyết lịch sử hiện đại có nhiều loại nhưng không một loại nào có giá trị nghệ thuật nào nếu chỉ thuật truyện quá khứ một cách đơn thuần. Nó phải vừa nói xưa để hiểu lại, hiểu thêm xưa, mà ở nhiều trường hợp, nói nay lại được tác giả và độc giả rất quan tâm. Chính Nguyễn Trường đã viết: Dù truyện viết về lịch sử thì cũng để nói với người đọc hôm nay. Không ai viết truyện hôm nay cho ngày hôm qua (phụ bản báo Văn nghệ Tết Kỉ Hợi - 2019). Khi tái bản lần thứ nhất tiểu thuyết này, độ lùi thời gian và hoàn cảnh xã hội đã giúp tác giả trưởng thành vượt bậc về nghề văn cùng với cách nhìn mới, nhìn thẳng triệt để vào hiện thực. Mở đầu sách, tác giả đã có Đôi lời tâm sự: Tiểu thuyết nêu một hiện tượng lạ, tác giả phần nào lí giải về hiện tượng đó. Nhà văn muốn chuyển tải những tư tưởng, (…) gửi gắm đến người đọc bao điều còn lại hôm nay.
Ngay trong - và đằng sau - những chuyện hài hước, nhố nhăng là bao nỗi niềm về thế thái nhân tình. Xã hội Việt Nam hôm nay đã tiến bộ về nhiều mặt hơn hẳn ngày trước. Nhưng tại nơi này, nơi khác, lúc này, lúc khác, có vẻ như khi kinh tế tăng trưởng, văn minh đi lên thì văn hóa có chiều đi xuống, cái xấu, cái ác vẫn còn đe dọa người lương thiện. Ý thức phản biện xã hội mới đây mới có, nhưng vẫn còn yếu, lại chưa đồng đều ở mọi bộ phận xã hội. Tàn dư của nếp sống cũ, tư tưởng cũ vẫn còn ngự trị. Như trong Mộng đế vương, một số bộ phận dân cư dễ tin điều gàn dở, hoặc lợi dụng cái dở, cái sai, cái bùng nhùng chưa rõ trắng đen, nhằm đục nước béo cò để kiếm lợi. Họ thấy hóa ra đi tu cũng là một nghề kiếm sống vừa dễ giàu có, vừa không phải đổ mồ hôi. Sự chánh quả đến ngay trong một kiếp nhãn tiền (tr. 85). Mất niềm tin thì hùa nhau theo đạo nọ đạo kia, pha tạp lẫn lộn mê tín dị đoan, Thánh, Thần, Phật, Chúa trở nên một mớ tạp nham tốt, xấu, thật, giả: Còn nghi ngờ gì nữa khi giữa ban ngày, một vị hòa thượng đầu cạo trọc, mặc y nhà Phật già hóp má mà người ta đã biết danh phải cung kính, cúi đầu trước Nam thì ai chả tin chả nể (tr. 77). Dân cư Cồn Phụng hầu hết vì đạo Dừa thì ít mà vì lợi ích của bản thân họ là nhiều. Hầu hết dân theo đạo là người trốn lính (tr. 281). Dân tộc này vốn trung hiếu, bảo gì nghe nấy nhưng lại không bao giờ biết làm phản. Vua có sai trái, có làm càn, có ngu muội, dân cũng không hề than vãn, vua luôn luôn đúng, luôn luôn sáng suốt (tr.21). Đấy là chuyện ngày trước ở miền Tây Nam Bộ. Trên mặt chữ, tiểu thuyết hoàn toàn không nói đến hôm nay. Nhưng là văn chương thì độc giả có thể liên hệ có chọn lọc. Độc giả cũng không thể khẳng định rằng tác giả không ám dụ giúp lan tỏa những nghĩ suy có ích cho sự tiến bộ của xã hội. Tôn kính bề trên, trọng danh, phấn đấu để có danh, để khẳng định năng lực của bản thân nhằm góp phần xây dựng sự nghiệp chung, là tâm lí, thái độ sống lành mạnh, nhưng hám danh, hám quyền chức đến mức phi thực tế, hão huyền, bệnh hoạn, để rồi không vẫn hoàn không, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an ninh, lại là mặt trái của đạo đức. Nam muốn làm vua (sự thật đã là vua) , nhưng vẫn khiến người ta nghi hoặc về trình độ văn hóa của ông. Đúng là làm vua phải có con mắt tinh đời mới nhìn ra ai là người trung thành, ai là kẻ phản bội. Nhìn ra được điều đó khó lắm thay, nó cần có trái tim nhân ái và cái đầu tỉnh táo, điều đó không dễ đối với bậc quân vương (tr. 295). Vua ngày xưa khác vua ngày nay (…). Bởi thế lòng dân cũng khác (tr. 236). Nguyễn Thành Nam nói với Dương Văn Minh : Các ông nếu muốn làm tốt hãy làm những gì thuận với lòng dân (tr. 276). Tầng lớp trung gian (vừa trung vừa gian) không phải bao giờ và ở đâu cũng làm đúng ý cấp trên và ý dân. (Dân gian có câu : Trên bảo dưới không nghe). Dân Cồn Phụng nghèo khổ,còn đám quan lại cứ mỗi ngày một giàu có. Tu theo đạo Dừa chỉ là cái cớ, cái vỏ bọc để họ giữ vững chiếc ghế của mình (tr. 182). Dân tại vương quốc Cồn Phụng buôn bán tấp nập, người ta độc quyền ra giá vận chuyển tàu đò. Hàng nghìn người biểu tình phản đối. Độc giả không thể không liên hệ đến tình trạng lợi ích nhóm, nạn tham nhũng hiện nay, tiền của dân của nước cứ chảy vào túi một số kẻ có quyền chức. Tiểu thuyết nhấn mạnh điều quen thuộc : Vua chỉ là ngọn cờ để tập trung lực lượng, trí tuệ của toàn dân. Người cố vấn, người tham mưu giúp việc phải tài giỏi, phải sáng suốt (tr. 92). Bà Nga, vợ Nam , cho chồng biết: ông Lí tể tướng có đến hàng tá vợ. Bà nào cũng dinh thự. Ông ta ăn mặc sang trọng, đi xe đời mới. Bà đau buồn than thở với chồng: Quan lại dưới trướng của ông đang đục khoét nhân dân. Dân đang oán đến tận trời xanh đấy. Những con chuột đục khoét toàn là những kẻ do ông dựng nên. Giặc nội xâm cận kề ông đó (tr. 263). Đấy là những dòng văn nói sát sạt. Mộng đế vương gợi ý góp phần giúp những người cai quản đất nước có thêm bài học kinh nghiệm. Biết quan Tể tướng lạm quyền, gây bè đảng, vơ vét tiền của của dân, Diệu Ứng thưa với giáo chủ : Cậu vẫn nói đất nước của chúng ta là đất nước của Phật, đất nước nhân ái, dân chủ, bình đẳng, mà nay dân sống nghẹt thở (…) cái đó bởi ai ?(…) Cậu cai quản đất nước như ngày xưa thì đâu cần phải công an, cảnh sát nhiều đến thế, mà dân cũng chẳng nổi loạn (tr. 219). Rồi chính giáo chủ cũng phải gầm lên: Ta không ngờ vương quốc Cồn Phụng lại có ngày hôm nay. Vua mà không trị tội được bọn tham nhũng, bọn phản loạn thì còn có là vua không (tr. 253). Hóa ra trước đó ông đã suy đoán rồi : người nguy hiểm nhất xưa nay là người sẽ kế vị (tr. 220).
Rồi đến hoạt động tín ngưỡng, tại giờ phút ông đạo Dừa cầu nguyện ở đầu phía nam cầu Hiền Lương, tác giả viết: Cái dại của bất cứ chính quyền nào là cấm đoán đạo (…). Tốt hơn hết là khuyến khích, giúp đỡ họ trong những việc làm có ích, đồng thời ngăn chặn những việc làm có tính dị đoan, cũng như hoạt động phản quốc (tr. 196). Tín ngưỡng đi liền với niềm tin. Khủng hoảng niềm tin ở nơi này thì đặt niềm tin vào nơi khác. Niềm tin chính đáng, cao đẹp cần được hướng dẫn bởi trí tuệ sáng suốt. Ông đạo Dừa chân thành nhưng hoang tưởng. Tín đồ của ông, nếu là tin thật, thì cũng là đi theo bước chân mê lú lạc đường của giáo chủ mà thôi. Họ đã tưởng tượng ra ông Nam tỏa ra ánh hào quang. Đó chỉ là ảo giác của những người theo đạo muốn làm bề tôi của giáo chủ.
Hiện nay, chùa chiền lớn nhỏ được xây dựng la liệt, có những ngôi chùa rất lớn, choán những không gian rất rộng. Tệ nạn buôn thần bán thánh, mượn cớ du lịch tâm linh để giải tội , kiếm chác lợi lộc đang hoành hành, khiến dư luận xã hội rất bất bình. Một số bộ phận nhân dân làm sai đã đành, cơ sở chăm sóc việc thờ phụng cũng phải có trách nhiệm một phần không nhỏ. Tiểu thuyết Mộng đế vương nói về một nền đạo nhỏ lẻ kì lạ, bát nháo đã gợi cho độc giả suy nghĩ về hoạt động cuả tín đồ đạo Phật chính danh hôm nay.
Về vấn đề hòa giải, hòa hợp dân tộc, phía sau chuyện ảo tưởng, hài hước, bông phèng là vấn đề chính trị xã hội nghiêm túc. Tham gia vào hoạt động này, Nam cho thấy mặt khác của tính cách ông giáo chủ. Chúng ta luôn luôn phản đối chiến tranh, thiết tha mong muốn hòa bình. Chúng ta bắt buộc phải chiến đấu khi không còn cách nào khác. Ông đạo Dừa chỉ đúng, hay về lí thuyết, nhưng lại thiếu hiểu biết, rất huyễn hoặc, hoang tưởng khi thực hiện. Đấy là chưa nói đến vị thế thiếu sự chính danh cần thiết, sau đó là vẻ bề ngoài kì dị của ông. Vấn đề hòa giải, hòa hợp dân tộc chiếm khá nhiều trang của tiểu thuyết bởi vì nó vẫn cần cho độc giả hôm nay. Đây là lời nhắn nhủ đề nghị xóa đi nỗi hận thù để cộng đồng xã hội thương yêu nhau nhiều hơn, cùng nhau góp tâm lực làm cho đất nước mạnh giàu. Trước đây, trong một truyện ngắn tên là Đêm chiến tranh , Nguyễn Trường từng nói về một người lính bên này và một người lính bên kia cùng sống sót nhờ giúp nhau vượt qua bãi mìn, họ đi với nhau suốt đêm đến tận sáng ngày mai. Đọc Mộng đế vương độc giả dễ dàng liên hệ đến tư tưởng Trần Nhân Tông và phật giáo Trúc Lâm. Chỉ có hòa hợp và hòa giải mới là nền móng cho một nền hòa bình bền vững, cho việc hình thành tư tưởng và văn hóa Việt Nam nhân ái bao dung ( Thành Vĩnh, báo Đại Đoàn kết, xuân Kỉ Hợi 2019).
3- Hai nhân vật chính của tiểu thuyết
Diệu Ứng và cậu Hai như hai mặt ngược màu nhau của một tờ giấy. Ông đạo Dừa có vẻ ngoài xấu xí, kì dị, trong lòng hoang tưởng , xa lạ với đời sống thực tiễn và ham làm giáo chủ, làm vua đến mức quái gở, suốt đời mê muội với cái đạo vườn ất ơ tự xưng. Diệu Ứng thuộc về một bộ phận nhân dân tích cực, hành đạo tỉnh táo, cô tượng trưng cho cái Đẹp sáng trong, truyền thống, thánh thiện của trí tuệ tín ngưỡng. Cô đồng tình với cậu Hai ở mức độ phải chăng, hợp lí thuận tình, tuy trình độ văn hóa của cô cũng không vượt tầm một phụ nữ quê mùa bình thường. Diệu Ứng dựa vào cậu Hai mà theo đường tu, cậu Hai có cô cháu giúp đỡ , giữ bền ngôi vị. Diệu Ứng là bộ óc, bàn tay của cậu Hai (tr. 225).
Diệu Ứng luôn luôn hoạt động và suy nghĩ. Cô hầu như không có đời sống trữ tình nội tâm. Tuy nhiên, nhân vật Diệu Ứng không sơ lược, thậm chí còn hút hồn độc giả, bởi nàng đẹp cả về thể chất lẫn tinh thần. Diệu Ứng không ham hố địa vị, tiền của, cô hi sinh tình cảm và hạnh phúc riêng tư. Nếu cậu Hai theo tín ngưỡng một cách u mê và hoang tưởng về ngôi vị, thì Diệu Ứng lại tỉnh táo với tín ngưỡng tươi sáng, giản dị, dễ hiểu của mình. Độc giả thương hại , coi thường, giễu nhại ông cậu bao nhiêu thì lại thương mến, trân trọng và tiếc nuối cho cô cháu bấy nhiêu.
Nhân vật ông đạo Dừa có da có thịt bởi bên cạnh suy nghĩ và việc làm viển vông, kì quái, ông có đời sống nội tâm, nỗi dằn vặt buông níu giữa gia đình và bổn đạo. Ông yêu nước, thương dân chân thành, có xúc cảm ân nghĩa mộc mạc mà sâu đậm của một người bình thường về người thân, buồn về kiếp người lận đận (tr. 43,75, 295). Khi thất bại trong việc lớn, ông càng ân hận xót xa về những việc nhỏ thuộc gia đình mà ông đã bỏ qua, thương người cháu quá vất vả vì mình. Tác giả vẫn dành cho ông những lời trân trọng. Ông lắng nghe trong sâu thẳm tiếng kêu đau thương của bao linh hồn vì chiến tranh mà bỏ mạng. Tu sĩ đau cái đau của chia cắt, nhân dân sống trong nghèo khổ chia li (…) Đã đến lúc đạo phải cứu đời vì đời đang hỗn loạn (tr. 197). Ông đáp lời cố vấn Dương Văn Hiền : Đừng để đất nước thêm một ngày chiến tranh (…) Cậu không thể cứ ngồi nhìn dân tộc Việt Nam chịu thêm một ngày đau thương (tr. 87).
Tương tự, dù lời của bất kì ai, độc giả không cần phân biệt, chỉ biết rằng tác giả có một số lần nói đến mặt tích cực của nhân vật chính thứ nhất, ít nhuốm màu giễu nhại (hoặc không giễu nhại sát sạt). Trái tim nhà tu sĩ vĩ đại không những lo cho đất nước con Lạc cháu Hồng, Người còn lo cho sự yên lành của cả nhân loại. Hoặc Ông ngắm nhìn bản đồ Việt Nam một cách đau thương vì đất nước đang trong vòng lửa đạn cốt nhục tương tàn (tr. 112).
Ông đạo Dừa không phải là một nhân vật thuần tính cách. Xấu xí, nhếch nhác, lẩm cẩm và hoang tưởng thì rõ rồi. Ấy mà nhiều lúc suy nghĩ như là có tầm cao xa, sáng suốt, nói đâu ra đấy. Dám bàn về hòa giải quốc gia, quốc tế ba bốn bên. Cán bộ đại sứ quán Cam- pu- chia coi dịp gặp ông đạo Dừa như trong giấc mơ, như chuyện thần thoại (tr. 103). Nguyễn Cao Kì thì lẩm bẩm: Quái lạ thật, ông già này cái gì cũng biết, lời lẽ lại sắc bén. Thật tình là ta chưa bao giờ thấy ai có cách nói kì lạ đến thế (tr. 158). Tác giả còn viết : Đại sứ Mĩ Bân- cơ chưa từng gặp một nhà chính trị nào dồn ông vào thế bí như Nguyễn Thành Nam đã làm. Rồi cao hứng, tác giả nói quá lên : Lần đầu tiên ông (Bân–cơ) gặp một người đúng nghĩa Việt Nam (tr. 139). Và Bân - cơ đã đáp lại lời đề nghị của ông đạo Dừa : chúng tôi nhất trí để ông làm trung gian dàn xếp cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam (tr. 141). Ranh giới giữa minh tuệ và khù khờ, giữa tin tưởng và nghi hoặc, giữa nghiêm túc và giễu nhại bị xóa nhòa, khiến độc giả phải động não suy đoán trong niềm thú vị.
Trên thực tế, ông đạo Dừa cũng tiên đoán được vài ba việc quan trọng và giúp phần nào vào hoạt động cải tạo xã hội. Dương Văn Minh nghe ông mà xóa bỏ ấp chiến lược. Rõ ràng nhân vật này không khô cứng, một chiều mà có mâu thuẫn trong thống nhất. Quận trưởng quận Một bảo ông chẳng có công lao gì to tát cho quốc gia (tr. 245). Nhưng ông Lí tể tướng lại nhận định công lao của ông đạo Dừa là vô cùng to lớn do dẫn dắt chúng ta đi theo với lí thuyết một xã hội công bằng, bác ái, dân chủ (…), các thế hệ sau sẽ học ông ở tính liêm khiết, ở sự yêu thương nhân loại (tr. 245, 255). Ông, khi này trần tục, khi khác Thánh Thần, vừa đúng trong sai, vừa sai trong đúng.
4. Kết cấu, kể chuyện và dựng truyện
Mộng đế vương được viết theo kiểu vừa kể chuyện vừa dựng truyện, mang ít nhiều yếu tố dân gian và huyền thoại. Mở đầu các đoạn kể, thường có câu (đại ý): Nhà viết sử của Quốc Vương Cồn Phụng viết rằng, Nhà viết sử còn ghi lại rằng (…), Người ta đồn rằng…, Sau này người ta nói rằng… Phần lời hoàn toàn của tác giả không nhiều, mà nhiều chỗ lời tác giả lồng vào lời nhân vật. Tác giả đẩy ý kiến của mình về phía nhân vật, hoặc người dưng một cách nhuần nhị. Thật là khôn khéo, cứ tưng tửng tự nhiên. Vậy là, làm nhẹ đi sự chú ý của người đọc vào câu văn, tác giả cùng lúc làm tăng lên tâm lí tò mò, tạo điều kiện cho độc giả tập trung tìm hiểu đời sống đằng sau trang viết. Lấy cớ về sự tồn tại của tâm lí hoang tưởng, mê muội của ông đạo Dừa, từng tạo nên sự giễu nhại của người đời đối với ông, tác giả nhuốm vào đây đó trong tiểu thuyết sắc màu đậm nhạt chợt đến chợt đi của huyễn tưởng dân gian. Thí dụ : Nam trốn nhà ra đi vào một buổi sáng đẹp trời, mây trắng bồng bềnh trôi tạo thành hình con rồng đang bay lượn (tr. 41). Ông đạo Dừa tả lại cảnh xuống hố sâu: Dưới đó có chiếc tàu bằng đá thiệt , có cả bánh lái. Tôi cầm tay lái thì tàu rục rịch chạy. Tôi nhìn theo trong hang thấy có hai đường. Một đường lên trời, một đường xuống âm phủ (tr. 54). Hoặc : Xung quanh vùng Thất Sơn, người ta đồn đại mãi về vị tu sĩ xuống hang sâu, được Phật tổ tặng áo cà sa (…). Thiên hạ còn đồn đại nhìn thấy trên đầu tu sĩ một vầng hào quang (tr. 70). Nhiều buổi tối, người ta thấy vầng hào quang tỏa rạng trên đầu Nguyễn Thành Nam (…). Người dân trong vùng núi Tượng đã thêu dệt quanh Nam những huyền thoại (tr. 76). Nửa hư, nửa thực, không biết người thấy ảo ảnh là do thôi miên chính mình hay là ông đạo Dừa chính là Thần, là Thánh. Một buổi trưa nắng như đổ lửa ở phía nam cầu Hiền Lương, trên đầu ông đạo Dừa có chiếc lọng vàng che nắng, nó tỏa ra ánh hào quang chói lọi đến hoa cả mắt (tr. 119).
Một chuyện lạ nữa, ít ai ngờ đến xảy đến đối với một người tên tuổi: Dương Văn Minh ngạc nhiên thấy từ ông đạo Dừa một vầng hào quang sáng (…). Dương Văn Minh dụi mắt tưởng mình nhầm. Một lúc lâu ông quay sang hỏi đệ tử đạo Dừa, họ đáp : Có người nhìn thấy, có người không. Người có thông mệnh với sư tổ thì mới nhìn thấy (tr. 274). Giữa huyền thoại với đời sống hiện thực có khi bị tráo lẫn và trường hợp sau đây (liên quan đến Nguyễn Cao Kỳ) thật đắt khi huyền thoại đi liền với hài hước, giễu nhại : Không biết có phải vì nhờ tấm ảnh linh thiêng của cậu Hai mà suốt từ lúc ấy đến lúc lái máy bay trực thăng ra biển đáp xuống tàu Midway của Mĩ đậu ở ngoài khơi sáng ngày 29-4-1975, Kỳ chưa hề gặp sự cố máy bay lần nào? (tr. 164)...
Không biết đâu là thật đâu là giả ở sự việc sau đây. Khi bị nhốt ở Cam-pu-chia, thấy một con ngựa trắng, ông đạo Nam reo lên rằng con ngựa của Hoàng thân Xi-ha-núc đến thăm mình. Sau này, nhiều lần Nam kể lại, cho rằng nó không phải ngựa thường. Nó là con ngựa thần. Hẳn là khi ông đạo Nam bị giam, Bồ Tát đã cho con của Tây Hải Long Vương đến thăm. Đệ tử đạo Dừa cúi đầu vâng dạ. Vậy là giáo chủ của mình đã là thần thánh rồi (tr. 101).
Hiểu theo nhiều nghĩa thì cả cuốn tiểu thuyết Mộng đế vương gần như một vở kịch hài, nó ôm bên trong những lớp kịch. Nó đương nhiên mang phần lớn giọng điệu giễu nhại ở hai mức độ lộ và ẩn. Chính vì cần giễu nhại mà tiểu thuyết được náu mình trong hình thức kịch hài. Từ trang đầu đến trang cuối, các lớp kịch được xếp chồng lên nhau, có khi đảo lộn trình tự thời gian. Nhiều nhân vật vào vai diễn viên. Một số có danh xưng mà không vào vai. Hiện thực đời sống được kể ra, dựng lại chẳng khác gì kịch. Vương quốc đạo Dừa đâu phải chính danh. Đóng kịch thôi. Tín đồ đạo Dừa cũng không chính danh, đóng kịch theo vua giả. Diệu Phi tự ý vào vai vợ vua, làm như ở đời thật, bị Diệu Ứng lột mặt nạ, phế truất. Nguyễn Cao Kỳ, Bân-cơ cũng đóng kịch hài hước với ông đạo Dừa. Riêng cán bộ đại sứ quán Cam-pu-chia đóng kịch vui, bởi vì người ta không liên quan đến vương quốc đạo Dừa, không thể hài được. Khi đạo Nam và một số bề tôi đóng giả vua, thì đó là họ đã vào vai hài cùng lúc hai lần: kịch trong đời thường và kịch trên sân khấu sàn diễn. Màn kịch đóng vua giả diễn ra vào ngày 13-5-1990 tại khách sạn Đế Vương thì chính tại đó, ngài đạo Dừa băng hà. Thời điểm diễn ra cái chết của ông được tách đôi, nửa màn kịch đặt ở đầu sách, nửa còn lại xuống cuối sách. Vì thế, nói rằng cái chết của ông đạo Dừa mở đầu tiểu thuyết hoặc khép lại tiểu thuyết đều đúng.
5- Mấy lời nói thêm
Phải chăng, đúng lúc sách đang chuẩn bị tái bản gấp thì tác giả lại cần khẩn trương rút từ tư liệu gốc (đã dùng để viết Mộng đế vương lần đầu) tạo ra hai truyện ngắn Vương quốc mộng mơ và Khai khẩu, cho nên sách được sửa chữa có đôi ba chỗ chưa ổn?
Nam chuyển hướng từ tu hành sang làm chính trị quá nhanh, hầu như không có phần đệm của sự chuẩn bị.
Cảnh đá gà quá sinh động. Đối với Nguyễn Cao Kỳ thì có sức thuyết phục, do ông ta có điều kiện về môn chơi này. Nhưng đối với Nam thì độc giả có thể nghi ngờ rằng ông này luyện đá gà từ khi nào và ở đâu nhỉ, bởi vì ông u mê trong cái mộng đế vương suốt từ thời trai trẻ cho đến năm 1975.
Một số nhân vật lúc này, lúc khác cứ lặp lại nhau, lặp lại mình một vài cử chỉ, thì do tác giả sơ ý hay cũng là biện pháp giễu nhại đây? Xin nêu ra 11 trường hợp: Thầy bói toát mồ hôi trán, Diệu Phi toát mồ hôi, Bân-cơ toát mồ hôi trán, Kỳ tái mặt, Mặt Kỳ đầm đìa mồ hôi, sắc da từ đỏ au chuyển sang nhạt, Mặt Kỳ tái dại đi, Cậu Hai tái mặt, Ông Hiền mặt đầm đìa mồ hôi, Ông Lý tái mặt, Dương Văn Minh rùng mình, người toát cả mồ hôi, cười ruồi.
Một số cụm từ, cách nói có thể chưa xuất hiện ở thời đoạn trước năm 1975, như: kinh tế thị trường, là cái chắc, tâm phục khẩu phục, chi dấu, xã hội hóa, v.v.
*
* *
Được in lần đầu năm 1992, buổi ấy tiểu thuyết Mộng đế vương như một cái cây mọc lên ít người để ý. Nay, sau hăm bảy năm chủ vườn vững nghề hơn, chăm sóc vườn tại một hoàn cảnh mới, cây đã ra hoa, kết trái tưng bừng, lôi cuốn sự chú ý khá sâu sắc của mọi người thụ hưởng. Chúc mừng nhà văn Nguyễn Trường, trong hai năm 2018, 2019 đã tạo được tiếng vang cả về truyện ngắn và tiểu thuyết.