
LẶNG THẦM TỰ KHẮC HỌA THÀNH TÊN
(Đọc “Lời thầm” của nhà thơ Hạnh Mai, Nxb Hội Nhà văn, 2018)
“Lặng thầm tự khắc họa thành tên”. Đó là câu thơ của nhà thơ Hạnh Mai, tôi lấy làm tiêu đề cho bài viết của mình về tập thơ “Lời thầm” và con đường thơ của chị.
Tập thơ đầu tay có tên là “Đám mây bay qua”, trình làng năm 2010. Hai năm sau, năm 2012, tập thơ thứ 2 “Điều bất chợt” được xuất bản. Tên của các tập thơ giàu thi ảnh, gợi mở và nữ tính. Sau sự náo nức ban đầu ấy, có đến 6 năm, năm 2018, tập thứ 3 mới chào đời với “Lời thầm”. Đó là khoảng lặng để chị nhìn lại và đi tới trong thơ.
Từ tập đầu đến tập thứ 3, trong thơ Hạnh Mai đã có sự chuyển động “chầm chậm tới mình”. Có thể nói, thiên tính nữ là từ khóa để đến với thơ chị, đến với “Lời thầm”. Nó mở ra vẻ đẹp của tấm lòng trân quý gìn giữ ký ức kỷ niệm, vẻ đẹp của lặng lẽ đợi chờ: “Người đi tăm cá bóng chim/ Ta khêu lửa đuốc soi tìm dấu chân/ Người đi nhẹ bước phù vân/ Ta phong gói những mùa xuân đợi chờ”. Câu thơ đẹp bởi lối nói của hoa Mộc, loài hoa mà chị yêu quý.
Thiên tính nữ là thiên hướng tư duy nghệ thuật, là đặc điểm của các tác phẩm mang bản sắc nữ hoặc đề cao những phẩm giá của phụ nữ. Đây là nét đặc sắc, khá phổ biến của văn chương, của thơ đương đại.
Trong thơ Hạnh Mai thiên tính nữ biểu hiện khá đa dạng với nhiều cung bậc, nhiều trạng huống, thậm chí qua những tương phản mà thống nhất: Đông đảo và cô đơn, dịu êm và mạnh mẽ, cái tôi và cái ta, bằng lòng và khát vọng, hướng nội và hướng ngoại, đối diện và hòa hợp…Đó là biện chứng của tâm hồn. Ta hãy cùng lắng nghe “Lời thầm cho anh”: “Anh và em như trời và biển/ Trộn vào nhau mọi sắc thái buồn vui…/ Thôi, anh cứ là trời đi nhé/ Mỗi giọt mưa cũng thấm mát đất lành”. Còn đây là “Điều bất chợt”: “Rộn ràng trái tim thiếu nữ/ Đập trong khuôn ngực cỗi cằn”. Và thậm chí: “Dẫu biết chỉ là vàng giả/ Mà không nỡ vứt, người ơi!”. Trong cuộc sống còn mong manh sáng tối, là người trọng tình và chân thành, chị viết nhiều về “Lời thề gió bay”: “Lòng người trong đục lững lờ/ Thuyền tôi quẩn giữa đôi bờ thực hư”.
Không diêm dúa, thơ Hạnh Mai luôn hướng tới đời sống cần lao để chia sẻ. Bằng tấm lòng trắc ẩn và đa cảm, chị thường viết về người phụ nữ yếu thế, về những người cùng giới với mình.Viết như tâm tình cộng cảm. Viết như để cho vơi nỗi buồn. Đó cũng là biểu hiện của tính nữ trong thơ. Ta gặp “Người đàn bà sửa xe”: “Bơm căng bao nhiêu ruột săm/ Mà đời bà lép xẹp gốc bàng/… Bây giờ bà hay lơ đãng/ Nghe dòng đời loang loáng trôi qua”. Gặp người phụ nữ bán hàng rong là bệnh nhân phong, ta thấy tác giả: “Đặt vào tay chị vài trăm/ Tôi mua về niềm xa xót trở trăn”. Và ta gặp “Bà còng dắt tay bà mù” đi hội…Mỗi khi viết về Mẹ, người phụ nữ mà chị yêu thương nhất, ngôn từ lại trở nên rưng rưng. Thơ nhờ thế mà thấm thía, gần gũi với con người, với đời thường. Và phải chăng, phẩm chất thiên tính nữ ấy đã lặng thầm làm nên vẻ đẹp trong thơ Hạnh Mai.
Không ồn ã, thơ chị dịu dàng và thao thức trong âm bản. Những bài thơ ấy, tôi thường đọc trong đêm. Thơ là câu chuyện của một đèn một bóng, cứ lặng thầm cùng đi tới ban mai. Có những câu thơ giàu thi ảnh, đẹp mà nhói sáng, hiện lên trước hừng đông ngày mới: “Bà lão cào nghêu từ sớm/ Dáng còng đổ xuống ban mai”. Có những câu thơ ám ảnh người đọc: “Những con mực mắc câu đêm đưa lên vỉ nướng/ Dài thượt ra chờ đợi cuộc hành hình/ Cặp mắt long lanh/ Cứ nhìn vào ta ứa lệ…”.
Bên cạnh thiên tính nữ, với “Lời thầm”, nhà thơ đã bổ sung vào bản lý lịch của tâm hồn mình hàm lượng suy tư và nghĩ ngợi. Mở rộng điểm nhìn. Thế sự và thời cuộc. Sóng Biển Đông đã tràn vào thơ chị. Và “Miền Trung”, nơi nhà thơ sinh ra lại hiện lên với ưu tư và nhức nhối: “Biển chết rồi, thuyền trắng những mộ phơi”. Cái nhìn và điểm nhìn trong thơ Hạnh Mai cũng đa dạng hơn trước. Không chỉ nhìn một chiều, nhà thơ đã có sự hoài nghi và chiêm nghiệm trước hiện thực được phản ánh: “Hạ Long biển trời xanh biếc/ Tự dưng ào ạt cơn mưa/ Ô hay, đã chọn ngày đẹp/ Trời xanh tôi cũng nghi ngờ”, “Tôi ngồi bứt cỏ bờ đê/ Đưa lên miệng nhấm “Lời thề cỏ may”. Đó có phải là manh nha của đối thoại theo tinh thần dân chủ. Đây là điều đáng quý với một giọng thơ nữ hôm nay.
Tuy không nhiều, vẫn còn những câu chuyện riêng tư, nhưng thơ Hạnh Mai cũng xuất hiện một số bài khái quát hơn, phổ quát hơn. Viết về hạt thóc để thấy cánh đồng. Trước hết, chị viết từ nỗi niềm của chính mình. Nhưng đó còn là nỗi niềm của bao người khác. Tôi tin rằng, còn nhiều người vợ, người phụ nữ cũng sẽ nhận ra bóng dáng mình trong bài thơ “Nhớ” của chị: “Chiều nay quán cóc/ Ta ngồi cô độc/ Giữa đời mênh mông/ Mình như con gió/ Lang thang bên trời/ Ta thành giọt nước/ Theo mình bay hơi/… Buồn rơi đáy cốc/ Ta ngồi nhâm nhi”. Và trong những người phụ nữ ấy có bao người đang rơi cùng tác giả: “Tôi rơi tôi trong bếp/ … Tôi lẫn vào xoong nồi bát đĩa/ Hay tôi là cây chổi quét nhà?”. Tự đánh mất mình. Rơi hay là sự trở về trong bản ngã.
Tuy vậy, trong thơ Hạnh Mai vẫn còn nhiều diễn giải và tự sự. Trong những trường hợp đó, thơ trở nên dềnh dàng, sự lấn át tình. Dường như, chị vẫn còn vương vấn quan niệm mỗi bài thơ như là một câu chuyện. Vì thế, lô gic trong thơ cũng cần được kể lại có đầu có cuối. Ở đây, cần có sự vượt thoát! Thơ hôm nay hướng đến những khoảng đột sáng từ tưởng tượng, từ " cảm xúc trí tuệ ", từ những giấc mơ phi lô gic… Hướng đến không gian ảo mờ và suy tưởng trong thơ. Nhịp sống mới và người đọc hôm nay đang đón đợi ở các nhà thơ sự sáng tạo đổi mới trong biểu đạt.
Vốn là một kỹ sư kết cấu, nhà thơ Hạnh Mai đã tự xây cho mình cái nền thi ca từ vẻ đẹp của phái tính, từ niềm thơ say đắm. Tôi xin kết lại bài viết của mình bằng một cặp lục bát đằm thắm, duyên dáng,tinh tế và giàu thiên tính nữ của chị:
Đôi khi bỏ máy lặng thinh
Để còn nghe tiếng lòng mình đổ chuông
Tôi tin rằng, trong điệp trùng của lục bát đâu đây, cặp 6/8 này khiến người đọc chúng ta nhớ mãi về một gương mặt thơ đang “lặng thầm tự khắc họa thành tên”
Tháng 11/ 2020

Người gửi / điện thoại