" NHÀ THƠ HỌA SĨ HOÀNG HỮU
TRÁI TIM ĐẬP GIỮA PHẬP PHỒNG LAU CỎ..."
NGUYỄN THAM THIỆN KẾ
Hoạ sỹ, nhà thơ Hoàng Hữu tốt nghiệp Đai hoc Mỹ thuật Công nghiệp - tên thật là Nguyễn Hữu Dũng sinh 24. 9. 1945 tại Tiên Lãng - Hải Phòng. Mất 30.12. năm 1981 - 4.12. Tân Dậu - tại Vĩnh Phú. Giải B năm 1981 của cuộc thi Thơ do Tuần báo Văn Nghệ - Hội Nhà Văn Việt Nam tổ chức cùng với nhiều tặng phẩm và giải thưởng trong nước và Quốc tế về đồ hoạ.
Tác phẩm chính: Khói ấm sau cây- thơ - Hội VHNT Vĩnh Phú xuất bản 1982.
---------------
Mùa thu năm 1980. Bệnh viện Việt Trì. Buổi chiều. Những tàng giã hương, bạch đàn chanh chầm chầm toả hương và xạc xào rung giữa gió... Khoác balo tôi băn khoăn đứng trước cánh cửa sắt sơn xanh tróc rỉ khép chặt của Trung tâm cấp cứu, tự vấn: Lẽ nào người hoạ sỹ có tên là Hoàng Hữu, lại làm việc ở đây. Trong túi áo ngực tôi cộm lá thư tay của vị chủ nhiệm chính trị sư đoàn trung tá Phạm Quế Dương, ngoài bì thư chỉ dẫn đúng địa chỉ này.
Có hơi thở và bước chân sẽ sàng phía sau lưng, tôi quay lại. Người đàn ông mảnh mai, không, không phải là mảnh mai mà là mỏng như một bìa đậu tem phiếu, nhưng lại cứ khiến tôi liên tưởng đến thứ thuỷ tinh trong suốt, tan giòn, người đó cũng đang cầm trên tay hai bìa đậu gói lá chuối buộc rơm và bó rau muống úa cằn. Một bàn tay có ngón như búp huệ. Tôi rùng mình vì thấy đàn ông mà có bàn tay đẹp kiểu phụ nữ. Mũi cao, mắt ngời ngợi, tóc xoà đen mướt cả vầng trán hào hoa. Chấm nốt ruồi duyên ngay bên dưới cằm. Quần tuýt-xi xám kẻ ô mờ, áo cộc tay màu mơ chín đậm. Dép cao su do các xưởng của người Hoa Chợ Lớn sản xuất, đế bằng và cao, mà thời đó người ta gọi nôm là sì-bô...
- Em tìm gặp ai? Nếu người ta ở đây thì anh có thể giúp được.
Nhỏ nhẹ, nhưng âm sắc đầy khí chất lịch lãm đàn ông. Cảm giác nồng ấm và dịu dàng nào đó khiến tôi chỉ muốn giãi bày một điều gì đó mà không thể rành rẽ. Vâng, cảm giác đó thật đặc biệt.
Và không lâu sau tôi hiểu cái cảm giác đó khởi phát là từ Hoàng Hữu. Kết thúc số phận khi 37 tuổi, giữa lúc tài năng thật sự phát lộ. Anh đối xử với cuộc đời cũng thật đặc biệt. Người đời đối xử với anh cũng đặc biệt.
Bởi Hoàng Hữu dường suốt đời không dám nghĩ xấu cho ai. Và, người đời cũng không ai có một ý nghĩ xấu về anh. Lạ thường, nhưng đó lại một sự thật. Đó là một thời khốn khó miếng ăn, manh áo nhưng trong trẻo, ai cũng chỉ muốn làm đẹp, muốn nói tốt về nhau, sự hy sinh cái tôi được đề cao.
Vầng ngực màu mơ phập phồng, phập phồng rung động. Phập phồng mà không thấy gió. Ngoài kia lá gĩã hương, lá bạch đàn chanh xạc xào. Không hiểu sao tôi lậi lấn bấn, hai tay hết móc túi áo ngực lại lôi giật chiếc ba lô lộn ra khỏi vai.
Thì chính lúc ấy như có phép màu, bức thư trong túi ngực tự dưng mắc trong kẽ thay tôi liệng nghiêng nằm ngay dưới chân người đàn ông. Anh định cúi xuống, nhưng không thể, một cái nhăn mặt, khí sắc anh xanh xám. Anh tựa vai vào cánh cửa sắt. Hai miếng đậu và bó rau muống trong tay anh cũng bịch xuống. Trong lúc tôi bối dối đỡ anh, thì anh nhắm mắt. Cái nhắm mắt chỉ một phần mười giây .
- Mình chính là Hoàng Hữu đây...
Đã không chút ngạc nhiên khi tôi nghe thấy người đàn ông nói vậy. Chắc anh đã nhìn thấy chữ ghi trên phong bì. Hoàng Hữu nắm túi quần tìm chìa khoá. Bệnh viện đã trang bị hẳn cho anh cả chìa khoá trung tâm. Quả là bệnh nhân đặc biệt...
Phòng bệnh nặng kê bốn giường. Nhưng chỉ có mình Hoàng Hữu. Hai cửa sổ lớn mở thông hai mặt đường dạo nhiều bóng cây. Giường Hoàng Hữu liền cửa ra vào, kê sát tường phía trong. Mặc dù gian phòng rộng nhưng hình như chủ nhân cũng không dám chiếm dụng quá phạm vi tự nhiên của chiếc giường. Chăn sợi bông cào, màn, bản thảo, giấy, giá vẽ, sách, tạp chí, bột màu, bút lông, bếp điện dây nhiệt trần, phích nước, một bát, một đôi đũa, một thìa, giày, dép ...tất cả những thứ cần thiết cho nhu cầu tối thiếu của cuộc sống và làm việc lâu dài ở bệnh viện đều được Hoàng Hữu sắp đặt gọn, đẹp. Sự nề nếp ấy đã cố gắng thu nhỏ đến mực không thể thu nhỏ hơn tựa như lời lỗi vì sự đau ốm lâu dài của mình đã gây phiền nào đó cho mọi người.
Tôi ngồi nơi góc giường đơn trải tấm chăn dạ màu cỏ úa mòn trơ cốt sợi trắng, sực mùi tân dược. Tại sao hoạ sỹ không xem thư gửi cho ngay mà lại bỏ đi để người lạ trong phòng một mình. Chồng bản thảo của các NXB đợi vẽ bìa xếp cao. Những phác thảo bìa. Bản thảo mấy cái truyện ngắn, và bản thảo tập thơ KHÓI ẤM SAU CÂY đang quá trình tập hợp. Một tập thơ dư vị xa xót, có nhiều bài đề tặng người thân và bạn bè như là lời xin lỗi hay chia tay sớm.
Tôi chú ý đến chiếc bìa anh vừa mới vẽ. Bìa tập kịch NGUYỄN TRÃI Ở ĐÔNG QUAN của Nguyễn Đình Thi. Toàn bộ nền đen kịt và bảng lảng vân khói xám mờ chìm trong nền đêm quánh ấy là ngọn huyết lạp đỏ chói cháy gần cạn mình, ròng ròng nước mắt đỏ...Nghe nói Nguyễn Đình Thi đã rất mê chiếc bìa Hoàng Hữu vẽ, nhưng rồi không thấy nhà xuất bản đó dùng.
Tôi không dám xác quyết, sau Hoàng Hữu những năm tám mươi của thế kỷ trước hình như tận bây giờ những người vẽ bìa và trình bày sách của nước nhà tạo được dấu ấn đậm cá tính chỉ có thể kể đến Văn Sáng và Trần Đại Thắng. Cái dấu ấn của cả ba đặc trưng chỉ cần đặt ba quyển sách cạnh nhau, người ta có thể nhận ra ngay ai là ai...
Trở lại với chiếc bìa NGUYỄN TRÃI Ở ĐÔNG QUAN của Hoàng Hữu, ngoài cái ý tưởng nói một tiếng nói độc lập nhưng song trùng với chủ đề vở kịch điều đáng nói thêm là ở vấn đề kỹ thuật. Làm đồ hoạ bây giờ sợ thiếu ý tưởng chứ không thiếu kỹ thuật thể hiện. Nhưng vào thời điểm đó người hoạ sỹ chỉ có mỗi cách trần mình ra mà thử sắc độ màu, thử kiểu chữ, thử bố cục trên các phiên bản khác nhau...
Với người sức khoẻ bình thường thì còn oải huống hồ với một người đã mổ tim hơn mười một năm như Hoàng Hữu thì không thể hình dung trái tim ọp ẹp nơi anh lao lực đến đâu.
Qua khung cửa sổ, anh bỗng vẫy tay thân tình :
- Em ra đây một lát đi...
Chậu men lưng nước máy. Khăn mặt trắng. Xà phòng Ngọc Lan đã được bày lên bệ cửa sổ từ. Với sức vóc anh lại bệnh tim như anh mà chu đáo được với tôi như thế thì không hiểu. Trước khi tôi rửa mặt, Hoàng Hữu san nước bớt ra chiếc bi đông nhỏ. Trong lúc tôi chỉnh trang hình ảnh, thì Hoàng Hữu rót nước từ bi đông ra chiếc cốc nhựa dùng để đánh răng. Anh nghiêng cốc nước qua những ngón tay mang mướt trắng xanh của mình xuống khóm hoa hồng trồng chiếc xô nhựa đang vươn lên cao sắp tới gờ bệ của sổ, đã đôi nụ. Khóm hoa hẳn đã được anh râm cành. Tôi cũng đã ngắm các thầy tu mỗi buổi sáng, buổi chiều họ cũng tưới hoa bằng thứ nước mà họ sẽ dùng rửa mặt. Và, gương mặt họ cũng thanh thản, tự tin như là gương mặt Hoàng Hữu lúc nay...
Trở vào phòng loay hoay một lúc chẳng hiểu Hoàng Hữu đã lôi được ở đâu ra mấy chuối tiêu trứng cuốc, nhúm lạc rang vẫn đủ độ giòn bày lên cái khay sơn mài hình trứng sậm màu rượu vang. Anh bây giờ mới mở lá thư tay ra đọc. Đọc xong anh bặm môi hỏi, như để cũng cố thêm một quyết tâm nào đó.
- Em có mang theo bản thảo ở đây không ?
Tôi dạ vội gật vội rồi gần như là dâng lên cho Hoàng Hữu tập bản thảo nặng trĩu đánh máy trên giấy mặt nhám mặt nhẵn. Anh nắm hai cánh tay tôi lắc lắc mà rưng rưng. Nhưng hai cánh tay tôi không nhúc nhích mà chỉ có tay anh chuyển động.
- Em trẻ thật đấy. Trẻ thật là trẻ...thích thật...
Chợt nhớ năm ấy, nhà văn Nguyễn Tuân lên thăm Phú Thọ, trong bữa tiệc UBND tỉnh tiếp danh sỹ, tôi và nhà văn Văn Chinh lúc bấy giờ cũng là trẻ nên được ông cho ngồi cạnh. Nguyễn Tuân cũng đã cầm cái ba-tong hèo nổi tiếng mà gõ âu yếm vào đầu hai chúng tôi mà rằng.
- Ôi là là cái..bọn trẻ này. Ta thấy ghét tuổi trẻ làm sao...Ta ghét thật đấy.
Bây giờ tôi không còn trẻ nên mới thấm cái cách thèm trở lại và chiêm ngưỡng tuổi trẻ của một người ốm như Hoàng Hữu và một người già như Nguyễn Tuân.
Người hoạ sỹ nắm tay che miệng ghìm cơn ho húng hắng.
- Để kịp có bìa sách em mang về đơn vị sáng mai, thì anh phải vẽ đêm nay mới kịp được. Đúng ra là anh phải đọc xong bản thảo mới vẽ hay được. Thôi để về nhà anh vậy. Đã lâu anh không có lý do để về nhà.... Em biết nấu cơm chứ, về nhà ..về nhà đi..- Hoàng Hữu ngập ngừng - anh em mình cùng nấu cơm...
Anh buông thõng vai, mắt ướt. Tôi bỗng lo lắng cho anh nhưng không dám hỏi. Nhưng sau thì biết, chị Minh, vợ anh là giáo viên Trung văn khi đó không có việc phải chuyển đổi học tiếng Nga ở tận Trâu Quỳ. Chị đi học với một suất lương giáo viên mà mang theo hai con nhỏ. Hoàng Hũu bệnh tim ở nhà tất cả trông cậy vào mỗi vòng tay bè bạn từng đận, từng khúc. Lúc thì vợ chồng bác sỹ Thắng-Phượng bác sỹ Huy Mai, lúc nhạc sỹ Cao Khắc Thuỳ, nhà văn Nguyễn Hũu Nhàn, đặc biệt là hoạ sỹ Nguyễn Đài người ngày ngày tháng tháng cùng mâm, cùng giường với Hoàng Hũu.
Tôi ngoắc lại chiếc ba lô lộn đựng bản thảo lên vai, cầm hai miếng đậu phụ và bó rau muống cằn nơi ngoài của buồng bệnh, Hoàng Hũu thì lạch xách khoá cửa thì bỗng có tiếng đàn ông rít lên trì triết, sụ trì triết đầy thương yêu chứ không cay nghiệt:
- Giỏi nhỉ, lại trốn về nhà...Lại bỏ cơm...
Tôi nhìn ra nơi chân cầu thang lên gác 2 thấy ông già nhỏ thó, kính thẫm trễ sống mũi, đang gằm mặt nhìn. Hoàng Hũu mặt đỏ bừng bừng, liền thì thào như trẻ con bị bắt quả tang ăn trộm hoa trái.
- Bác sỹ Huy Mai, viện trưởng kiêm thi sỹ đấy. Em lễ phép vào nhá, ông này hợm tài, mà tài thật chứ không tài giả, quan to hay quan bé người nhà hay ngươi dưng tất cả đều là con bệnh bình thường trước mắt Huy Mai, để anh lựa khéo may ra mới thoát.
Hoàng Hũu liền lấy lá thư của trung tá Phạm Quế Dương ra trình. Đọc chưa xong, ông bác sỹ đã chém vèo tay vào khoảng không trước mặt.
- Được. Chiếu cố bộ đội. Chiếu cố chiến tranh. Nhớ uống thuốc và phải có người ngủ cùng. Nhớ xin phép bác sỹ Phượng trưởng khoa...
Tôi giơ hai miếng đậu thắc mắc.
- Hôm nay không có em thì anh vẫn bỏ cơm viện cơ mà...Anh định về nhà nấu ạ...
Anh cười khẽ, nhìn xa.
- Anh ra cổng viện hóng mát, thấy người ta tíu tít mua thức ăn tối về nhà, nên bị cuốn mua theo. Mua xong mới biết chẳng thể làm gì...Cũng may nó như điềm báo là sẽ có khách là em đấy thôi...
Từ bệnh viện về khu tập thể trường cấp III Việt Trì vòng vo cũng chưa hơn nghìn mét đường chim bay. Việt Trì những năm tháng ấy cây dại um tùm. Sắn, khoai, củ từ củ kiệu trồng len trên từng mét vuông đất màu dọc đường sắt ven lối mòn, nhưng vẫn có ruộng bỏ hoang cỏ để sim mua lấn mọc. Mỗi bước đi trung du lúc nửa cao lúc nửa thấp. Qua một xóm đồi. Qua khe ruộng cạn. Ngang vạt rừng sót trám đen, lưa thưa lau xám, lối sỏi tím chìm giữa hoa cỏ may khía sâu vào sườn đồi hoa trinh nữ.
Không nhớ là anh đã phải ngồi nghỉ bao nhiêu lần. Bên khóm sim cằn, hoa bừng tím cả một khoảng trống, người hoạ sỹ định đưa tay hái một bông, không hiểu sao lại ngừng tay. Anh ngắm khóm sim, như lần thấy nó.
- Em thấy lạ không. Khóm hoa này nếu không bị ai đó cắt làm củi, thì tự nó có thể sống tới cả trăm năm. Nó cũng là sự sống, ta cũng là sự sống sao khác xa nhau thế. Sự sống của con người, có tình yêu, có ý thức vậy mà ngắn ngủi vô cùng so với chỉ một loài cây dại. Con người tuyệt diệu thế, chết đi vậy đằng sau thân xác con là năng lượng tinh thần phải chuyển đổi về trạng thái không gian nào đó chử nhỉ.- Anh không nhìn tôi nói tiếp - Thời gian của anh tồn tại ở dạng con người ý thức đã sắp kết thúc rồi. Tim anh đã mổ được hơn mười mười năm...Bây giờ mới nhận ra là còn bao nhiêu việc phải làm và còn bao nhiêu người mình còn nợ họ. Anh đang đếm từng giây từng phút sống của mình buột qua qua chính nhịp đập trái tim mình...
Tò mò tôi hỏi anh có vẽ được nhiều tranh, làm được nhiều thơ không. Thơ và tranh anh tôi đã biết đến nhiều trên tạp chí Sáng Tác Mới, Hoàng Hũu lắc đầu khẽ.
- Anh lấy đâu sức mà vẽ tranh lớn. Nếu có sức thì cũng không có tiền. Làm mỹ thuật trước tiên là phải có tiền thì mới hay ngay được. Tuy nhiên ở những hoàn cảnh khác, người hoạ sỹ có tài nếu chứng minh được tài năng cho công chúng thì cơ hội của anh ta sẽ đến. Tạng anh chỉ hợp với đồ hoạ và tranh thuốc nước, sơn dầu khổ nhỏ, làm thơ nhì nhằng. Tranh , tượng, văn xuôi thì có thể nói đến số lượng. Thơ thì không. Thơ chưng cất từ nỗi đau mà ra. Người ta vẫn có thể làm thơ không phải từ nỗi đau. Nhưng đó chỉ là sự phô diễn kỹ thuật ngôn từ và quảng cáo tình cảm như bán thuốc dạo ...Những bài thơ hay có thể nên đặt bài vị mà thờ.
Tôi thận trọng khom lưng, đặt Hoàng Hữu xuống trước cánh cửa căn phòng quấn xích xe đạp khoá khoá Viro. Phải, tôi đã cõng anh lội qua nương nước tưới lúa và vượt lên con dốc đất lên khu tập thể giáo viên dựng ngược 45 độ dư. Tôi đã cảm thấy cái rùng mình bất giác bất lực của anh trước con dốc, nhưng cũng phải khó khăn lắm tôi mới thuyết phục được anh. Cảm giác về trọng lượng cơ thể anh trên lưng tôi chỉ như bó rạ hong nắng lâu, nhưng nhịp đập trái tim anh thì quằn quại như con chim bị nhốt trong hộp giấy. Mà, bất cứ lúc nào con chim cũng có thể ngừng đập cánh hoặc hộp giấy sẽ bị vỡ oạc để con chim thoát ra bay đi...
Hai anh em còn đang thở dốc thì ai đó đã kêu váng như loa phong thanh phường.
-Ôi mọi người ơi chú Hoàng Hữu lại bị đi cấp cứu rồi. Ai ở gần lại đây mau cứu người mau đi....
Tức thì người ở đâu đó táo tác dồn đến vây lấy hai anh anh em. Nhưng khi hiểu ra thì ai cũng xuýt xoa;
- May đấy, vì thấy có người cõng cứ ngỡ chú lại bị ngất. Tuần trước mà không có chú Nguyễn Đài ngủ cùng cõng chạy thì cũng nguy to ...
Hoàng Hữu cảm ơn mọi người rồi tần ngần.
- Khổ thế, sống bên cạnh những người tốt quá cũng bị cái khổ là luôn luôn phải mang ơn mà không thể trả. Nhưng bị sống cạnh người xấu thì mình cũng dần dần trở nên hằn học, cáu giận vì bực. Thế là mình cũng xấu đi một phần...
Căn phòng đầu hồi, cánh gỗ sơn lá cây già phai nắng, lá dây sắn dây khô bạc phủ kín ngói, dãy thứ hai liền con dốc là nơi ở gia đình Hoàng Hữu. Mảnh vườn tăng gia trước cửa, rào nan tre, chằng buốc lốp xe đạp hỏng. Rau muống, rau đay, ngót, ớt, mùng tơi. Và, hai cây đu đủ, một cao vóng, một thấp tè, quả lúc lỉu, lá xơ xác. Hai cây đu đủ cư như thế đã đi vào thơ Hoàng Hữu với vị ngọt mát lành tặng hai con gái anh.
Khoảng 20 mét vuông, kể cả phần lấn ra theo mái trước mái sau, là nơi ở và mưu cầu hạnh phúc của bốn con người. Bếp than quả bàng. Bếp đun dầu. Chuồng gà. Ba chiếc giường một. Hai giường kê liền phía trong sau tấm vải sợi hóa học. Một giường kê ngoài sát cửa. Một bàn, một ghế. Bốn bóng đèn tròn ám khói. Ảnh cháu Trang, cháu Chi trong vòng tay bố mẹ. Bức tranh "Trăng "treo duy nhất trên tường. Toàn thể là gam màu xám thăm thẳm trắng, vầng trăng mờ mây che, nhưng người xem vẫn cảm giác được ánh trăng trong suốt u buồn chảy tràn mặt đường cát trắng hun hút về chân núi xa.
Trên giá sách tận dụng gỗ thông bao bì hầu như là những tập sách được Hoàng Hữu vẽ bìa. Bộ Nhà thờ Đức Bà Pa-ri. Bộ Những người khốn khổ. Rừng Nga. Muối của đất. Bông hồng vàng. Và bộ tự truyện của Ma-xim- Goócxki....
Chẳng rõ bằng cách nào đó tôi cũng giúp anh cũng nấu xong bữa cơm tối. Mọi thứ sực mùi dầu. Đậu rán sơ. Rau muống chợ luộc lẫn rau ngót vườn. Thêm món cá chuồn khô nướng bọc lá chuối nướng chay. Trên chiếc giường một, chiếc chiếu quăn gập, thủng giữa tôi và anh ngồi đối nhau qua mâm cơm. Hoàng Hữu nhai trệu trạo ăn như theo một mệnh lệnh nào đó. Từng cọng rau. Từng hạt cơm gạo hẩm cõng bo bo. Từng vụn đậu rán, cá khô được anh nâng niu gắp cẩn thận như đang dùng bút tỉa đưa lên miệng vừa nhai vừa ngẫm nghĩ.
Chống đũa lên thành chiếc mâm nhôm lâu ngày không dùng lấm tấm chấm vết sùi, Hoàng Hữu ngậm ngùi.
- Tất cả những gì mình có hôm nay. Từ cái mâm này đến việc lấy vợ sinh con hết thảy đều nhờ vào bạn bè...
Hồi đó để làm đám cưới cho Hoàng Hữu tại nhà vợ ở Vĩnh Yên. Hoạ sỹ Nguyễn Đài, nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn đã phải đạp xe xuống các huyện xin mua được hơn chục bao thuốc Nhị Thanh, hai cân kẹo. Một người bạn tên là Đồng làm bảo vệ ở Văn phòng Chính phủ thì nhờ người quen kiếm được chiếc thủ lợn tem phiếu, lễ mễ đạp xe từ Hà Nội lên. Bố đẻ Nguyễn Đài, là cụ Quỳnh lúc đó đương chức Phó bí thư thị Uỷ Vĩnh Yên về nhà riêng ở làng Đồi Tam Dương bắt thêm cho hai con gà. Trung úy nhà thơ Hữu Thỉnh đạp xe từ núi Đanh ra góp mấy cân bí đao tăng gia và một con gà và mấy cân gạo nếp cái Hoa Vàng. Tuy đã có lúc anh xót bạn kêu toáng" Chúng mày hùn Hoàng Hữu lấy vợ để cho nó chết sơm à" Thì Nguyễn Hữu Nhàn vặc lại: '' Thế ông không định cho nó biết mùi đời, chết mà vẫn trai tân à " Một đám cưới mà phía nhà trai không ai dám ở lại nhà gái ăn cơm vì lo thiếu.
Hoàng Hữu và chị Minh đến với nhau qua mai mối của nhà thơ Nguyễn Cẳnh Tuấn. Ai cũng phấp phỏng lo chị Minh sẽ không chấp nhận chàng hoạ sỹ ốm yếu, đã mổ tim xanh như tàu chuối dựng. Xem ra chàng yêu đã nhiều, nhưng chỉ một phía chàng thôi. Không ngờ chị Minh vừa gặp anh đã cảm mến. Bạn bè mừng vui, giục phải làm đám cưới ngay, đề phòng dèm pha. Hơn nửa tháng chàng nàng gặp nhau tâm sự, mà khi bị Nguyễn Hữu Nhàn cật vấn rằng tình cảm đã phát triển đến đâu rồi, Hoàng Hũu hổn hến đáp.
- Thì tôi vẫn ngồi gần Minh một khoảng cách rất lịch sự khoảng mấy ngang tay.
Cao Khắc Thuỳ lo cái lo của người lãnh đạo ngán ngẩm.
- Mạ già ruộng ngấu còn phải cày bừa gì nữa mà cứ án binh bất động. Phải hành động, hành động cho đối phương không kịp trở tay thì mới được. Không khéo hỏng...
Nguyễn Đài sợ bạn cuống liền an ủi.
- Thì cũng phải có thời gian, cho Hữu nó từ từ nhập cuộc...cá cắn câu rồi...
Thế rồi hàng ngày trước khi Hoàng Hữu đi gặp người yêu lại được ba nhân vật khả kính nói trên lại mở khoá tư vấn chiếm lĩnh tình yêu. Nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn tuy không lăn lộn tình trường bao lăm, nhưng lại mách nước rất cụ thể.
- Để tiếp cận thì bước đầu tiên là giả vờ phủi bụi trên áo, trên tóc nó đã. Sau thấy nó im thì mới dấn tiếp như nắm tay, ôm vai nó hiểu không...nó im nữa thì mới được sờ ti...
Thế rồi một hôm Hoàng Hũu trở về nhảy cẫng giữa sân Hội hoan hỉ thông báo.
- Thành công rồi. Thành công rực rỡ rồi....
Mọi người hỏi thành công đến mức độ nào, Hoàng Hữu thì thầm.
- Tôi đã nắm được tay nó rồi....
Mọi người cười không đặng, mắng không xong. Ông chủ tịch Hội Cao Khắc Thuỳ lại chẹp miệng.
- Kiểu này thì phải vài năm Hữu mới chiếm lĩnh được Bộ tư lệnh tiền phương, chưa chưa nói đến Tổng hành dinh tối cao...
Đêm đó, trên chiếc giường một Hoàng Hữu nửa bò nửa quỳ vè xong chiếc bìa sách có in truyên ngắn đầu tiên của tôi. Tập PHẤN THÔNG BAY. Màu bìa chính là màu lá thông non, và những chấm nâu, tựa cánh chim tựa phấn hoa, chữ ngay ngắn. Nửa tháng sau, bản thảo tập thơ NGƯỠNG CỬA MÀU XANH, do nhà thơ Hữu Thỉnh nhuận sắc, biên tập kỳ công, rồi đặt luôn cả cho tên tập cũng được Hoàng Hữu vè bìa trên chiếc giường một. Hoạ sỹ đã lấy tứ từ câu thơ của Hữu Thỉnh gài vào cho một bài thơ của một tác giả chiến sĩ: Trái tim hát khi tôi thành chiến sỹ để mà vẽ cái khoá nhạc chỉ với hai màu xanh sáng và tím hoa mua trên trắng trong trẻo.
Mỗi bìa vẽ xong Hoàng Hữu lại chép thêm một bản cất trong cái hòm tôn. Một cái hòm chật cứng những phiên bản bìa sách.
Gu bìa của Hoàng Hữu, đơn giản đượn sang trọng lịch lãm cổ điển, nhưng bao giờ cũng toát ra cái u trầm nhiều day dứt băn khoăn. Đêm đó, tôi nằm ngủ cạnh anh ở hai chiếc giường một ghép đôi. Mười lăm, hai mươi phút là anh lại mê mụ u ú gọi tên một người nào đó. Lúc thì tên vợ, tên con, tên bạn và một cái tên vần D lạ hoặc tôi chưa nghe anh nhắc đến bao giờ. Sau thì tôi biết đó là một người thiếu phụ vô cùng quan trọng trong sáng tác của anh.
Rạng ngày thì hoạ sỹ Nguyễn Đài và nhà thơ Hoàng Quý gõ cửa mang theo cả hơi rừng già Thành Sơn. Hai người mang guitar và một quả tim lợn tươi ròng bọc lá chuối. Nguyễn Đài vơ củi vụn giấy báo nấu cháo tim lợn. Hoàng Quý ngồi búng, gõ guitar hát ngay bên đầu giường Hoàng Hữu. Chưa rõ mặt người mà căn phòng đã bao nhiêu khói cay.
Khi sách ra tôi được lệnh mang nhuận bút đến trả cho anh. Số tiền không nhớ rõ là bao nhiêu, nhưng trung tá Phạm Quế Dương đã lệnh cho tài vụ đơn vị phải trả vượt khung. Lạ lùng Hoàng Hữu dứt khoát quay đi không đụng đến chiếc phòng bì nhuận bút và nói rằng.
- Anh đau yếu không đóng góp được gì nhiều. Bộ đội mình cũng đang khổ anh không nhận đâu.
Cho đến bây giờ thì tôi mới hiểu thêm tại sao Hoàng Hũu lại quay đi, không dám đụng đến phong bì tiền. Phải chăng anh đã tự buộc mình vào sự đấu tranh giữa lòng yêu nước, nghĩa vụ công dân và quyền lợi công dân. Cũng chẳng ai như tôi, tôi không nài ép anh, cứ thế là thin thít mang về trả lại tiền tài vụ.
Đã không nhận tiền anh lại bình thêm.
- Cái tên Phấn Thông Bay và Ngường Cửa Màu Xanh nghe được đấy. Bộ đội máu lửa thì càng cần sự bay bổng mơ màng. Cái mềm nâng cho cái cái cứng đựơc cứng hơn.
Tôi dự trại viết của Hội VHNT Vĩnh Phú do nhà văn Nguyễn Hữu Nhàn giới thiệu ở Việt Trì. Cứ như có sức hút nào đó kéo tôi đến với anh ở Trung tâm cấp cứu hàng ngày. Hôm đó chủ nhật, anh ngồi trên giường trong tay nâng niu lá thư của gấp sáu nhỏ như bàn tay con trẻ. Lá thư không có tên người gửi đề ngày 20-6-73, nghĩa là lá thư đến thời điểm đó Hoàng Hữu đã nhận được bảy năm.
Ngoài những lời thăm hỏi, thì còn một bài thơ do thiếu phụ đó tặng Hoàng Hữu. Đó là cú hích tạo nên mạch cảm trong bài thơ vĩnh cửu Hai nửa vầng trăng. Ba câu thơ : Chữ dê hoa (D ) như vầng trăng sẻ nửa/ Tên anh như nửa trăng mờ tỏ/ Ai bỏ quyên lặng lẽ sáng bên trời...
Chính là Hoàng Hũu muốn nhắc đến tên bố mẹ đặt là Nguyễn Hữu Dũng. Còn tên người thiếu phụ trong thơ cũng bắt đầu bằng chữ dê hoa (D). Hai nửa chữ dê hoa (D) ghép lại thì thành vầng trăng tròn. Vậy mà hai nửa vẫng trăng mãi mãi vẫn là hai nửa xa cách. Về công tác ở Vĩnh Phú, anh em trêu là hữu dũng vô mưu nên anh mới đặt bút danh là Hoàng Hữu.
Sau Hoàng Hữu mất, nhân có cuộc thi thơ ở báo Văn Nghệ thì Cao Khắc Thuỳ, Nguyễn Hữu Nhàn, Nguyễn Đài liền gửi Đăng Bảy và Phạm Tiến Duật một số di cảo thơ của anh trong đó có Hai nửa vầng trăng tham dự. Kết quả ra sao thì mọi người yêu thơ đều biết. Đã có hàng ngàn người thuộc và chép bài thơ đó vào sổ tay. Và bây giờ thì bài thơ đó vẫn chẳng hề phai nhạt sự làm người ta đau về hạnh phúc và tình yêu lứa đôi...
Đến tận lúc sắp kết thúc số phận Hoàng Hữu vẫn thổn thức sống. Và cũng năm ấy Hoàng Hũu bỗng mê vật vã một thiếu nữ học trung học nghệ thuật, chị M H. Chị có giọng nữ trung mượt ấm sang trọng, mặt hiền, người đẹp mặn mà.
Suốt cả tháng ròng hôm nào cũng vậy không Nguyễn Đài, thì tôi hoặc Nguyễn Hữu Nhàn đèo xe đạp đưa Hoàng Hữu lần tìm vào chỗ trường nghệ thuật sơ tán ấy ngắm người đẹp mươi phút thì anh mới chịu được. Trong đời không ít lần anh đã yêu một đầu đòn gánh. Nhưng chị M.H đã có người yêu. Cả ba liên lạc viên đều biết điều ấy, chỉ có Hoàng Hũu là không.
Bởi chúng tôi không ai nỡ nói ra và cả chị M. H cũng không dám từ chối quyết liệt tình cảm của anh dành cho chị. Chị quá dịu dàng. Còn Hoàng Hữu thì qúa chân thành si mê như cậu học trò mười lăm. Hai người giữ một khoảng cách nhất định mà ngắm nhau suông.
Để làm le với người đẹp, Hoàng Hũu đã đề nghị đổi cho anh chiếc áo bộ đội sơ mi vải Ba Lan màu hạt dẻ để mặc cho cho khung dáng vững chắc. Còn tôi thì mặc chiếc áo vải mỏng màu mơ chín hôm nào. Hôm sau anh nhờ Vân Trang vào chụp chân dung, chiếc áo anh mặc cũng chính là chiếc áo bộ đội của tôi. Nên tấm ảnh đi đầu xe của anh là một chiếc áo bộ đội, trên ve áo có đính bốn móc chỉ để cài quân hàm.
Thời gian này anh viết truyện ngắn DƯỚI CHÂN NÚI CŨ và bài thơ KHÓI ẤM. Hai tác phẩm này Hoàng Hữu đều đề tặng M.H. Trong bài khói ấm có những câu như là điềm báo. Trái tim đập giữa phập phồng lau cỏ hoặc Anh trở lại tìm về nơi giông dài ngọn gió/ để sắc màu điềm tĩnh trước nhà em.
Cũng lạ bất cứ ai dù có máu văn nghệ hay không hễ gặp Hoàng Hữu là tự nhiên quí anh và cũng được anh yêu quí như một lẽ tự nhiên. Hoàng Hũu là người không có kẻ thù ghét trong thế giới con người. Và, anh cũng không có khả năng thù nghét bất cứ một ai, theo biên độ ngữ nghĩa rộng nhất. Thù ghét Hoàng Hũu có lẽ là nghiệt bệnh là số phận. Không, tôi nghĩ là số phận cay nghiệt với anh. Anh đã đi hết vắt kiệt hết cái mà số phận đã ưu ái dành cho nhiều hơn người khác, đó là tài năng. Hơn ai khác anh biết trước cái kết cục sẽ đến với mình bất ngờ về khoảnh khắc, trong quỹ thời gian đã được giáo sư Tôn Thất Tùng, người trực tiếp mổ tim cho anh thông báo. Và anh đã có đủ ngộ thấu đáo lẽ đời tiết kiệm từng giây phút được sống của mình trên trái đất bằng cách làm sao cho nó được dùng có hiệu quả nhất. ...
Trong lần tôi dìu anh đi dạo trên con đường cỏ lau và sim mua dọc đường tàu hoả, nhìn lau xám lay động bên những nấm mộ nép dưới rừng trám đen, Hoàng Hữu thở dốc hướng vào tôi mỉm cười.
- Chỉ khi nào con người được ấn định trước thời gian cụ thể về cái chết, thì mới tự thức tỉnh được giá trị thực sự của sự sống. Người ta sẽ dốc sức làm việc và sống cho có ý nghĩa đến giây phút cuối cùng...Chỉ tiếc rằng những người khoẻ mạnh đôi khi có nghĩ đến điều ấy, nhưng đó chỉ là những hạt mưa rơi trên lá sen...
Ư, tại sao lại là mưa rơi trên lá sen nhỉ. Hoàng Hữu cũng có thể ví với lá loài cây khác chứ.
Tháng 5 năm 2007
Nguyễn Tham Thiện Kế
----------------------
Rút trong tập: Miền lưu dấu Văn nhân - Nhà xuất bản Hội Nhà văn & Phương Nam Book-năm 2013. Khổ 13 x 20,5. 502 trang.