
Мы знаем,что ныне лежит на весах
И что совершается ныне
Час мужества пробил на наших часах
И мужество нас не покинет
Не страшно под пулями мертвыми лечь
Не горько остаться без крова -
И мы сохраним тебя, русская речь
Великое русское слово
Свободным и чистым тебя пронесем
И внукам дадим, и от плена спасем
Навеки!
23 февраля 1942
LÒNG DŨNG CẢM
Anna Andreevna Akhmatova
Chúng tôi biết những gì đang nằm trên bàn cân bây giờ
Và những gì bây giờ đang xảy ra
Giờ phút dũng cảm đã điểm trên đồng hồ của chúng ta
Và lòng dũng cảm sẽ không rời bỏ chúng ta.
Nằm dưới làn đạn đầy chết chóc cũng không đáng sợ
Không có gì phải đau khổ, cay đắng khi không có một mái nhà
Chúng tôi sẽ bảo vệ Người hỡi tiếng Nga !
Ngôn từ tiếng Nga thật vĩ đại.
Chúng tôi sẽ gìn giữ cho Người (mang Người bên mình) trong sáng và tự do
Chúng tôi sẽ truyền lại cho con cháu và cứu giúp Người thoát khỏi ngục tù
Mãi mãi!
Ngày 23 tháng 2 năm 1942
LÒNG DŨNG CẢM
Anna Andreevna Akhmatova
Ta biết điều gì đặt giữa bàn cân,
Và những gì quanh ta đang xảy đến
Phút dũng cảm, chuông đồng hồ đã điểm
Dũng cảm không hề rời bỏ ta đâu!
Có đáng sợ chi khi lửa đạn trên đầu
Chẳng đau khổ khi không nhà nương náu
Ta bảo vệ Người, ơi tiếng Nga yêu dấu!
Vĩ đại vô cùng, tiếng của lòng ta.
Ta giữ cho Người trong sáng, tự do
Cứu Người thoát khỏi vòng tù hãm
Và truyền lại cháu con lòng dũng cảm
Đến mãi muôn đời!
Thái Xuân Nguyên dịch từ nguyên tác tiếng Nga
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ VÀ BÀI THƠ “LÒNG DŨNG CẢM”
Anna Andreevna Akhmatova (Анна Андреевна Ахматова, 23/6/1889-5/3/1966), nữ nhà thơ Nga, một trong những gương mặt xuất sắc nhất của thơ Nga thế kỉ XX. Số phận của nữ thi sĩ Anna Akhmatova tên thật là Anna Andreyevna Gorenko, rất phức tạp. Bà không công nhận CM tháng Mười, nhưng lại nhiệt tình tham gia cuộc Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại để bảo vệ Tổ quốc. Chồng bà bị xử bắn vì tội “chống xô viết”. Con trai bà bị lưu đày. Thơ của bà bị phê phán dữ dội. Nhưng bà không di tản, vẫn ở lại trong nước, bà đi sơ tán, viết cả chùm thơ “Những ngọn gió chiến tranh”. Bài thơ “Dũng cảm” là lời bà khuyên mọi người phải giữ gìn tiếng Nga, văn hóa Nga để truyền lại cho con cháu. Bà cho rằng sự vĩ đại của một dân tộc không phải được đo bằng trình độ phát triển kinh tế và chính trị, mà bằng nội lực tinh thần đặc biệt. Sức mạnh đó không gì phá hủy được. Bà được coi là nhà thơ vĩ đại của thế kỷ 20, là biểu tượng của tinh thần trung thực và chân chính. Năm 1962 bà được đề cử trong danh sách xét giải Nobel Văn học; Năm 1964 bà được sang Ý nhận giải thưởng Taormina Poetry Prize và được bầu làm Chủ tịch Hội Nhà văn LX. ; năm 1965 được trao bằng Tiến sĩ danh dự của Đại học Oxford. Thơ của bà được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới và được dịch nhiều ra tiếng Việt.
