NGUYỄN ĐÌNH THI
NHÀ VĂN HÓA ĐA TÀI
- Trong hệ sinh thái trí tuệ, tôi tôn ông là bậc thầy về triết học & mỹ học mặc dù ông là cử nhân. Trong tôi, ông đáng tầm giáo sư triết học, mỹ học. Tôi tuy là tiến sỹ triết học, mỹ học nhưng đứng bên ông thấy nhỏ nhoi choáng ngợp.
- Trong hệ sinh thái nghệ thuật, tôi cũng tôn ông là bậc thầy vì văn ông, thơ ông, nhạc ông, kịch ông, lý luận của ông...
- Trong hệ sinh thái gia đình, tôi tôn ông là chú xưng cháu vì tôi chơi với Nguyễn Đình Chính - con trai ông. Đã từng " ăn chực" nhiều lần ở nhà Nguyễn Đình Chính đường Nghi Tàm và " ăn chực" 2 lần ở nhà ông ( nhà sáng tác của Hội nhà văn Quảng Bá ) do vợ ông - nghệ sỹ Tuệ Minh nấu.
Chính nhà thơ Xuân Quỳnh ( vợ Lưu Quang Vũ) đã từng nói" Ở Hội nhà văn có Alanh đờ lông ( diễn viện đẹp trai nổi tiếng của Pháp) là Nguyễn Đình Thi.
Chính tôi đã có " sáng kiến " đặt vấn đề với khoa Triết học trường Đai học Khoa học và Nhân văn - đại học quốc gia Hà Nội ( nơi tôi giảng dậy ) mời ông đến trao đổi về triết học, mỹ học với văn học với tư cách nhà văn và đã nghiên cứu khá sâu về triết học của I.Kant và Heghen.
Chính ông đã tranh luận kịch liệt với tôi về thuyết hiện sinh của triết gia nổi tiếng người Pháp Albert Camus. Khẳng định con người sinh ra trước rồi sau đó mới tự định hình bản chất và ý nghĩa cuộc đời mình qua hành động và lựa chọn.
Cũng chính ông đã kịch liệt hơn khi tranh biện với tôi về học thuyết phân tâm học ( (psychoanalysis) của nhà thần kinh học người Áo Sigmund Freud) - là một loại liệu pháp dựa trên niềm tin rằng tất cả mọi người đều sở hữu những suy nghĩ, cảm xúc, mong muốn và ký ức trong vô thức
Cũng chính ông đã khuyên: "Thế Hùng phải hiện sinh - làm việc hết mình và nâng cao chất lượng sống". Tôi chủ trương làm việc như điên và ăn sung mặc sướng, hưởng thụ, đi xe sang, ở nhà đẹp là từ tư duy của ông
Và hôm nay, sau bài viết về giảng dạy mỹ học và cái bằng tiến sỹ mỹ học. Tôi quyết đinh post lại bài viết về những kỷ niệm với ông trong cuốn : HỒI ỨC THẾ HÙNG" như một hoài niệm của cháu về chú.
NHÀ VĂN HÓA NGUYỄN ĐÌNH THI
NGƯỜI KHỔNG LỒ NGUYÊN ĐÌNH THI
( Trích trong “ Hồi ức Thế Hùng”)
Văn hóa là tổng hòa các giá trị vật chất và tinh thần trong đó có tri thức, nghệ thuật, đạo đức và niềm tin do con người sáng tạo, tích lũy qua lịch sử, tạo nên bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội được truyền qua nhiều thế hệ…
Văn hóa là từ Hán, khởi nguồn từ Kinh dịch “ Quan thiên văn dĩ sát thời biến, quan nhân văn hóa thành thiên hạ”. Đấy là quan điểm của học giả Hương Giang Thái Văn Kiểm. Nhưng theo cứ liệu lịch sử, một trong những người đầu tiên quan tâm đến khái niệm văn hóa là Triết gia Lưu Hướng ( thời Tây hán). Theo ông, VĂN là vẻ đẹp – HÓA là giáo hóa. Văn hóa – là dùng văn để hóa. VĂN HÓA NGHĨA LÀ LẤY CÁI ĐẸP ĐỂ GIÁO HÓA CON NGƯỜI.
Nguyễn Đình Thi một đời làm văn hóa, sáng tạo văn hóa: thơ – văn – nhạc - kịch – lý luận. Nếu cụ vẽ tranh nữa là thành Văn Cao thứ hai.
KHÚC 1/
THI TRIẾT
VÀ THI PHÁP NGUYỄN ĐÌNH THI
- Chú kính mến, cháu đang đến đón chú đây. Khoảng mười lăm phút nữa là cháu tới ạ.
- Cám ơn Thế Hùng, chú đợi.
Ông tiếp tôi với hai tư cách. Một, là con cháu (chơi với Nguyễn Đình Chính, con trai ông). Hai, là Tiến sỹ Triết học, Mỹ học. Giảng viên khoa Triết học trường Đại học Tổng hợp cũ (Nay là Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn - Đại học Quốc gia Hà Nội).
TH: Thừa lệnh ban chủ nhiệm khoa Triết học - Trường Đại học Quốc gia Hà Nội. Cháu kính chuyển lời mời của Giáo sư Nguyễn Hữu Vui và Phó giáo sư Bùi Thanh Quất đến nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ Nguyễn Đình Thi tới trao đổi với tập thể giáo viên dạy Triết học, Mỹ học về Triết Mỹ trong sáng tạo Nghệ thuật và đời sống thẩm mỹ.
NĐT: Tuyệt quá, chú đã nghiên cứu Triết học khi còn là học sinh trường Bưởi, Đại học Huế, sau là ban triết trường Đại học Đông Dương mà. Chú cũng mê văn học Pháp như Hugo, Balzac, Stendhal, Musset, Vigny, Baudelaire vì nó đậm đặc triết luận nhân sinh.
Xe chạy. trên xe là một đại thụ và một nhánh cây mới mọc đang khao khát mặt trời…
TH: Thưa chú, triết học là khoa học của mọi khoa học. Hữu thể học được suy tôn là đệ nhất triết học bởi nó nghiên cứu các nguyên lý và các quy luật mà mọi ngành khoa học khác. Là nguyên nhân của toàn bộ thế giới của tồn tại.
Vậy theo chú, một nghệ sỹ sáng tạo nói chung, hay cụ thể là nhà văn, nhà thơ, họa sỹ, nhạc sỹ. Một khi được trang bị kiến thức triết học, mỹ học khác với những nghệ sỹ khác ở chỗ nào?
NĐT: Tốt quá đi chứ, khác nhiều chứ? Phông văn hoá (General culture) sẽ sâu và rộng hơn và tất nhiên sáng tác hay hơn, nhiều tác phẩm đẹp hơn. Triết học Đức với I. Kant, Heghen là đỉnh cao của triết học nhân loại. Họ giống nhau một điểm là đề cao con người. Đề cao thi ca. Hêghen cho Triết học là cao nhất. Ông quan niệm mỹ học đồng nhất với triết học nghệ thuật.
TH: Chú bênh vực luận điểm của Kant chứ?
NĐT: Là nghệ sỹ phải yêu Kant. Kant phủ định cả chính để, phản đề về cái đẹp. Chỉ cảm xúc thẩm mỹ mới đúng. Cái đẹp gắn với hoạt động chủ quan của con người. Không có cái tôi, không có xúc cảm thì làm được cái gì hả cháu?
TH: Thưa chú, cháu là nghệ sỹ sáng tác và đang dạy Mỹ học I.Kant nên cháu suy tôn tư duy và luận điểm của Kant. Không ai yêu con bằng mẹ, không ai yêu mình và tác phẩm của mình bằng chính mình nên câu “Văn mình vợ người” là đúng, đúng đến độ phổ quát, đúng theo tư duy chủ quan của Kant. Cái “Tôi” của cháu rất lớn, cháu có thể một mình độc hành đi trong giông bão cuộc đời. Vì thế, cháu dám làm, dám xả thân, làm tất cả những gì khao khát bất chấp miệng thế gian.
NĐT: Cười, Thế Hùng cũng đáo để nhỉ?
TH: Cháu nhiễm chú mà. Khi bị ai tị hiềm, đố kỵ, nói xấu là cháu lại nhớ đến câu của chú để củng cố bản lĩnh:“Trăng cứ sáng, chó cứ sủa, đoàn người cứ đi”. Nguyễn Đình Thi đã một mình phát quang thơ mới, thơ không vần nên bị phản đối kịch liệt trên chiến khu đến mức ai đó định dìm xuống sông...
NĐT: Quá vãng rồi cháu. Ông cười nhân văn, độ lượng
TH: Cháu đợi chờ từ lâu rồi, từ khi đặt vấn đề với khoa mời chú. Hi vọng hôm nay sẽ lĩnh hội được nhiều tri thức triết, mỹ từ chú để dạy và sáng tác tốt hơn.
NĐT: Chả phải hôm nay, chúng mình biết nhau rồi, cần cháu cứ đến, tri thức là của nhân loại, cửa nhà chú và hồ Tây lộng gió luôn mở đón Thế Hùng.
TH: Cháu cám ơn chú, chú có nhiều công trình nghiên cứu về Triết học, Mỹ học không ạ?
NĐT: Chú đã viết khá nhiều bài về Triết học phương Tây, siêu hình học Arixtot, Rene’Descates, I. Kant, Nietzsche và phản tỉnh của Hê ghen. Tôi trố mắt kinh ngạc vì ông hiểu quá sâu về nghề của tôi, nể phục ông. Thầy của thầy .
TH: Chú thấy thuyết hiện sinh của Jean Paul Sartre và phân tâm học của Freud thế nào?
NĐT: Họ là những nhà phát kiến ra những chủ thuyết mới lạ đáng quan tâm. Tuần sau cháu đến, Chú cháu mình cùng tranh luận.
Xe từ từ vào cổng trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 336 đường Nguyễn Trãi, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Ban chủ nhiệm khoa và các thầy cô nồng nhiệt đón Nguyễn Đình Thi như một đồng nghiệp…
Trước khi có cuộc trò chuyện này tôi đã yêu, đọc và thuộc thơ ông – thơ mới, thơ không vần. Nhất là top 11 bài thơ hay nhất của Nguyễn Đình Thi…
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa Thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy…”
( Ông viết năm 1948)
KHÚC 2/ ĂN CHỰC CƠM CHA CON NGUYỄN ĐÌNH THI VÀ NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH
Nguyễn Đình Thi là một trong những nhà thơ lớn tiên phong của thời kỳ phục hưng văn nghệ, văn hóa Việt Nam. Ông đã khai sáng và định hình một phong cách thơ mới giống như các trường phái Hội họa hiện đại như Ấn tượng, Trừu tượng, Lập thể, Dã thú hay Đa Đa.
Tôi đã nhiều lần được thưởng trà ướp sen hồ Tây thanh cao do nghệ sỹ Tuệ Minh (vợ ông) ướp. Được “ăn chực” cơm của vợ chồng ông và sau này là vợ chồng con trai ông - nhà văn, họa sỹ Nguyễn Đình Chính ở bên này phố Nghi Tàm. Chúng tôi có mối thâm tình vì Chính là con rể danh họa Mai Văn Hiến. Cụ Hiến quý cháu Hùng. Mai Ngọc Oanh, gái rượu của cụ Hiến, phó chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam là chị ruột vợ Chính cùng ngành phê bình mỹ và thuật chơi thân với Thế Hùng, vì cây nên dây cứ quấn.
Nhiều lần lê la cả buổi xem Chính vẽ, buổi trưa nắng há mồm vừa uống rượu vừa ngắm ảnh Nguyễn Đình Thi treo ngay phòng khách. Lần nào triển lãm tranh Chính cũng mời và Hùng cũng đến với chai vang mừng bạn. Cứ hễ trao giải thưởng Nguyễn Đình Thi là: Hùng ơi, đến nhé.
Nguyễn Đình Thi điềm đạm, lịch lãm, nhỏ nhẹ, sang trọng, trí tuệ và cao vời vợi. Ông yêu hoa và yêu người đẹp. Ở Hội Nhà văn, ông là thần tượng của chị em. Tôi là đàn ông mà còn mê tít thò lò nữa là. Đàn ông chỉ cần tài là đủ. Ông đã quá tài lại to cao đẹp trai, men lỳ nên cũng vất vả tình trường…Mà không mê ông thì mê ai? Chả lẽ mê ông Lê Lựu, Nguyễn Bính đặc sệt quê mùa chắc. Các nữ sỹ Xuân Quỳnh, Ngọc Tú, Dương Thu Hương, Ý Nhi … một rừng hoa, sư ông cũng phải động lòng nữa là.
Với hai ca khúc trác tuyệt: “Diệt phát xít” (1945) và trường ca “Người Hà Nội”(1947) Nguyễn Đình Thi đã ngạo nghễ trên bầu trời âm nhạc Việt Nam. Có lẽ quê gốc ông ở trung tâm Hà Nội, làng Vũ Thạch (nay là phố Hàng Trống) nên những địa danh đã vào ca khúc của ông một cách ngọt ngào, sự tinh tế và độc đáo của từng ca từ, cụm từ: “Đây hồ Gươm, Hồng Hà, hồ Tây. Đây lắng hồn núi sông ngàn năm. Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu….Tíu tít gánh gồng, đây ô Chợ Dừa kia ô Cầu Dền làn áo xanh nâu Hà Nội tươi thắm… quanh co chen ngang rộn ràng Đồng Xuân, xanh tươi bát ngát Tây Hồ, Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng hàng Bạc, Hàng Gai”…
Có nhà báo hỏi Nguyễn Đình Thi :
- Thưa nhà văn, cho tôi hỏi trình độ âm nhạc của ông thời ấy thế nào mà sao lại sáng tác được những ca khúc “Diệt phát xít”,“Người Hà Nội” hay và nổi tiếng đến thế?
- Trình độ tôi thời ấy không bằng trình độ sơ cấp âm nhạc bây giờ. Nhưng đổi lại, chúng tôi có hồn nước và tài năng. Đúng, đúng một trăm phần trăm. Với tư cách là người đã học sáng tác ca khúc, tôi đồng tình với ông. Trong sáng tạo nghệ thuật, tài năng là quan trọng. Vấn đề là anh nghĩ ra giai diệu và lời ca, còn ký âm pháp (ghi ra văn bản) có thể nhờ người khác hay nói cách khác là ghi cao độ trường độ, tiết tấu chỉ là công cụ phụ trợ cho nhạc sỹ sáng tạo.
Và Nguyễn Đình Thi đã tỏa sáng trí tuệ với thầy trò chúng tôi – một trong những lò đào tạo Triết học và Mỹ học hàng đầu Việt Nam. Riêng tôi tốc ký được mười mấy trang… Trong thời lượng ba tiếng đồng hồ, với kiến thức tổng hợp, sâu rộng uyên bác. Ông đi từ Đông sang Tây, Từ Khổng Tử, Lão Trang. Từ chúa Je’sus đến đức Phật, Mahome đến Hy Lạp cổ đại 2.500 năm với văn minh huy hoàng thần thoại của vị thần thi ca Apollon và nữ thần Athena. Ông còn nhớ Apollon là một trong những vị thần uy quyền nhất trong thần thoại Hy Lạp, là đấng sáng tạo trên đỉnh Plempo dẫn dắt mọi cảm xúc của con người.
Ông cháu nhất trí với ông chú là triết học được kết hợp với Phật giáo của Lão Trang tràn vào Việt Nam. Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo đều bắt nguồn từ thi ca, nâng đôi cánh của thi ca bay lên. “Thi ca tựa như hài nhi trong máng cỏ của loài người” (Trần Mạnh Hảo). Nếu ví triết học như một đại lão từng trải, thận trọng, suy tư thì thi ca là đứa trẻ hồn nhiên thuần khiết. Cái đẹp được tạo ra bởi sự hôn phối tuyệt vời giữa và triết học và nghệ thuật đặc biệt là thi ca.
KHÚC 3/ THƠ SIÊU HÌNH HỌC
VÀ THI PHÁP NGUYỄN ĐÌNH THI
Giao thoa, tiếp biến, hội nhập văn hóa là một tất yếu lịch sử. Người Pháp sang xâm lược nhưng đồng thời cũng khai hóa văn minh với nhiều dấu tích ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Ngày 20 tháng 1 năm 1900 toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đã ký nghị định thành lập Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp. Năm sau, 1901 xây dựng nhà hát lớn thành phố Hà Nội đến năm 1911 thì hoàn thành dập theo mẫu nhà hát Opera Garnie ở Paris. Năm 1906 thành lập Viện Đại học Đông Dương (Universite’ Indochinnoise). Ngày 27 tháng 10 năm 1924, Toàn quyền Đông Dương Martial Merlin ra sắc lệnh thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (L’ecole des beaux- arts de L’indochine)…
Triết học, văn học, âm nhạc, hội họa Pháp đồng loạt tràn vào Việt Nam như một cơn gió mới làm thay đổi khuynh hướng sáng tác. Nếu trong Âm nhạc manh nha tân nhạc 7 nốt đồ rê mi fa sol la si thay cho ngũ cung thì trong hội họa, sơn dầu vẽ trên vải đã thay cho ông đồ Nguyễn Phan Chánh chuyên vẽ lụa truyền thống. Nguyễn Gia Trí mạnh dạn thay đổi thân phận sơn mài từ trang trí mỹ nghệ sang mỹ thuật tạo hình nghệ thuật.
Triết học, văn học cũng vậy. Các nhà thơ trẻ “Pháp học” ở Việt Nam đón nhận nó một cách hào hứng và họ rẽ sang một khúc ngoặt mới: Thơ tư duy, thơ mới, thơ không vần. Triết học là khoa học của mọi khoa học. Dòng chủ lưu Triết học cuốn theo văn học của một dân tộc văn minh cuồn cuộn chảy từ Tây sang Đông với các chủ thuyết triết mỹ của Rene’Descates, I. Kant, Nietzsche, Hê ghen và các tác phẩm văn học đồ sộ của Hugo, Balzac, Baudelaire, Stendhal, Musset, Vigny…
Mở cửa đón nhận tư duy triết học, văn học Pháp tất nhiên là các nhà thơ trẻ đang khao khát cái mới trong đó có Nguyễn Đình Thi. Sự hòa nhập, giao thoa văn hóa ấy đã “làm giầu cho thi ca” Việt vốn đang cần đổi mới.
Như vậy, thi đàn Việt Nam có hai dòng thơ song song tồn tại. Thơ cũ có vần và thơ mới không vần. Nguyễn Đình Thi làm thơ mới, thơ không vần bởi ông ảnh hưởng từ tư duy triết học, mỹ học chủ quan của I.Kant, phản tỉnh của Hê Ghen và nhiều nhà triết học khác. Thơ triết học khác thơ thuần túy ở chỗ, vừa lý tính gần với khoa học vừa cảm tính của con người. Thơ siêu hình học vừa bắt người đọc phải suy nghĩ nhưng cũng vẫn tạo ra khoái cảm say sưa bởi nhạc điệu, nhịp của các con chữ. Thẩm mỹ học (Esthe’tique) là đây chứ đâu? Nhà phê bình văn học Hoài Thanh phải kêu lên: “Một nhà thơ Việt hình như mang nặng trên đầu năm bẩy nhà thơ Pháp”
Có thể nói, triết học đã nâng thi ca Nguyễn Đình Thi lên một tầm mới, một giọng điệu thi ca mới mà Triết học là ngọn nguồn cho một mê lộ thơ ông. Vì thế ông đã quyết liệt bảo vệ quan điểm thơ mới, vững vàng băng qua cuộc tranh luận nảy lửa và gay gắt về thơ tự do của ông đã từng bị phê phán kịch liệt trên chiến khu Việt Bắc (từ ngày 25 đến 28 tháng 9 năm 1949) về thơ không vần của mình.
So với các nhà thơ đi trước từ những năm 1932, Nguyễn Đình Thi nhập cuộc mạnh mẽ hơn bởi ông rất giỏi ngôn ngữ Pháp. Nguyễn Đình Thi ảnh hưởng văn học Pháp thì ít nhưng ảnh hưởng triết học Pháp thì nhiều. Nhiều đến mức ông đã “Tự giải phóng” để hình thành một “trường triết học” sâu thẳm trước khi ông nhập vào dòng chủ lưu của thơ tự do.
Về hình thức và nội hàm tác phẩm, Nguyễn Đình Thi không mấy quan tâm đến ngoại diên mà chỉ quan tâm đến nội tâm thi sỹ - điệu thức của tình cảm bởi bản chất thơ là cảm xúc. Nó chính là giai điệu, nhạc cảm của con tim theo tư duy chủ quan của người sáng tác. Thơ tự do tất nhiên là trúc trắc nhưng với sự lấp lánh của câu chữ đã gây ấn tượng mạnh khảm vào tâm hồn người Việt.
Tạng thơ già nua sướt mướt như Xuân Diệu không thể viết được những câu thơ thanh xuân, khỏe khoắn, phơi phới như Nguyễn Đình Thi: “Sáng mát trong như sáng năm xưa/ Gió thổi mùa thu hương cốm mới/ Tôi nhớ những ngày thu đã xa/ Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội/ Những phố dài xao xác hơi may/ Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.
Chính vì thế, Nguyễn Đình Thi vấp phải hai ý kiến phê bình rất gay gắt phủ định thơ ông. Xuân Diệu cho là “Thơ Nguyễn Đình Thi già, đau đớn, u uất về nội dung, khắc khổ gò bó về thể hiện”. Xuân Thủy: “Thơ trúc trắc khó ngâm, đọc khó hiểu trong lúc phải phục vụ quần chúng thì không nên dùng lối thơ mà quần chúng không hiểu”.
Cái mới bao giờ cũng khó chấp nhận. Giống nhau danh họa Piatsso vẽ tranh lập thể, Van Gogh vẽ tranh Ấn tượng. Người ta la ó: “Những thằng điên vẽ bán cho những thằng điên mua”. Các thi nhân thủ cựu lâu nay đã quá quen với thơ có vần nay vấp phải thơ mới lục cục nên phản ứng dữ dội là đương nhiên. Nhưng không phải không vần là không thơ. Thơ Nguyễn Đình Thi không vần nhưng có nhạc, có nhịp điệu nên tươi trẻ hay và lạ. Tôi đọc nhiều nên không mấy thích thơ cũ mà mê thơ văn xuôi không vần của ông và bây giờ là Nguyễn Duy bạn tôi.
Thơ không vần giúp nhà thơ dãi bầy được nhiều hơn bởi không bị gò vào niêm luật. Vấn đề là phải giữ đúng cảm xúc, cảm xúc như dòng chảy mạch nguồn, Tất nhiên cảm xúc gặp được vần thì quá hay. Có thể gò bó đấy, có thể bỏ qua luật bằng trắc đấy nhưng nội lực thơ bên trong phải mạnh, rất mạnh để áp đảo, dẫn dắt người đọc. Vì thế, Nguyễn Đình Thi đã: “Có thể có sự bỡ ngỡ đối với thơ không vần. Người ta cũng bảo khó hiểu. Thơ tôi bây giờ có gì mà không hiểu. Đủ cảm xúc tự nhiên thì cứ nói, thành vần cũng được, không thì thôi”. Và ông điềm nhiên bản lĩnh vững tâm đi theo con đường thơ tự do mà mình đã chọn hình thành thi pháp Nguyễn Đình Thi.
Nguyễn Đình Thi cho rằng thơ mới phải khỏe khoắn, tự nhiên thậm chí xù xì, gân guốc. Nguyến Đình thi đã độc hành mở lối, cải cách thi ca, thơ không vần, thơ tự do như một tất yếu của xu thế sáng tạo.
Thơ Nguyễn Đình Thi là sự chuyển động những con chữ, mang hơi thở mới cho thơ Việt
“ Dừng chân trong mưa bay/ Ướt đầm mái tóc/ Em em nhìn đi đâu/ Môi em đôi mắt/ Còn ôm đây/ Nhìn em nữa/ Phút giây/ Chiều mờ gió hút/ Em/ Bóng nhỏ/ Đường lầy”.
KHÚC 4/ NGƯỜI KHỔNG LỒ NGUYỄN ĐÌNH THI
Bao nhiêu năm biết ông, gần ông ở Hội Nhà văn. Tiếp xúc với ông vô
cùng dễ chịu. Ông khiêm nhường, không nói to bao giờ. Trong giới văn chương nước nhà, có lẽ ông là một trong những người giỏi tiếng Pháp nhất. Ngữ điệu ông nói như Pháp luôn. Không biết có phải vì thế mà cô nhà báo xinh đẹp người Pháp đem lòng yêu ông.
Trước khi chia tay, tôi hỏi: Triết học dõi tìm trí tuệ, Tôn giáo đi tìm các đấng thần linh thì nghệ thuật, thi ca lại đi tìm cái đẹp, cái thẩm mỹ. Theo chú đúng hay sai?
NĐT: Thế Hùng là thầy dạy Mỹ học có khác. Ông cười, nụ cười trong sâu thẳm trí tuệ của một văn nhân, kẻ sỹ.
Trò chuyện với Nguyễn Đình Thi thật là thú vị và bổ ích bởi chú cháu tôi đều yêu Triết học và sáng tạo Nghệ thuật. Triết học là khởi nguồn của niềm cảm hứng sáng tạo thi ca. Thời Hy Lạp cổ đại, Aristote trong cuốn “Thi pháp” đã rút gọn Nghệ thuật lại thành thi ca. Có thể nói, thi ca là bà đỡ của Triết học và sự kỳ diệu của cảm xúc. Tất cả các nền văn hóa, văn minh của nhân loại đều bắt nguồn từ thi ca. Ngay đến cả ông tổ của thế giới ý niệm duy tâm Platon cũng đã xác nhận cảm xúc là ngọn nguồn của thi ca, của nghệ thuật ngôn từ.
Cả hai chú cháu tôi đều mê câu của Socrate nói về tầm quan trọng của triết học:“Mẹ tôi đỡ đẻ cho những sản phụ, tôi đỡ đẻ cho những bộ óc”.
Bộ óc Nguyễn Đình Thi là một kho báu. Kho báu ấy có một hàm lượng Văn học Nghệ thuật với nhiều tầng vỉa thơ, văn xuôi, âm nhạc, kịch, lý luận
Với thơ, Nguyễn Đình Thi là nhà thơ lớn với những bài:“Đất nước”,“Bài thơ Hắc Hải”,“Nhớ”,“Lá đỏ”…Những vần thơ bất hủ:“Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”,“Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần”.
Năm 1949, khi mới 25 tuổi, ông đã viết tặng người tình của ông là nhà báo, nghệ sĩ Pháp Ma - đơ - len - ríp - phô những vần thơ tuyệt vời
“Em bảo anh: Khi chúng ta nằm bên nhau
Thì bao đồng chí đang nằm hầm sâu
Em bảo anh: Mỗi vết bùn chúng ta mang trên mặt
Trong mắt người yêu biến thành nước mắt
Và mỗi tia lửa vút bay lên cao
Trong mắt người yêu biến thành trời sao.
( Em bảo anh)
Năm 2001, Nguyễn Đình Thi cho ra tập thơ “Sóng reo”. Đấy là thi phẩm cuối cùng vì hai năm sau ông mất (16g 45 phút ngày 18 tháng 4 năm 2003).
Cuối đời, Nguyễn Đình Thi, bằng cái dũng của kẻ sĩ, nhân cách một nghệ sĩ lớn đã từng là công thần của Đảng, một tài năng “khổng lồ” của thi đàn và nghệ thuật Việt Nam, không bao giờ nhắc đến công lao to lớn của mình đã xám hối chân thành những “lầm lỗi” mà mình đã gây ra và xin được tha thứ.
Nguyễn Đình Thi không phải là thánh, vì thế ông đã từng phạm sai lầm, từng tha hóa để “tham, sân, si” ngự trị trong khoảng khắc ông không được là mình. Đã “Giành giật”,“Dối lừa”,“Khoác lác”, “Chăm chăm thu vén” và “Nhiều lần ác”. Nguyễn Đình Thi dám nói thẳng những “phần tối” của mình khi đang trên đỉnh cao danh vọng. Ông đã công khai bày tỏ bằng thơ. Đây là bài học cho hậu thế như Bác Hồ đã nhận sai lầm của Đảng trong cải cách ruộng đất.
Nguyễn Đình Thi chuẩn bị cho một cuộc đi xa bằng sự chân thành cho lòng thanh thản. Luôn cho mình bé nhỏ nên Nguyễn Đình Thi khổng lồ, vĩ đại bởi ông thành thực, sự thành thực đáng kính phục của một cao nhân, đấng trượng phu, nghệ sỹ lớn, một nhà văn hóa lớn.
“ Thôi xin tha cho mọi lỗi lầm
Quên những dối lừa khoác lác
Tôi biết tôi đã nhiều lần ác
Và ngu dại còn nhiều lần hơn…”
(Gió bay)
Với văn xuôi. Bộ tiểu thuyết hai tập “Vỡ bờ”,“Xung kích”,“Vào lửa”,“Mặt trận trên cao”, đã thấy một Nguyễn Đình Thi vạm vỡ, tìm tòi, đột phá. “Vỡ bờ” đã đưa Nguyễn Đình Thi lên vị thế dẫn đường của dòng tiểu thuyết sử thi lãng mạn và hào hùng, đặt nền móng cho tiểu thuyết hiện đại Việt Nam giai đoạn 1946 đến 1985.
Với lý luận . Nguyễn Đình Thi nghiên cứu Triết học rất sớm. 18 tuổi ông đã viết đến 6 cuốn sách về Triết học phương Tây mà lúc bấy giờ chưa một trí thức lớn nào dám viết. Ông trở thành nhà lý luận xuất sắc đầu tiên của nền văn nghệ mới với một loạt bài gây tiếng vang:“Nhà văn viết bằng cái gì”,“Nam Cao”,“Trần Đăng”,“Kịch Bắc Sơn”,“Tiếng nói của văn nghệ”,“Mấy ý nghĩa về thơ”,“Nhận đường”…
Với sân khấu. Ông cựa mình tách vỏ, tìm lối mới thể hiện qua 10 vở kịch: “Con nai đen”,“Nguyễn trãi ở Đông Quan”,“Rừng trúc”,“Hòn cuội”,“Trương Chi”,“Cái bóng trên tường”,“Người đàn bà hóa đá”, “Hoa và Ngần”…Nguyễn Đình Thi là một trong những nhà viết kịch sáng tạo và giầu trí tuệ nhất Việt Nam.
Với âm nhạc. Chỉ với bốn ca khúc “Người Hà Nội”,“Diệt Phát xít”,“Du kích quân”,“Căm hờn” đã gói trọn ký ức của lịch sử, nuôi dưỡng tình yêu đất nước và khơi dậy niềm tự hào dân tộc. Riêng trường ca “Người Hà Nội” là tác phẩm âm nhạc hay nhất, đồ sộ nhất mọi thời đại viết về thủ đô.
Điểm riêng biệt, không một văn nghệ sĩ nào có được là ông được chính quyền bảo hộ ưu ái đưa ông sang Pháp đào tạo thành viên chức trở về phục vụ trong bộ máy cai trị. Khi đó, ông là sinh viên xuất sắc nhất Đông Dương của trường luật nhưng ông đã từ chối vì trước đó, Nguyễn Đình Thi đã theo mặt trận Việt minh từ năm 17 tuổi. Từ những năm 1945, Nguyễn Đình Thi đã được giới văn học nghệ thuật cả nước coi như một tài năng lớn, một trí tuệ hiếm có của đất nước.
Hai mươi tuổi, Nguyễn Đình Thi đã là thành viên của ủy ban giải phóng dân tộc do cụ Hồ làm Chủ tịch và trực tiếp là thủ lĩnh của Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam. Ông từng là Đại biểu Quốc hội, tham gia Ủy ban Thường trực Quốc hội trẻ nhất lúc bấy giờ.
Nguyễn Đình Thi đã chạm đến đỉnh của vinh quang. Trí tuệ uyên bác, tài năng xuất chúng. Thời của ông không mấy văn nghệ sỹ học đến bậc cử nhân, nhất là luật học và triết học. Ông là nghệ sỹ lớn nhất, toàn năng. Một trong những người có sức ảnh hưởng lớn ở Việt Nam và thế giới. Nếu ông sáng tạo thêm hội họa như Văn Cao thì toàn tài, hoàn hảo.
Nhưng như thế, Nguyễn Đình Thi đã là một đại thụ sừng sững ở cửa rừng văn học nghệ thuật nước nhà mà tất cả các văn nghệ sĩ khác, dù tài đến đâu cũng chỉ là nhánh của đại thụ ấy.
Có thể khắc họa chân dung Nguyễn Đình Thi như sau: Một tài năng lớn của nền Văn học Nghệ thuật Việt Nam thế kỷ XX. Một nghệ sỹ đa tài, kiến thức uyên bác, phông văn hóa sâu rộng, tầm nhìn chiến lược. Nhà tổ chức và lãnh đạo văn nghệ xuất sắc. Ông đã giúp Đảng, Nhà nước bổ sung hoàn thiện đường lối văn hóa văn nghệ kháng chiến, kiến quốc.
Khổng Tử nói:“Người có đức mà lại có tài là vĩ nhân”.
Với tôi, ông là vĩ nhân. Bằng chứng là cử nhân Nguyễn Đình Thi đã sừng sững như một nhà Triết học, mỹ học lớn trước tập thể thầy trò khoa Triết học, Đại học Quốc gia Hà Nội chúng tôi - Nơi tập trung nhiều giáo sư, Phó giáo sư, tiến sỹ triết học, mỹ học nhất nước.
Thưa chú, cháu đã thành kính cùng Nguyễn Đình Chính, trai yêu của chú dâng cuốn “ Hồi ức Thế Hùng” có đôi dòng kỷ niệm của chú cháu mình lên bàn thờ nhà Chính. Cháu nhớ mãi câu của chú: “ Thế Hùng cũng đáo để nhỉ ”
Nguyễn Đình Thi - Nhà văn hóa lớn.
Nguyễn Đình Thi – Người khổng lồ - giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật.