bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
PHẢN HỒI MỚI

VŨ NHO 085 589 0003

 HAS MOTHER’S MEMORY FADED INTO OBLIVION? A Poem of Love, Time, and Farewell Long ago, I kissed my mother goodbye, She stood in tears beneath the parting sky. I walked away with laughter in my ey...

 

vũ nho 085 589 0003

THANK VERY MUCH!

 

AI give me this

HAS MOTHER’S MEMORY FADED INTO OBLIVION? A Poem of Love, Time, and Farewell Long ago, I kissed my mother goodbye, She stood in tears beneath the parting sky. I walked away with laughter in my eyes, ...

 

VŨ NHO 085 589 0003

CŨNG CHẢ CÓ GÌ GHÊ GỚM!THƠ NOBEL CŨNG CHỈ THẾ THÔI!SAO MÀ CÁC NHÀ THƠ VIỆT NAM CỨ PHẢI ƯỚC AO! HE HE HE...

 

vũ nho 085 589 0003

CÁM ƠN BẠN ĐÃ GHÉ TRANG VÀ BÌNH LUẬN!

 

0915708232

Nổi lòng của một thời rong ruổi mà đi lên

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 43
Trong ngày: 879
Trong tuần: 1838
Lượt truy cập: 2013690

KAO SƠN giới thiệu TRẦN TRỌNG GIÁ

anh_anh_gia

ẢNH NHÀ THƠ TRẦN TRỌNG GIÁ


TRỞ VỀ NGUỒN CỘI- NHỮNG BƯỚC CHÂN ĐI QUA CHÍNH MÌNH
(Thay lời giới thiệu tập thơ NGUỒN CỘI)
 
89 bài thơ. 89 bước chân. Có những bước chân nơi đất khách, náo nức đến với một vùng đất và gặp gỡ những khuôn mặt, những phận người. Và bước chân kẻ xa lâu ngày lần tìm về nguồn cội. Mỗi bước mang đến một nhận thức qua những gì đã trải. Mỗi bước gợi mở một kỉ niệm.
Trong văn học từ xưa tới nay, chủ đề về quê hương, đất nước, nguồn cội luôn được các nhà văn nhà thơ chú ý khai thác và đưa vào trong tác phẩm của mình một cách trang trọng nhất. Việc làm ấy vừa xuất phát từ tình cảm cá nhân vừa thể hiện ý thức cộng đồng và trách nhiệm của người cầm bút. Tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt. Ở mỗi hệ quy chiếu , mỗi xuất phát điểm và mức độ thẩm thấu các yếu tố văn hoá, giáo dục, chính trị, quan điểm, gia đình, xã hội, tư duy tôn giáo, và cùng đó là ý thức , mức độ kết nối tình cảm… mà mỗi tác giả lại có một biểu hiện khác nhau. Và cũng chính từ sự khác nhau ấy đã tạo nên sự lung linh, mới mẻ và hấp dẫn cho các tác phẩm khi thực hiện chung về một chủ đề quen thuộc. Mỗi người có một phương pháp, một hướng tiếp cận riêng. Một giọt nước có thể mang lời biển cả. Một chiếc lá, một thân cây có thể chứa đựng hình ảnh một cánh rừng. Một vệt ố vàng của phèn chua còn sót nơi kẽ móng chân vẫn có thể nói lên một số phận. Và một cái nhìn đau đáu dõi về phương xa của một gã trai đang ngồi một mình với chén rượu trên tay nơi góc phố là từng mẩu kỉ niệm về quê hương nguồn cội đang được vất vả lần tìm. Có thể không có gì to tát cả. Nhưng văn học là như vậy. Một góc khuất. Một sự việc. Một hình ảnh lặn thật sâu trong kí ức. Một gương mặt người thân. Và cũng có thể chỉ là một chất giọng “bọ mạ mi tau răng rứa” thoáng qua giữa một đám đông… Một bóng dáng lam lũ, một thói quen hay một tập tục đã và đang dần trở thành cổ tích.
Nhưng đấy là hồn vía, là máu thịt, là “Căn cước người” của mỗi cá nhân trong một thế giới xô lệch và hội nhập.
Trần Trọng Giá cũng đã và đang có một cuộc trở về như vậy:
 
“Tôi không đi qua làng
Tôi đi qua chính mình”
 
Đi qua chính mình là cuộc tìm về của những kỉ niệm. Không có trống rong cờ mở. Không có sang trọng ồn ào. Ngày về chỉ thầm lặng những bước chân như ngày xưa đã đặt trên con đường lầy lội vết chân trâu. Và làng - không đơn thuần là một địa chỉ địa lí nữa. Làng là một cơ thể sống. Về với làng và được làng giang vòng tay đón nhận. Và trong không khí của một ngày gặp mặt, bên bếp lửa được đốt lên trong đêm đông giá bởi những gốc tre già huyền thoại vốn đã tồn tại từ hồng hoang. Ta trong làng và làng kể cho ta nghe về những ngày ta xa. Về những gì ta đang thấy. Và trong sâu thẳm, Làng thổi vào hồn ta hơi thở buổi sơ sinh cùng tiếng khóc chào đời.
 
“Có một tiếng gà không bao giờ dứt
Vẫn gáy lên từ trong tiềm thức
Dội vào tôi như vết nứt trong đêm
Của một giấc mơ mọc rễ không yên.”
 
Như vậy, rõ ràng đây không còn một cuộc trở về thông thường của thân xác. Đây là cuộc trở về của tâm tưởng. Về với nguồn cội. “Con người có tổ có tông/ Như cây có cội, như sông có nguồn” - Câu ca ấy đã từ rất lâu, có thể là đã hàng trăm hàng ngàn năm thấm vào hồn người dân Việt.
Nguồn cội - đó không chỉ là nơi ta sinh ra và lớn lên. Nguồn cội còn là khởi nguyên của thương yêu, hạnh phúc và tất cả những điều quý báu nhất, tốt lành nhất. Sự tri ân đối với nguồn cội - tổ tiên, với quê hương, đất nước là thước đo nhân cách của mỗi người. Là văn hoá sống. Là nền tảng cho sự phát triển Người trên mọi phương diện. Và càng có tuổi, càng xa quê lâu ngày khát khao được trở về với nguồn cội càng cháy bỏng. Và hiện hữu nhất, gắn bó và thân thuộc nhất cho nguồn cội chính là Quê hương:
 
“Có một ngọn gió
Không hiểu từ phương nào?
Thổi vào tôi lời thì thầm không dứt”
 
Những thanh âm không dội lên mà bao bọc hồn ta:
 
“Bằng tiếng rì rào của mái rạ
Bằng tiếng của lặng im những chiếc lá rơi không chạm đất
Neo đậu vào khoảnh khắc tôi xưa.
 
…Tôi biết: Đấy chính là vùng đất linh thiêng
Nơi mỗi nhành hoa, ngọn cỏ
Có thể hóa thân thành những câu thơ
Nơi mỗi bóng dáng của ông bà tiên tổ
Đều để lại dấu vết trong vĩnh cửu đời người...
Đó là Phú Nhiêu - cố hương tôi! “
 
Ngay từ những dòng đầu tiên trong tập thơ Trần Trọng Giá đã viết như vậy.
Người ta chỉ dùng đến hai từ “cố hương” khi từ xa - nói về quê hương và nhất là cái “xa” ấy đã và đang dần trở thành một rào cản. Giờ đây, khi mà cuộc sống vẫn đang bày ra trước mắt ta với bao thử thách cam go. Khi mà cuộc mưu sinh vẫn là một thử thách đòi hỏi phải có rất nhiều cố gắng cùng tâm sức. Bên cạnh đó, những thân thuộc của hôm nay trước bể dâu đang dần biến thành kỉ niệm. Có thể đang có những đổi thay huy hoàng và lộng lẫy với rất nhiều màu sắc, rất nhiều những reo vui cùng sự tụng ca. Nhưng trong bối cảnh của hội nhập và đổi mới - rất có thể những điều đó sẽ mang lại cho ta một cảm giác về mong manh và dễ vỡ. Đồng thời tuổi ta mỗi ngày một cao. Trí nhớ đã bắt đầu có những dấu hiệu của nhớ nhớ quên quên. Bước chân đã cảm thấy mệt mỏi khiến đường về lối cũ đang trở thành xa ngái… thì càng xa quê, nhu cầu được trở về với nguồn cội, với quê hương, tiên tổ càng lớn. Và khi đó, cố hương với những kỉ niệm phủ dầy rêu phong và đang dần biến thành cổ tích sẽ lại là nơi neo giữ hồn ta. Mang lại cho ta sự vững tâm cùng một tin tưởng và hy vọng.
Ngay từ bài đầu tiên của tập thơ đã trĩu nặng những gì Trần Trọng Giá muốn chia sẻ. Một miền đất chưa bao giờ ngủ yên trong tâm trí ta trong những tháng ngày bươn chải. Nơi ấy mẹ chôn nhúm rau cắt rốn ta dưới gốc cây khế già sau vườn. Đất cát. Núi non. Và những con lũ tràn qua khúc đê ào về cuộn réo xung quanh những mái tranh nghèo. Trăng không mấy khi hiện trên nền trời màu ngọc bích mà thoắt ẩn thoắt hiện dưới làn nước xanh đen. Nơi ấy một tuổi thơ lầm lụi. Một tuổi xuân ngu ngơ:
 
“Tôi từ đứa trẻ chăn trâu
Tuổi thơ bùn đất nhuốm mầu phèn chua.
Dầm mình trong nắng trong mưa… “
 
Và cũng nơi ấy, lần đầu trăng run rẩy cùng một làn môi ai:
 
“Xa nhau. Người vẫn nhớ Người
Đội vầng trăng, đội mặt trời chờ nhau. “
 
Rồi tiếp đó, dòng sông, bến nước, con đò. Tiếng gió trong rặng phi lao. Màn mưa giăng mờ ngọn sóng. Cô lái im lìm in bóng vọng phu cắm sào đợi khách. Tất cả đều quen thuộc. Không phải những gì to tát. Chỉ là kỉ niệm chất đầy. Những kỉ niệm đã quá xa. Xa đến nỗi không thể một lúc hiện về đầy đủ. Và Trần Trọng Giá phải nhặt nhạnh từng kỉ niệm như nhặt từng miếng vá để khâu lại:
 
“Nơi mà mỗi đường kim như dạt như trôi
Khâu lại tuổi thơ tôi từng mòn quai dép
…Cha không cắm câu nữa
Nhưng bờ ao, trăng vẫn sáng lạ thường
Những con cá trong đêm nhẩn nha kiếm ăn
Vẫn đớp bóng người ngồi đợi.”
 
Có thể nói đây cũng là những bài thơ được Trần Trọng Giá viết lên bằng tất cả tình cảm mình. Những chi tiết rất đời thường, rất nhỏ được chọn lọc nhưng lại đem lại một cái nhìn không thể trộn lẫn, không thể quên. Máu thịt và hồn vía. Và đây:
 
“Đất Phú Nhiêu, quê tôi
Nơi mỗi gốc cây là một dòng họ
Mỗi nắm đất là một câu chuyện dài
Và mỗi phận người nán níu bên bậu cửa
Cũng là một phần lịch sử làng tôi!”
 
Vâng, đất làng đã và mãi trở thành lịch sử. Làng của Trần Trọng Giá, làng Phú Nhiêu trước nằm ở diện bị phân lũ của tỉnh, luôn bị nước đục đe doạ. Ở đây người dân không chống lại thiên nhiên. Không có chủ tâm cải tạo thiên nhiên. Họ cải tạo mình, chọn cách sống chung, biến mình thành một phần của thiên nhiên để cùng tồn tại. Đây là tư tưởng trung dung của Đạo Lão. Người dân đào đất tôn cao nền. Nước dâng đến đâu thì nâng đất lên đến đó. Bão gió nhiều thì làm nhà nép vào vách núi mà ở. Nhờ vách núi chở che. Thậm chí chui vào hang đá mà tránh. Gắn với lịch sử dựng làng. Giữa bao la là nước. Chọn được một khoanh, một dải đất rộng đủ để xây dựng nên từ đó một chỗ trú thân thôi, và cao hơn, một cơ nghiệp là rất khó. Muốn có đất đứng chân phải “vượt đất”. Lặn xuống nước, moi lên từng cục đất, đắp cho thành một cái nền. Ban đầu chỉ đủ cho một túp lều. Vội kiếm một cái cây trồng làm dấu mốc. Mỗi túp lều, mỗi gốc cây đứng trên nước như một ốc đảo. Và nối những ốc đảo ấy với nhau, với thế giới bên ngoài là những chiếc thuyền nan. Là ánh mắt người bên bậu cửa ngóng chờ kẻ đi xa. Thời gian dần trôi, cây thành cổ thụ. Lều biến thành nhà. Rồi hè nhau làm những con đường. Đường nối nhà với nhau, nối người với người. An cư lạc nghiệp. Lấy vợ gả chồng. Con cháu đông dần tụ thành Họ mạc, thành chòm xóm, thành làng.
 
“Đất Phú Nhiêu, quê tôi
Nơi bùn thơm từ nguồn mạch
… Nơi mỗi gốc cây là một dòng họ
Mỗi nắm đất là một câu chuyện dài
Và mỗi phận người nán níu bên bậu cửa
Cũng là một phần lịch sử làng tôi!”
 
Phải là một người làm thơ có gốc gác nhà quê, có chất nhà quê ngấm rất sâu trong tâm hồn và cái nhà quê ấy là của nhà quê ở vùng đất đồng chiêm trũng, của lam lũ ruộng đồng đất cát mò cua bắt ốc vốn đã quen với những thất thường mà để rồi bao dung cùng hồn nhiên, chịu đựng mới có thể hiểu, yêu và viết như vậy.
 
Cùng với chủ đề về nguồn cội, biên độ thơ được mở rộng. Trần Trọng Giá đã không chỉ bó cảm xúc mình trong những gì thân thuộc gần gũi nhất: Làng xóm, tổ tiên, gia đình… Nghĩa là tình yêu quê không bó gọn trong cái làng Phú Nhiêu giản dị và thánh thiện mà mở rộng ra tới nhiều vùng đất khác trở thành tình yêu đất nước. Những địa danh khác. Những tên làng, tên núi tên sông bắt gặp trong suốt những năm tháng li hương. Nhưng không chỉ là những cảnh hình. Ẩn sâu trong lớp sương mù huyền thoại, trong màn khói nhang vương vít và cả sau lớp bụi mờ của lịch sử, của truyền thuyết là hồn vía của đất của người. Mỗi địa danh mà Trần Trọng Giá đã đặt chân đến, sau những náo nức vồ vập cùng những cảm xúc mới, khi chia tay lại là những nhớ nhung đầy ắp. Đất hóa tâm hồn là vậy. Và từ đây, khi ngoái đầu hồi tưởng lại, cái nhìn đã trở nên sâu hơn, đằm hơn. Trần Trọng Giá phát hiện ra những tích tụ ẩn sâu trong đó. Khởi đầu là những câu thơ hào sảng mang tính khái quát cao:
 
“Bốn ngàn năm binh đao, trận mạc
Bốn ngàn năm dựng nước
... Ngựa hí giữa trời
Roi vung lửa đỏ
Ngọn tre làng nổi cơn sấm sét
…Ngày 2 tháng 9/ Trong gió thu lộng lẫy/ Cờ đỏ sao vàng bừng lên như lửa cháy…”
 
Lịch sử. Huyền thoại. Những tháng ngày đã sống và đang sống của bao thế hệ người Việt. Tất cả trộn vào nhau tạo thành một không khí huyền bí. Linh thiêng và sống động.
Và khác với nhiều cây bút, khi viết về những vùng đất mà ông đặt chân đến, Trần Trọng Giá đa phần chỉ lấy cảnh vật làm nền, như một cách đánh dấu địa lí. Còn lại, nổi bật trong Thơ là “hồn đất” được “mã hóa” bởi những con người cụ thể mà ông yêu quý.
 
Đọc những vần thơ này không ít ngườì hoài nghi rằng đây lại là thơ tình của một người đã ở vào tuổi tri thiên mệnh. Vẫn còn đó những bồi hồi, náo nức, những chờ đợi khắc khoải, những run rẩy mơ hồ. Và hình như cả những mất mát rạn nứt cũng chỉ là ảo ảnh hay một biến cố vô tình chợt đến chợt đi trong vô thường của đời người và đường tình:
 
“Tình yêu sương khói mỏng manh
Nắm tay tưởng được mà thành gió hoang”
 
Nhận chân được bản chất vậy thôi. Gần đấy mà xa đấy. Như hiện hữu mà lại cũng như ảo ảnh. Như cát cầm trên tay. Như gió trên đồi trống. Yêu mung lung, yêu vu vơ, không cần nguyên cớ. Không có địa chỉ. Vậy mà vẫn cồn cào, vẫn da diết vẫn cuồng và vẫn si. Giống như Xuân Diệu “Tôi buồn chẳng hiểu vì sao tôi buồn”. Một cách yêu của nhà thơ. Và có lẽ cũng chính vì có tấm lòng bao dung, từng trải của người đã từng chứng kiến, thậm chí bao phen cận kề cái chết mới nhận ra được giá trị của tình yêu hôm nay và có được cách hành xử như vậy.
 
Nếu như trước đây, không chỉ với các chủ đề khác mà cả trong thơ tình, Trần Trọng Giá vẫn thường có cách lập ý, dựng tứ, sử dụng câu chữ … theo lối trực diện. Tuy nhiên ở tập thơ mới này, với chủ đích tự đổi mới, yếu tố kĩ thuật đã được đưa vào nhiều hơn. Bài thơ “Tiếng của lặng im” thể hiện rõ điều đó. Đây là một bài thơ tình hay. Những cảm xúc trực diện thường thấy được thay bằng lối tư duy mở với kết cấu mới và lạ. Sự mới và lạ ấy không đến từ sự bố trí sắp đặt hay lựa chọn câu chữ quá cầu kì. Một cách dụng tứ lạ. Lấy cái hữu hình: Cỏ úa. Lá xanh. Mây tan. Gió nổi… để nói về cái vô hình: Thời gian. Và tất cả được vận hành theo nhịp bước của thời gian: Vừa hối hả, vừa chậm rãi. Vừa như giục như mời. Vừa mở ra như một cánh cửa lại vừa như những vòng tròn của giọt nước rơi xuống mặt hồ chợt khép nhanh sau một xao động không chủ đích. Không chỉ dừng lại ở đó. Chính từ cái cảm giác chùng chình lưỡng lự ấy, Một nốt nhấn hình thành. Một tiếng “em” vang lên. Nhưng rất ngắn. Ngắn đến nỗi chưa kịp giúp nhận ra tiếng đó từ đâu, chưa kịp làm sương tan trên phố cổ đã vội tắt. Tắt để lặn sâu vào cõi Lặng. Chỉ còn tiếng chuông chùa. Nhưng thế là đủ.
Một nhịp điệu lạ - một nét mới khác đến từ một bài thơ khác: EM XA
 
“Người đi. Trời đổ cơn mưa
Bơ vơ. Sóng lạc. Gió lùa. Chiều say.
… Bỏ thuyền. Bỏ lái. Bỏ sông
Đêm buồn. Dốc chén… lặng trông. Sao mờ. “
 
Hai cặp thơ đối xứng cho anh và em với từng cặp hai từ được cách nhau bởi dấu chấm. Hình tượng của những hạt mưa đang ngập ngừng buông theo những bước chân ngập ngừng của một người đang dần xa. Và có chăng, là tiếng nấc của người ấy? Đoạn tiếp cũng ngắt thế là lòng “Anh” cũng nhịp theo, cũng đứt quãng. Tiếp nữa: “Bóng em nhòa dưới bóng mưa”. Mưa làm bóng em nhoà hay Em xa làm mắt anh nhoà? Hay! Đầy hình tượng cùng những ẩn dụ độc đáo.
Và có cảm giác càng đi xa, càng gặp gỡ những mới mẻ nơi đất khác quê người thì nỗi nhớ quê lại càng thêm dày, thêm đậm. Những lớp xoắn vỏ ốc của luân hồi xuất hiện cùng những phát hiện và soi chiếu hé mở cốt lõi của những biến đổi trong tình cảm: Phát hiện mới về giá trị của những còn - mất, về giá trị của những xưa cũ và cao hơn, giá trị của sinh tử. Một sự giác ngộ.
Theo quan niệm của Đạo Phật. Từ Hỗn mang Vô cực sinh Thái cực - Thái cực sinh Lưỡng nghi ( mặt trăng - mặt trời ) - Lưỡng nghi sinh Tứ tượng ( bốn mùa ) - Tứ tượng biến hoá vô cùng trong vòng luân chuyển của Bát quái. Và trong cái hỗn mang ấy có ta - Một số không:
 
“Thế giới bắt đầu từ không
Thế giới bắt đầu từ có
Tôi lấp đầy tôi bằng có
Tôi bắt đầu tôi từ không.”
 
Một cái nhìn xuyên thấu. Và từ sự phát hiện về sự luẩn quẩn ( thực ra là một quy luật được phơi bày) có vẻ vô nghĩa sắc - không này mà nảy sinh những quan niệm mới về cuộc sống. Từ cái nhìn ban đầu còn mang một chút bi quan, yếm thế:
 
“Tôi như hạt bụi lắt lay
Bé ly ti, gió thổi bay lên giời
Lại rơi về đất nhỏ nhoi
Làm mờ khoảnh khắc kiếp người cỏ lau.”
 
Và sau tiếp là nhận thức về thế giới:
 
“Thế giới này là những cuộc chơi
Thật như giả, giả mà như thật
Rặt trò trốn-tìm, rặt trò đuổi-bắt
Chạy đến hụt hơi, vẫn quanh cái đèn cù.”
 
Và ở thời điểm này, nhận thức về sự vô thường của thế giới với những biến động ảo thực khôn lường đã tác động. Nhưng rất may, Trần Trọng Giá đã không hề luống cuống và bi quan. “ Trước Sen” đã thể hiện rõ điều đó:
 
“Trước Sen lòng tĩnh lặng
Bóng người hoà bóng hoa
Buồn, vui thành mây trắng
Ta mà như không ta!”
 
Đây là một bài thơ tuy ngắn, nhưng lại chứa đựng một đổi thay mới và không hề nhỏ của Trần Trọng Giá. Trước Sen - cách tiếp cận trang trọng như một nghi lễ. Không phải bằng mắt nhìn vẻ đẹp, không phải dùng khứu giác để cảm cho hết hương hoa. Ông dùng lòng. Mở lòng ra để đón nhận và được đón nhận. Cái tĩnh lặng trước sen không đơn thuần là một thiền tính của nghệ sỹ trước cái đẹp. Đây không phải là những dòng phản ánh hiện thực hay giãi bày tâm trạng mà cao hơn thế: Từ sự tự suy, tự cảm, tự nhập, đến tự hoá . Từ vi vô không sắc làm một Một thoát ly và Chứng ngộ tại thế. Và khi đủ một vòng quay, thấm vô thường, trở lại, với nhận biết “Buồn vui thành mây trắng” thì cũng là lúc Niết bàn xuất hiện: “Ta mà như không Ta” - từng câu thơ và cả bài thơ lặng toả một ánh sáng đẹp - đúng hơn, nó mở ra những giác ngộ đẹp bằng sự tự hoá: Phật ở trong tim mình - nó đem lại niềm tin về cuộc đời. Bằng bản lĩnh của một người lính cùng cái tâm của nhà thơ, khi soi chiếu vào thực tế xã hội ông đã có một cái nhìn vừa bình tĩnh vừa sáng suốt:
 
“Bốn ngàn năm binh đao, trận mạc
Bốn ngàn năm dựng nước
Mà bánh dày vẫn tròn như trời
Mà bánh chưng vẫn vuông như đất!”
 
Đó là lời khẳng định cho cái bất biến và vĩnh cửu. Nó tạo sự an nhiên và hợp lí.
Trong tập Nguồn cội, Trần Trọng Giá có một mảng thơ rất đáng chú ý là thơ dành cho bạn bè và người thân trong gia đình. Có thể còn chút băn khoăn về chất thơ, nhưng điều đó không quá quan trọng. Bởi như một chủ định. Như một ý tưởng. Sẽ là vô nghĩa nếu sau tất cả những xôn xao, những vồ vập, những vay trả, được mất và cả những trày xước, những nhận biết, giác ngộ mà một đời người thu nhận được từ cuộc sống đầy rẫy vô thường, cuối cùng lại chỉ là những lắng đọng cho riêng mình. Nó phải được lan toả. Được sẻ chia. Không phải vô cớ khi trong chủ đề về tình yêu đối với quê hương, nguồn cội, Trần Trọng Giá đã đặt bài thơ tặng vợ vào như một tâm điểm, một nét nhấn quan trọng. Thường người ta chỉ ru con chứ ít ai ru vợ. Nhưng Trần Trọng Giá - một người lính, lại khác:
 
“Đi qua mấy cuộc chiến chinh
Thương em gánh nỗi một mình lo toan
Bao vất vả bao gian nan
Mồ hôi nước mắt chan chan phận người.”
 
Từ nhận thức, trong bất cứ cuộc chiến nào thì phụ nữ, những người mẹ, người vợ, đặc biệt những người vợ lính luôn là những người chịu thiệt thòi nhiều nhất. Và cảm giác như với họ, mỗi khó khăn, trở ngại trong cuộc sống đơn lẻ không có chồng bên cạnh luôn là những cuộc vượt cạn sinh tử:
 
“Mái tranh chịu cảnh gió đông
Ngọn đèn thức trắng mà trông anh về”
 
Chính vì thế, với ông, người vợ sau 55 năm gắn bó vừa là một báu vật, một chỗ dựa vừa lại có gì nhỏ bé mong manh. Nhưng cảm giác lại không giống như cảm giác về một chiếc cốc thuỷ tinh trong suốt với những hoa văn cầu kì. Nó là hơi ấm của mái tranh, của ổ rơm, của tấm chăn gai đã che ta trong bao đêm đông giá lạnh. Là vị cay của gừng. Vị mặn của muối.
 
“Hạt muối mặn, củ gừng cay
Cái chăn mỏng, giấc mơ dày… chờ mong.”
 
Và trên hết, như ngọn đèn không tắt trong đêm, dù le lói nhưng vẫn luôn là ánh sáng dẫn đường để ta trong những ngày xa quê luôn ngoái nhìn để nuôi chí bền và để ngày về không lạc lối.
Những bước chân về quê được cụ thể hoá bằng thơ. Đến đầu làng, gặp lại những gương mặt thân thương lòng vẫn hằng nhớ trong những ngày xa. Về đến ngõ ngôi nhà của mình tay run run đẩy cánh cổng ghép bởi những nan rào tuềnh toàng quê kiểng. Và con tim đầy ắp sự hồi hộp. Đó là phút kẻ xa quê được đặt gói hành trang xuống hiên nhà tới ngồi bên bậu cửa. Và đêm… phút đoàn tụ bên gia đình. Nhìn đàn cháu đang lớn lên trong yên bình, xoè bàn tay gầy guộc hơ lên bếp lửa hồng được đốt lên bằng những gốc tre già huyền thoại ông hiểu Cuộc sống của chính mình đã và đang được tiếp tục tái sinh. Cảm nhận từ đó tất cả yêu thương lan toả cùng một bù đắp ấm áp. Trần Trọng Giá hiểu rằng: Những trang thơ ta viết hôm nay chính là một cứu cánh, một nơi cất giữ nhiệm màu về hình ảnh, tình cảm với quê hương. Đồng thời cũng chính là ta trong hành trình đi qua chính mình để về nguồn cội.
 
Nhà văn KAO SƠN

anh_cua_trung_nguyen_11

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com