bannemoinhat2-banne3-banne4-banne5-banne6-banne7-bannecuoi
TÁC GIẢ QUEN THUỘC
PHẢN HỒI MỚI

VŨ NHO 085 589 0003

 HAS MOTHER’S MEMORY FADED INTO OBLIVION? A Poem of Love, Time, and Farewell Long ago, I kissed my mother goodbye, She stood in tears beneath the parting sky. I walked away with laughter in my ey...

 

vũ nho 085 589 0003

THANK VERY MUCH!

 

AI give me this

HAS MOTHER’S MEMORY FADED INTO OBLIVION? A Poem of Love, Time, and Farewell Long ago, I kissed my mother goodbye, She stood in tears beneath the parting sky. I walked away with laughter in my eyes, ...

 

VŨ NHO 085 589 0003

CŨNG CHẢ CÓ GÌ GHÊ GỚM!THƠ NOBEL CŨNG CHỈ THẾ THÔI!SAO MÀ CÁC NHÀ THƠ VIỆT NAM CỨ PHẢI ƯỚC AO! HE HE HE...

 

vũ nho 085 589 0003

CÁM ƠN BẠN ĐÃ GHÉ TRANG VÀ BÌNH LUẬN!

 

0915708232

Nổi lòng của một thời rong ruổi mà đi lên

 
Xem toàn bộ
Đang truy cập: 41
Trong ngày: 87
Trong tuần: 2251
Lượt truy cập: 2014647

TRUYỆN NGẮN NGUYỄN ĐỖ PHÚ

CẦU VỒNG ĐI ĐÓN CƠN MƯA

 

Nhà Huyền có ba anh em. Huyền là út. Ông anh cả đang ở trong quân ngũ, đóng tận biên giới phía nam, ít khi về nhà. Anh thứ hai làm ở vùng mỏ, lập gia đình ở ngoài đó, thỉnh thoảng kỳ nghỉ phép hàng năm mới về nhà dăm bữa. Cuối cùng chỉ còn Huyền, học xong lớp trung cấp mỏ là ở nhà với bố mẹ. Mẹ Huyền bảo: Con gái việc gì phải đi làm đâu xa? Dễ hư hỏng. Ở nhà, thiếu gì việc. Một vài năm lấy chồng, con đằng trước, con đằng sau, lúc ấy khối ra đấy mà bay nhẩy.

Hàng ngày Huyền trông coi cửa hàng vải với mẹ.

Nhà ngay mặt phố, buôn bán gì chẳng đủ sống?

Bố Huyền trước làm ngành khảo cổ, đã hưu được gần chục năm. Ông nhận việc cơ quan về làm thêm. Suốt ngày, ông ngồi trong gian buồng nhỏ trên gác, chăm chú đọc những quyển sách chữ Nho. Những người tinh thông các thứ chữ cổ ấy, bây giờ ngày càng hiếm. Ông dịch ra quốc ngữ các thư tịch cổ, gia phả dòng họ, thần phả và văn bia. Thỉnh thoảng vào dọn dẹp, Huyền thấy trong phòng ông xếp đầy những quyển sách bằng giấy bản đen xin, nhầu nát, loại giấy bây giờ không thấy nữa. Lúc vui vẻ, ông thường gọi Huyền lên, đọc cho con nghe một đoạn văn mới dịch xong. Ông bảo con gái:

Văn chương tiền nhân ta thâm thúy lắm. Tiếc không có đứa nào theo được cái nghiệp của bố...

Nhiều lần đang nghe bố giảng giải chữ nghĩa, Huyền bị mẹ gọi xuống nhà, giọng bà không bằng lòng: "Con gái lớn, phải lo làm ăn, dừng bắt chước bố mày suốt ngày thơ phú, có mà đói. - Bà hạ giọng dủ cho Huyền nghe: - Bố mày cả đời văn chương chữ nghĩa, có bao giờ làm được cái gì nên hồn? Nhà này không có tao thì tan rồi".

Huyền biết công mẹ lớn lắm. Nhà mấy miệng ăn rồi sửa nhà sửa cửa, cưới xin giỗ Tết đều một tay mẹ lo toan. Bố chỉ như cái cột trụ trong nhà.

Mẹ Huyền bảo: "Thời buổi bây giờ, nhà mặt phố hơn bố làm to. Tao lăn như con bông bống mới giữ được cái nhà này mà ở, kể từ cái đận khó khăn nhất. Bây giờ đổi mới, ông chính phủ khuyến khích làm ăn buôn bán. Phi thương bất phú, các cụ nói cấm câu nào sai".

Học xong, Huyền được nhà trường bố trí công tác tậnbTây Bắc. Mẹ Huyền không cho đi, bà giấu biến cái giấy triệu tập. Quá hạn, không thấy Huyền đến, đơn vị tiếp nhận người khác. Thời buổi này ra trường, khối anh chị nằm ăn báo cô chờ phân công vài ba năm là thường.

Huyền không đi, người khác nhấy vào thế chân ngay.

Buổi dầu, mẹ Huyền mở cửa hàng bán vải. Vải tấm, vải mảnh, đủ mầu, đủ loại. Huyền mỗi tuần một lần đi lấy hàng. Nàng đạp xe sang một cái làng bên kia sông.

Làng ở khuất nẻo, cách đường quốc lộ đến hai ba cây số. Vậy mà người buôn kẻ bán rất đông. Trên trời dưới vải. Cánh thợ may, dân buôn các tỉnh, người tứ xứ đến chợ, buối nào cũng nườm nượp. Không biết từ đâu ra mà lắm vải thế. Thời ấy bắt đầu bỏ dần tem phiếu. Từ lúc mỗi năm được ba mét vải phiếu, sang đây ai cũng thấy lạ và háo hức lắm.

Hơn một năm sau, cái chợ vải ấy tràn sang cả Hà Nội. Suốt dãy dọc chợ Đồng Xuân, Bắc Qua, rồi chợ Hôm, ngun ngút những sạp vải. Giá cả chẳng còn chênh lệch mấy. Tại các phố, việc buôn bán trở thành phường thành hội. Cửa hàng vải của mẹ con Huyền trở nên lạc lõng và ế ẩm. Cả ngày không có một người hỏi mua. Mẹ Huyền tính cách chuyển.

Một buổi, bà về quê. Lúc lên, Huyền thấy mẹ dắt về hai đứa bé chừng mười một mười hai tuổi. Bà bảo Huyền:

- Hai đứa con nhà chú Sứt. Nhà nó rách quá, mà bố mẹ chúng nó đẻ như gà, con hàng lũ hàng lĩ mà thùng gạo lúc nào cũng rỗng. Tao thương tinh nuôi hộ hai đứa.

- Chúng nó gầy quá mẹ nhỉ. Ít bữa nữa con sẽ dạy chúng học.

- Học với chả hành... Quên tôi chưa nói với cô. Dạo này hàng họ ế ẩm, cái cửa hàng tấm này không sống được. Hết tháng này ta nghỉ. Mẹ thấy bây giờ chỉ mở quán cơm, bán các món ăn loàng xoàng, là sống. Cô xem, mấy ông bà cán bộ bây giờ đi làm có ai mang theo cái cặp lồng cơm như trước đâu? Buổi trưa, họ kéo nhau đi ăn hàng. Khỏe người mà chẳng tốn kém bao nhiêu. Phố nhà mình tiện đường, mẹ sẽ chuyển bán cơm bình dân. Hai con bé này ra đây giúp việc bát đũa. Còn cô, chỉ việc có ngồi quản lý thu tiền của khách cho tôi.

Mấy ngày sau, mẹ Huyền chở về một xích lô đầy những nồi niêu bát đĩa. Thuê người xây lò đun than. Mua một lô một lốc bàn ghế nhựa. Cả nhà Huyền rậm rịch lên như có đám cưới đám hỏi. Mẹ Huyền thuê hẳn một người đầu bếp chuyên nấu nướng. Cơm thổi trong cái nồi nhôm quân dụng thật to. Thức ăn chế biến hàng chục món. Cá mua mớ ở chợ, thứ cá mè ranh ít được các bà nội chợ ưa chuộng, nhiều xương dăm lại tanh. Nhưng đem về rán cháy cạnh, tẩm nước hàng vàng ươm rồi kho khô với giềng lại ngon. Thịt cũng thế, bà mua vào lúc chợ chiều sắp vãn, vì giá rẻ. Vài buổi quen khách, các bà hàng thịt hàng cá cứ vãn chợ lại đem đến tận nhà. Mẹ Huyền bảo: Làm cái nghề này phải khôn, không thì hết lãi. Con xem, khách vào hàng nhà mình có ba nghìn bạc cũng ăn no, năm nghìn là sang rồi. Mà ba nghìn bây giờ, làm được cái gì. Một bát phở chín lỗng bõng là hết chân tiền.

Mẹ Huyền có duyên bán hàng. Hàng cơm mở ra, ngay mấy buổi đầu khách đã đến ăn đông, nhất là vào buổi trưa, còn buối tối thì vắng hơn. Người ăn ào ào, cười nói oang oang. Bố Huyền đóng chặt cửa buồng.

Ông thở dài khi đến bữa thấy con gái bê lên một mâm đầy tú hụ món ăn. Bố Huyền lắc đầu: "Mẹ con tham công tiếc việc quá, bố nói không được, đủ thì thôi, nhiều tiền khi chết có mang đi theo được đâu. Lỡ ốm ra đấy một cái thì khốn... Mà bố có ăn mấy đâu, mang lên lắm thế này".

Huyền biết tính cha. Ông ăn ít và ngủ càng ít hơn, suốt ngày cặm cụi viết viết xóa xóa. Nỗi lo lớn nhất của bố là sau khi chết, không còn ai diễn đạt được hay và chính xác những lời lẽ của cổ nhân cho người đời sau hiểu.

Hai con bé từ quê ra, chỉ mấy ngày đã quen việc.

Những lúc đông khách, mẹ Huyền gọi chúng tíu tít: Nụ ơi bàn thứ ba một chai bia Tầu. Soan ơi, bàn bốn chưa có rau sống... Hai đứa len lỏi đi giữa những chiếc bàn ăn đông nghịt người, mùi thứ ăn, mùi rượu, mùi bia, xen lẫn mùi mồ hôi người ngàn ngạt. Buổi tối, vãn khách Huyền và mẹ vào nhà trong đổ tiền ra đếm, chúng lại rửa hàng thúng bát đĩa, nhặt hàng sọt rau muống... Để chuẩn bị cho ngày mai. Chúng vừa làm vừa hát i ỉ, thỉnh thoảng lại trêu chọc nhau rồi cười ré lên.

Huyền bảo:

- Hai đứa khỏe thật. Sao không nghỉ một chốc.

- Chúng cháu làm thế này quen rồi. Còn thích hơn ở quê. Mấy lại ở đây chúng cháu được ăn no.

Huyền bảo mẹ:

- Mẹ phải bớt công việc ra cho chúng đi học thêm một buổi.

- Cô lại bị ảnh hưởng bởi phim ảnh rồi. Xem viđêô cho lắm vào. Mấy đứa này, đến tên trong khai sinh chúng còn chẳng có nữa là... Bố mẹ chúng nó đẻ dày quá, sợ xã phạt thóc, cắt ruộng phần trăm, nên đẻ chui.

- Không khai sinh, không hộ tịch gì hết. Vậy chúng đi học làm gì. Ai công nhận là có chúng ở trên đời? Làm ở đây một vài năm, lớn lên, về quê lấy chồng, loanh quanh tòi ra một lũ con. Thế là xong chuyện...

Đôi lần Huyền nhận được thư của lũ bạn các nơi gửi về. Đứa khoe đang đi tìm mỏ ở Sa Pa, ăn mận hậu ngon ơi là ngon, biết được cái tái tê của gió Ô Quy hồ. Đứa đang ở vùng mỏ Đông Bắc, tên gì mà lại Cửa Ông, Mông Dương, Cọc Năm, Cọc Sáu? Chúng khoe được ăn con ngán, con sá sùng, con hải sâm, lội xuống biển xéo vào con hà vỡ răng rắc, lên bờ máu từ gan bàn chân chảy rồng ròng...

Còn Huyền thì kể được gì cho lũ bạn? Chuyện nấu canh dấm bằng cá mè ranh sao không tanh, chuyện những con chim cút bị vặt lông ngay lúc còn sống, hay những con ốc nhồi ban đêm bò đi khắp nhà? Chao ơi, toàn những chuyện quẩn quanh bếp núc, lông gà lông vịt nghe phát chán lên được, ngày nào cũng như ngày nào. Bọn bay như những cánh chim, đang sải cánh trên bầu trời cao, còn tao đây như con gà buộc chân ăn quẩn...

Mẹ Huyền vui ra mặt. Tối tối mỗi khi đếm tiền, bà chọn những đồng mới để riêng một chỗ. Cứ một trăm tờ lại quấn một cái chun, rồi cất vào tủ khóa kỹ. Mỗi tháng bà dúi cho Huyền một cái nhẫn hai chỉ đính tòn ten một cái băng giấy bảo hành. Bà mắng yêu con gái:

- Bố cô chứ, ở nhà phụ với mẹ thế này, giời thương, chả mấy nả mà khá con ạ. Sau này, chồng con vào có tí vốn đỡ khổ. Ti toe đi làm cán bộ, cán bèo thì được cái gì? Trông gương bố cô đấy, suốt đời cặm cụi mà đã làm được cái gì cho vợ con?

Cuộc sống đều đều, tẻ nhạt với những ngày tháng nối tiếp nhau như thế làm đầu óc của Huyền như mụ mị đi. Nghe mẹ nói vậy, cô cũng thấy phải. Nhưng lúc đọc thư của lũ bạn, cô lại thấy cuộc sống này sao mà tù túng và vô vị thế. Ôi cuộc đời người con gái, lớn lên loanh quanh lấy chồng, đẻ con, bú mớm tã lót... Thế là hết. Nhưng nào có ai qua được cái cầu ấy đâu? Những ngày tháng trẻ trung tự do này rồi sẽ trôi qua bao lâu nữa?

Cuộc sống phong kín của Huyền cứ thế ngày lại ngày lặng lẽ trôi đi. Đôi khi nó làm Huyền quên mất bản thân là một cô gái đang thời xuân sắc. Hàng ngày quán ăn đông nghịt người. Họ ăn uống ồn ào, ra vào nhộn nhịp. Hầu như chẳng có ai để ý gì đến Huyền, vì nàng ngồi khuất sau chiếc bàn cao, xung quanh chất đầy những két bia, những thùng nước ngọt. Khách ăn xong trả tiền tại bàn. Có những người xướng lên bao nhiêu, họ trả bấy nhiêu. Nhưng phần đông họ đếm từng đĩa một và còn cộng đi cộng lại. Buổi tối quét nhà, cái Nụ, cái Xoan đôi lúc lôi ra từ dưới gậm bàn một vài cái đĩa không. Nó nói với mẹ Huyền thì bà tức lắm, mặt tím lại. Cái đĩa không ấy để dưới gậm có nghĩa là người khách nào đấy đã không trả tiền cho món ăn đặt trên đĩa. Từ ngày ấy, Huyền còn thêm một nhiệm vụ là quan sát chung các dãy bàn, mẹ Huyền bảo: Khi có người luôn để mắt tới thì cái đứa gian tà nó sợ.

Thỉnh thoảng, có một vài gã đàn ông sau khi uống mấy vại bia chếnh choáng say đã buông lời nối bỡn cợt, tán tỉnh nàng. Nhưng khi bắt gặp ánh mắt lạnh lùng nghiêm nghị của Huyền, họ đâm ra lúng túng và quên những câu nói tiếp theo. Có gã tức khí chửi đồng: To ve, tỏ vẻ... Huyền không chấp họ. Nàng biết những khách vào đây đa số là những người lao động, những viên chức nghèo.

Cho đến một ngày. Tự nhiên Huyền chú ý đến một người khách. Người đàn ông ấy cao, gầy, khó đoán tuổi.

Với đôi mắt sâu, gò má cao, trông ông ta chừng ngoài bốn mươi, nhưng với dáng đi nhanh nhẹn, người mảnh dẻ, có thể nghĩ trẻ hơn. Ngày hai buổi, ông đến quán ăn, lặng lẽ như một cái bóng. Lần nào cũng có một con chó Phốc nhỏ lông vàng đuôi cụt lon ton chạy trước.

Bữa ăn của người đàn ông đạm bạc, không bao giờ quá hai món. Ông ta ăn rất nhanh. Trước khi ăn, bao giờ ông ta cũng uống một chén rượu trắng, nhâm nhi với bìa đậu sống hoặc một nhúm lạc rang. Thế thôi. Con chó Phốc nằm dưới chân nhai rau ráu những miếng xương vứt đầy gậm bàn.

Huyền chú ý đến người khách ấy một phần vì ông ta hay đến ăn muộn, thường lúc quán đã vắng khách. Và cũng vì cái tên ông ta gọi con chó. Mỗi khi nó chạy luẩn quẩn đâu đó, ông ta lại huýt sáo và khe khẽ gọi: Kim Yến, Kim Yến... Lại đây. Con Phốc lại lon ton chạy về nhảy tót lên lòng chủ.

Người đàn ông ấy có vẻ mặt trầm tĩnh và phong trần. Vì sao lúc nào ông ta cũng rầu rĩ, âm thầm thế? ...

Huyền chợt ngượng với mình. Con gái chưa chồng như nàng, thậm chí lại còn chưa có cả người yêu, vậy cớ gì lại để ý nhiều đến ông ta? Dù sao cũng chỉ là một khách hàng, có gì khác đâu? Nghĩ thế, nhưng không hiểu sao Huyền vẫn cứ chú ý đến người ấy. Buổi nào ông ta đến ăn muộn, hoặc không đến thì Huyền lại thấy như hẫng hụt, thiếu thiếu một cái gì.

Một lần lúc trả tiền, Huyền vui miệng hỏi: "Anh có con chó khôn quá. Tôi thấy anh gọi nó là Kim Yến. Cái tên lạ quá, ai đặt cho nó thế?".

Người đàn ông khẽ cười, chào cô rồi quay đi. Người đâu mà ít lời thế không biết.

Một buổi. Huyền thấy người đàn ông ấy đến ăn sớm lắm. Khách mới lác đác. Với chiếc áo phông trắng sọc đen, chiếc quần bò cũ bạc hai đầu gối, trông anh ta như trẻ hơn mọi ngày. Gọi thêm một đĩa chim sẻ rán, anh ta ngồi nhâm nhi với một vại bia. Lúc trả tiền anh ta nói:

- Cô Huyền ơi, tôi ăn quen ở quán này mấy tháng rồi, thấy cả nhà ta ai cũng vất vả, chạy ngược chạy xuôi, thế mà lắm lúc còn tính nhầm tính sót cho khách. Lệ thường, tính thừa người ta phản ứng ngay, còn tính sót thì nhà hàng chịu thiệt.

Sao anh ta biết tên mình? Mà anh ta định nói với mình chuyện gì vậy? Hay lại như mấy ông khách kia, cứ rượu vào lời ra, nói nhăng nói cuội. Huyền im lặng lắng nghe tiếp:

- Hôm qua, tôi được một ông bạn mời đi uống bia. Quán rộng, hai ba dãy bàn dài mà chỉ một người thu tiền. Cách thức họ làm khác ta ở đây. Tôi nghĩ bụng, phải nghiên cứu rồi về bảo cái cô chủ quán. Ở đây cơm ngon canh ngọt, nhưng khâu tính tiền cho khách chưa khoa học. Tôi cứ nói, có gì cô bỏ quá cho nhé?

- Các anh là khách hàng, góp ý cho mẹ con em cách phục vụ cho tốt thêm, quý giá quá chứ ạ.

Nói xong câu ấy hai tai Huyền đỏ lựng. Mình lại xã giao mất rồi. Đoảng quá. Nhưng người đàn ông hình như không để ý đến câu nói ấy, anh ta bảo:

- Họ làm thế chẳng bao giờ lầm được. Thế này nhé:

Bàn được đánh số, cứ mỗi bàn để sẵn một cái cặp nhỏ có ghim tờ giấy, bê món gì ra, họ ghi luôn, cuối cùng cứ theo tờ giấy ấy mà tính tiền. Khỏi mất công đếm đĩa đếm bát như nhà ta đây.

- Nhưng nhỡ quên ghi thì mất, chưa kể lúc nào cũng phải kè kè cái bút bên người, vướng víu lắm.

- Rồi sẽ quen. Trên đời này không có cái gì được tất cả mà lại không mất gì.

- Vâng, em sẽ cho làm thử. - Như tình cờ Huyền hỏi thêm một câu: - Anh là khách hàng quán này mấy tháng rồi, mà em thấy anh toàn đi ăn một mình.

- Cô bé hơi tò mò quá đấy. - Người đàn ông khẽ cười và chỉ con chó Phốc từ nãy cứ len lỏi vào bên trong quầy. Đây là một vị nữa, cô không thấy sao?
Rồi anh gọi
- Kim Yến, Kim Yến... Lại chào cô chủ.

Con chó nhanh nhảu chạy ra, đứng thẳng trên hai chân sau, hai chân trước chắp lại vái lia lịa, quay quay ba vòng, trông thật ngộ nghĩnh. Huyền không dám cười, sợ người khách chê con gái vô duyên.

Mẹ Huyền là người có tính bảo thủ. Ngay cả những vật dụng trong nhà bà cũng ít muốn thay đổi. Cái quạt bàn Marelli cổ lỗ cánh bằng đồng chạy chổi than, có từ ngày chưa đẻ Huyền, vẫn được dùng cho đến nay, mặc dù nó kêu như cối xay. Nghe Huyền nói cách dùng bảng kê các món ăn tại bàn cho khách, bà bảo:

- Khéo vẽ, tự dưng lại thay mới chả đổi... Khéo mất khách. - Bà nói nhỏ với con gái: - Này, mẹ thấy cái tay đến ăn ở đây cứ dắt theo con chó ấy, hôm nay trò chuyện gì với con mà lâu thế? Con gái phải ý tứ.

- Khách người ta đến ăn, nói dăm ba câu chuyện, có cái gì.

- Hì mẹ dặn phòng xa thế. Thấy người ta nói, cái thằng đấy đã một đời vợ lại mới đi cải tạo về. Ngữ ấy là phải cẩn thận con ạ.

- Mẹ nghe ai nói thế?

- Thì xung quanh đây, họ nói chứ ai. Anh ta ở ngay trong ngõ cuối phố mình chứ đâu xa. Người trông rõ cái dáng hiền lành ít nói, không ngờ lại ghê gớm thế.

- Mẹ buồn cười thật. Khách hàng người tứ xứ, mình làm sao mà biết hết được họ. Người sang kẻ hèn, ai có tiền vào hàng ta, ta bán cho họ. Mẹ ơi, chả lẽ lại phải xét lý lịch mới cho họ ăn hay sao?

Huyền hơi bực với mẹ. Nàng nghĩ, đến cái tên của anh ấy là gì mình còn chưa biết, thế mà mẹ đã cằn nhằn.

Một buổi trưa. Hôm ấy, khách đông. Hai chiếc quạt trần chạy vù vù không làm giảm được cái nóng ngột ngạt của ngày hè. Huyền đang lấy tiền trả lại khách thì bỗng nghe choang một cái. Một cái chai vỡ, ai đã đập nó xuống nền nhà. Tiếng một người đàn ông lèm bèm chửi:

- Mẹ nó chứ, ông có ăn thịt gà đâu mà con ranh bắt ông trả tiền. Ông bảo ông không ăn, nó bảo có ăn. Thế ra chúng mày khinh ông, cho là ông ăn lường uống quịt của chúng mày hay sao?

Huyền đứng vội lên, chạy ra. Con bé Soan mặt tái xanh tái xám, cố phân bua:

- Rõ ràng cháu có bê ra cho chú ấy một đĩa thịt gà, cái đĩa không còn đây, cháu vừa nhặt ở dưới gậm bàn lên, thế mà chú ấy còn mắng cháu.

Đấy là một thanh niên đầu trọc lóc, mặc một chiếc áo may ô ba lỗ sau lưng đính một chữ GAP, chả biết nghĩa lý ra sao. Cánh tay để trần, xăm trổ hình vẽ ngoằn ngoèo trông rõ ra một gã bợm, từ đâu đến ăn lần đầu tiên. Không phải khách quen ở đây. Huyền lại gần bảo gã:

- Nếu anh không ăn đĩa thịt này, thì nhà hàng chúng tôi nhầm, xin lỗi anh. Anh thông cảm, khách thì đông, làm sao em nó...

- Khách đông, khách đông thì chúng mày càng thu nhiều tiền. Quan hệ gì... - Hắn ngừng nói khi nhận ra Huyền là một cô gái trẻ. - Thế ra cô em xinh đẹp này là chủ nhân ở đây, thế mà anh không biết. Thôi dược, không ăn, có ăn, thành vấn đề gì. Anh thanh toán hết. Chỉ cần cô em ra ngồi đây, uống với anh một ngụm. Nào, xin mời...

- Anh say rồi. Hàng chúng tôi là quán bình dân, không có chuyện đó. Anh thanh toán tiền rồi về đi.

- Người đẹp đuổi anh?

Gã giơ tay lên định vuốt má Huyền. Bàn tay chưa kịp chạm vào người Huyền thì bỗng bị một cánh tay từ phía sau nắm chặt cứng. Một giọng nói trầm trầm cất lên:

- Không được hỗn...

Khách đang ăn ở bên cạnh đấy, thấy chuyện rắc rối, dạt cả ra. Gã đầu trọc định làm dữ, miệng gã lèm bèm chửi:

- Mẹ thằng nào định dính vào chuyện của ông. Ông thì...

Hắn bỏ dở câu nói khi quay lại nhìn người đàn ông, lúc này đang nắm lấy vai hắn bảo:

- Thôi, ăn xong trả tiền người ta rồi về đi.

Gã thanh niên tự nhiên không nói năng gì nữa, hắn đếm tiền rồi quăng quạch xuống bàn, lùi lũi đi ra. Người đàn ông lại ngồi xuống chỗ cũ. Lúc này Huyền mới nhận ra chính là người khách mình chú ý, người đàn ông có con chó.

Tối ấy, Huyền bảo mẹ:

- Mai con bắt đầu làm cái cặp giấy ghi các món ăn cho khách, tránh chuyện kẻ bảo không, người nói có, đôi co lôi thôi.

- Tuỳ cô, thấy cái gì hay thì làm... - Bà nghĩ ngợi rồi bảo Huyền: - Xem thế nào rồi tôi cũng kiếm cách chuyển nghề khác. Hay cho thuê béng nó cái cửa hàng đi, nhàn thân. Bây giờ không như ngày xưa cho thuê là mất nhà. - Rồi bà nói thêm - Cái anh chàng ấy thế mà gớm, mới nói một câu mà cái thằng kia nhũn như con chi chi. Tao tưởng lúc ấy chúng nó đến đánh nhau. Đã tính đi báo công an... Ơ, hay là chúng nó biết nhau hả mày, chứ làm gì mà thằng này mới nói một câu, thằng kia đã vội lùi lũi đi ra? Khéo cùng một duộc đấy con ơi...

- Mẹ ơi, làm sao thế được. Anh ấy là kỹ sư đấy mẹ ạ.

Bà mẹ Huyền không chú ý đến câu nói của con gái. Chúng có là gì cũng mặc xác. Miễn là vào ăn hàng nhà bà trả tiền sòng phẳng. Và đừng gây chuyện rắc rối lôi thôi.

Đêm ấy, Huyền trằn trọc mãi, giấc ngủ không chịu đến. Tâm trí Huyền cứ vương vấn cái hình ảnh ban sáng. Huyền đã biết tên người đàn ông ấy là Tuấn. Chắc anh ấy giỏi võ lắm. Nếu không, sao vừa cầm đến tay gã kia, nó đã phải vội vàng xuống nước ngay thế?

Hai mươi ba tuổi, Huyền vẫn chưa biết thế nào là tình yêu. Ở cái phố này, loại người như Huyền không nhiều. Xung quanh, bọn choai choai mới nứt mắt ra đã yêu đương bồ bịch lung tung cả lên. Tối tối chúng nó đưa nhau đi chơi, đôi nào đôi ấy mặt non choẹt. Chúng đến với tình yêu như đi chợ. Còn Huyền thì không hiểu sao vẫn dửng dưng trước những người con trai để ý đến nàng. Không đẹp nhưng ưa nhìn, nàng có nước da trắng mịn, khuôn mặt trái xoan và dáng người vừa phải. Chỉ có đôi mắt to, hơi ngơ ngác là có vẻ lạc lõng. Mấy hôm nay, Huyền hay cáu gắt vì những chuyện vô cớ. Chẳng thấy Tuấn đến. Không hiểu anh ta ăn uống ở đâu?

Huyền ngẩn ngơ như người phải lòng mặt. Nàng bồn chồn trong người khi thấy quán đã vắng khách, nắng chiều đã xế, mà chẳng thấy cái dáng quen thuộc ấy xuất hiện. Hay là mình đã "cảm" anh ta rồi? Một tình yêu đơn phương? Không thể thế được. Mình không hiểu gì về anh ta cả, lại còn hơn mình hàng chục tuổi? Biết thế nhưng không hiểu sao vẫn để ý đến anh ta. Để làm gì cơ chứ? tình cờ…

Huyền đang nghĩ ngợi vẩn vơ, thì con bé Soan như tình cờ, kể:

- Cô Huyền ơi, hôm nay cháu đi chợ qua cái nhà ông vẫn dắt con chó đến ăn hàng nhà ta... - Nó khoe - Nhà ngay gần chợ. Ông ta ốm hay sao mà trông gầy quá, đang ngồi ở cửa sổ nhìn ra đường. Thấy cháu đi qua, vẫy lại nhờ mua hộ mấy quả chanh.

- Thế mày đã mua chưa?

- Có chứ ạ, ông ấy hỏi thăm nhà ta có đắt hàng không, rồi ông ta lại lên cơn sốt, nằm đắp chăn rên hừ hừ. Cháu sợ quá ba chân bốn cẳng chạy về đây. Cô Huyền ơi, ông ấy bảo sốt đã mấy ngày nay rồi. Hình như nhà chỉ có một mình..

Không biết anh ấy thuốc thang gì chưa? - Huyền tự dưng nóng ruột như lửa đốt. Ngay chiều hôm ấy, Huyền rủ cái Soan đi cùng, tìm đến nhà Tuấn.

Ngõ hẹp chỉ vừa đủ để hai xe đạp tránh nhau. Hai bên nhà xây ken san sát. Thỉnh thoảng lại có một chiếc xe máy đi vù ra, tiếng động cứ dội đi dội lại. Cũng may nhà Tuấn ngay gần mặt ngõ. Trước lúc đến đây, Huyền đã tạt vào chợ, mua một ít hoa quả. Đến thăm người ốm chả lẽ đi tay không? Cũng chẳng sợ ai nói ra nói vào,

Huyền đã có cái cớ để đến thăm anh. Nào là cái ơn chặn tay thẳng lưu manh quấy rối, nào là anh đã góp ý về cách thức bán hàng cho khách. Thế là đủ quá.

Huyền rụt rè bước vào căn phòng nhỏ cửa khép hờ.

Đồ đạc giản dị đến mức hầu như không có gì. Người đàn ông đang nằm trên chiếc giường nhỏ kê một góc. Cạnh đấy là cái bàn mặt nghiêng thường dùng vẽ đồ án. Một cái giá gỗ ngổn ngang sách vở. Quần áo mắc lung tung vào những chiếc đinh đóng trên tường. Chủ nhân thứ hai của căn phòng - con chó Phốc - nhận ra người quen, cứ dụi vào chân Huyền và nhá nhá chiếc dép. Nghe tiếng động, Tuấn cũng chẳng mở mắt ra, chỉ nói:

- Cứ để ở bàn, khi nào đói tao sẽ ăn. Tiền ở trong ngăn kéo ấy.

Cái Soan cười to:

- Chú Tuấn mê rồi, cháu với cô Huyền đến thăm chú cơ mà.

Người ốm bỗng vùng dậy, bỏ chiếc khăn mặt đắp trên trán ra. Khuôn mặt anh đỏ dừ, không biết vì sốt hay vì ngượng.

- Xin lỗi... cứ tưởng thằng bé hàng xóm. Té ra là Huyền. Tôi thật đoảng quá. Rồi Tuấn định đứng lên. Huyền vội bảo:

- Nếu anh khách sáo với em thì em về đây. Sáng nay, nghe con Soan bảo anh ốm, em mới biết. Mấy hôm không thấy anh đến hàng, em chỉ nghĩ anh có công việc đột xuất. Mẹ em bảo, đến thăm anh... Huyền nói tránh ra thế, thực ra lúc đi đến đây, nàng đã giấu bà.

- Cám ơn bác, cám ơn Huyền, tôi mệt xoàng thôi, đáng gì. Chỉ phiền một nỗi là không dứt cơn sốt mấy ngày nay rồi, nên chẳng đi đâu được.

Anh kể, bác sĩ đã đến khám nhưng không tìm ra bệnh gì chỉ gọi là sốt không rõ nguyên nhân, cho uống thuốc và theo dõi hàng ngày. Thế thôi.

- Đúng là đá cũng có lúc đổ mồ hôi. Cái thân tôi bao năm nay nắng mưa có sá gì. Thế mà nay ru rú xó nhà thì lại đâm ra ốm. Vớ vẩn quá...

Huyền thấy anh mới nói mấy câu đã thở hổn hển vội bảo:

- Em đến thăm anh mà làm anh mệt thêm. Nếu anh không nằm nghỉ thì em về đây.

- Thôi được, tôi ngồi dựa vào đây vậy. Mấy hôm nay chỉ nằm là nằm, phát chán lên được. Huyền biết không, cái ngày bé, hễ ốm được ăn một bát phở là khỏi tắp lự.

Bây giờ mấy ngày hôm nay toàn ăn phở thì lại ốm thêm.

Như thói thường của người phụ nữ, Huyền không chịu được sự bừa bộn, bất kỳ ở đâu. Để mặc Tuấn ngồi tựa thành giường, nàng dọn dẹp thoăn thoắt. Con bé Soan cũng nhanh nhẩu lấy khăn ướt lau bàn ghế. Mấy cái ảnh rơi ra từ ngăn sách. Huyền nhặt lên tò mò liếc qua. Ảnh chụp Tuấn đứng cạnh những ngôi nhà đang xây dở dang, cạnh chiếc cần cẩu... Có bức ảnh chụp một người con gái. Cô ta thật đẹp. Nàng ngắm bức ảnh và thầm ghen ty với nhan sắc người trong ảnh. Đấy là một cái đẹp thái quá, bờ môi mọng quá, đôi mắt to và quyến rũ quá, khuôn mặt hoàn chỉnh quá.

Huyền chìa bức ảnh cho Tuấn:

- Chị ấy đây phải không anh? Người đâu mà đẹp thế?

Tuấn ngồi lim dim mắt như người định thần. Người con gái này xuất hiện trong phòng, đem đến cho anh một rung động mơ hồ. Từ ngày trở về đời thường, anh như một con chim một lần trúng tên, trông thấy cành cây cong cũng sợ. Anh kinh hãi đàn bà cùng với những suy nghĩ thầm kín trong đầu họ. Nhưng càng sợ hãi anh càng thấy thèm khát họ, không phải một người đàn bà cụ thể, mà là một Người Đàn Bà không có thật ở trên đời. Bi kịch thế đấy.

Tuấn cầm bức ảnh, anh cũng ngắm nghía mãi như mới nhìn thấy lần đầu. Rồi đưa lại cho Huyền, giọng thờ ơ:

- Người này đã có một thời là vợ tôi. Cô ta mới là người có cái tên Kim Yến...

- Anh tình cảm thật, lại rất tây nữa. Em nghe nói bên Âu châu, quý nhau lắm mới lấy tên nhau đặt cho con cún hay con miu của họ. Để lúc nào cũng nhớ đến người mà mình yêu quý.

- Huyền nghe ai nói thế? - Tuấn khẽ cười - Xưa ở quê tôi, có một ông hiếm hoi đẻ được đứa con trai. Giời cho của rồi còn gì. Thế mà lại mang họa. Vì vô tình thế nào tên thằng bé lại trùng với tên ông nội người hàng xóm.

Thế là nên chuyện. Lúc phát hiện ra thì sự đã rồi, tên đã vào khai sinh, hộ tịch cải làm sao. Thế là hai nhà từ chỗ hàng xóm láng giềng bỗng trở thành kẻ thù.

Chuyện bé xé ra to, choảng nhau mấy trận. Cuối cùng ông hàng xóm trước khi chết trối trăng lại cho con "khi đẻ con bất kể trai hay gái, phải đặt tên nó trùng với tên bố của tay kia". Để khi nó mắng con nó thì mày cũng réo tên bố nó lên...

Huyền không khỏi buồn cười với câu chuyện kể.

Nàng đùa Tuấn:

- Thế anh có họ hàng gì với ông nhà quê ấy không?

- Trường hợp của tôi thì khác... Nhưng lại sốt rồi đây. Bệnh của tôi cũng lạ, cứ uống thuốc hạ nhiệt thì lại cất cơn được vài tiếng. Hết thuốc, nó lại hành...

Huyền còn ngồi bên Tuấn một lát nữa, rồi vội trở về nhà, sau khi đắp lên trán anh chiếc khăn mặt ướt trong có bọc mấy cục nước đá.

Người này thật lạ lùng. Chắc anh ta phải có một nỗi hận đời ghê gớm lắm, nhất là đối với cô vợ đẹp có cái tên Kim Yến kia. Nếu không, tại sao cứ khi nhắc đến tên cô ta anh lại cười gằn một cách độc ác như thế?

Về nhà là Huyền lại chúi mũi vào công việc. Làm cái nghề này đúng là chẳng khi nào ngơi tay.

Đã mấy lần Huyền định xin đi làm ở một cơ quan nào đó, hoặc xin vào các đoàn khảo sát nơi các bạn của nàng đang sống. Nhưng rồi vì thương mẹ, Huyền lại bỏ ý định ấy. Nàng nghĩ, phận mình là gái, con gái là con người ta, một vài năm nữa đi lấy chồng, nàng sẽ không còn điều kiện đỡ đần mẹ nữa. Thuyền theo lái, gái theo chồng, có ai qua một cái lệ ấy đâu...

Mẹ Huyền hỏi:

- Cô đi đâu lúc nãy mà lâu thế, mất bao nhiêu là công việc.

- Con đi thăm người ốm. Mẹ ơi, người cứ sốt mãi thì là bệnh gì hả mẹ?

- Bây giờ có lắm bệnh chả biết bệnh gì. Ngày xưa sốt lâu thế, cứ vò lá rau má lấy nước cho uống là khỏi. Sao không bảo nó đi bệnh viện người ta khám cho?

Buổi tối, Huyền lại đảo sang nhà Tuấn lần nữa. Anh vẫn sốt nằm bẹp, hầu như chỉ uống nước. Huyền ngồi im lặng bên bàn, nhìn Tuấn nằm đấy với giấc ngủ mệt nhọc, thỉnh thoảng lại nói mê. Nàng đã hỏi bác sĩ quen, được biết: Hiện nay trong thành phố có dịch, sốt dai dẳng lâu ngày không rõ nguyên nhân, rồi tự nhiên khỏi mà chẳng để lại di chứng gì.

Không gì mủi lòng hơn khi ngồi nhìn một người đàn ông ốm bẹp nằm đấy. Thỉnh thoảng nghe anh nói khe khẽ trong giấc mơ. Lúc thì - "Nếu hạ thấp cốt san nền xuống nữa, úng ngập khu vực này ai chịu trách nhiệm?"

Lúc thì: "Đưa đây cho tôi ký, tôi ký ngay...".

Khuôn mặt anh đỏ bừng, nhăn nhó. Trán vẫn nóng lắm, chiếc khăn mặt khô cong. Huyền đem dấp nước lạnh và đặt lại. Tuấn bỗng giận dữ gạt tay Huyền ra, mở mắt ngơ ngác. Nhận ra Huyền đang đứng cạnh giường, anh vội vàng ngồi dậy:

- Tôi ngủ lâu quá, Huyền đến lúc nào không biết. Tha lỗi cho tôi nhé.

- Anh cứ nằm xuống cho đỡ mệt.

Tuấn đã tỉnh. Anh ngượng nghịu bảo Huyền:

- Vừa rồi tôi nằm mơ sợ quá. Tôi mơ thấy mình sống lại những ngày trước đây, ghê rợn quá....

Huyền nói:

- Ngay từ khi mới gặp anh, em đã nghĩ anh là người có nhiều điều khác thường. Nếu có thể san sẻ cho nhẹ bớt, em sẽ là người anh có thể tin cậy...

Tuấn đăm đăm nhìn Huyền, ánh mắt anh bỗng dịu đi:

- Mấy hôm ốm nằm đây, tôi hay mơ thấy lại cái quãng ngày qua của tôi. Ngày ấy, tôi đã yêu và bị phản bội, tôi đã có một sự nghiệp và tôi đã đánh mất nó. Nhớ về chuỗi ngày đau khổ ấy, quả thực không phải dễ dàng gì. Nhưng tôi nghĩ, kẻ quên quá khứ của mình thì sẽ có một tương lai chẳng ra sao.

Huyền chẳng biết nói gì với anh trong lúc này. Rõ ràng là trong cơn ốm đau, anh chỉ có một mình. Những điều đã trải qua trong cuộc đời con người này, chắc cũng chẳng dễ chịu gì...

- Em nghĩ là anh đang mệt như thế, hãy nghỉ ngơi cho khỏi hẳn đi đã, ngày nào em hoặc cái Soan cũng sang đây xem anh ăn uống thế nào.

Khi Huyền chào ra về, Tuấn gọi nàng lại. Nghĩ ngợi một lúc, anh đưa cho nàng một gói nhỏ bọc giấy cẩn thận và bảo:

- Nếu Huyền có thời gian rảnh, cầm quyển này về đọc, Huyền sẽ hiểu phần nào về tôi.

Đấy là một quyển sổ dày viết bằng nhiều loại mực, chỗ đẫm, chỗ nhạt. Nét chữ đều đặn, dễ đọc, thường gặp ở người quen vẽ đồ án.

Ngày...

... Mình bị đưa thẳng từ cơ quan đến đây. Mấy vị cùng bị với mình chẳng biết họ đưa đi đâu. Nguyên tắc là những người cùng trong một vụ, người ta không cho ở cùng một chỗ. Sợ họ trao đổi với nhau, khó khăn cho công tác điều tra. Sau này mình mới biết thế, chứ lúc ấy chỉ thấy ngơ ngác và sợ hãi lắm. Trời về cuối mùa hè, thời tiết không nóng lắm mà mồ hôi ướt đẫm lưng áo, chảy cả xuống mắt cay như xát muối. Thế là không gặp được Yến, lúc này em đang ở đâu, chắc là chưa biết gì về cái cảnh ngộ hiện nay của mình.

Sau khi bị khám người từ chân đến đầu, thắt lưng, đồng hồ, ví tiền giấy tờ bỏ lại, mình ký vào một cái biên bản gì đấy... Được phát một cái chiếu, một cái chăn chiên Nam Định. Mình vào một cái sân rộng. Trên sân đến hàng mấy trăm người, hàng ngang hàng dọc chỉnh tề. Trông như là một đoàn quân, chỉ khác ở đây mọi người đều ngồi. Người nào cũng có khuôn mặt trắng bủng. Mấy anh công an sắc phục chỉnh tề đi đi lại lại xung quanh. A, kia là những con người mất tự do, lần đầu tiên trong đời mình trông thấy họ... Một ý nghĩ chua chát tự nhiên hiện ra trong đầu: Giờ đây mình cũng thế rồi. Chẳng còn quá khứ, không có tương lai chỉ có hiện tại mình là con số 736, không còn tên tuổi nữa.

Tự nhiên sợ vu vơ: Nếu như họ lầm mình với một con số khác. Sự việc sẽ ra sao nhỉ?

Người công an dẫn mình qua sân, qua những hàng người ngồi bó gối, họ ngồi làm gì thế không biết. Một vài bàn tay chìa ra: Ông anh cho xin điếu thuốc... Mình không hút thuốc lá, cũng là một điều thiệt thòi ở trong này, sau mới hiểu.

Anh công an bàn giao mình cho một người đàn ông đứng tuổi, dáng hiền lành có vẻ mặt hơi rầu rĩ. Được nghe giới thiệu ông này là buồng trưởng. Buồng rất rộng, tường quét vôi trắng chỉ độc một cái cửa sắt to sơn đen và những hàng cửa sổ chấn song sắt sát trần.

Không có giường phản bàn ghế gì trong phòng ngoài hai dãy bục xi măng chạy từ đầu nọ đến đầu kia.

Khi anh công an quay đi, người đàn ông hỏi: Cán bộ phải không? Ở ngoài làm gì. Sao phải vào đây? Cung lần nào chưa?

Rồi không chờ mình trả lời ông ta bảo: Tướng cậu hiền lành, về buồng này là phúc, đa số là phạm kinh tế. Lưu manh có nhưng ít, thành ra chúng không dám ho he.

Rồi ông ta tự giới thiệu: Tên ông là Toản, ở ngoài là giám đốc một công ty vật tư, vì làm thất thoát tài sản, phải vào đây, xong cung rồi, chờ xử.

Ông xếp cho mình một chỗ nằm sát nhà vệ sinh và bảo: "Ở đây luật lệ nghiêm, người mới vào phải nằm chỗ xa nhất, bẩn nhất, tối thiểu một vài đêm đầu. Sau dần dần, có người ra, người vào thì cứ thế mà chuyển lên trên. Có anh chưa chuyển hết vòng thì đã đi nơi khác.

thoáng nhất.

Nhóm, buồng trưởng, trật tự, được ở sát cửa, chỗ đấy

- Anh em trong phòng, chắc là đang ngồi cả ở ngoài sân kia?

- Những ngày không có mưa, xếp hàng ăn cơm ngoài sân.

- Thôi chết, tôi không có tem gạo, ăn bằng gì - Tuấn sực nhớ.

- Khỏi lo... Người đàn ông khẽ cười - Tem gạo là của người ngoài xã hội. Đã qua cánh cửa sắt ngoài kia, chỉ còn lo cung cho tốt. Không gia đình, không bạn bè, không cha mẹ, vợ con... Ta là những người hoàn toàn khác. Không còn tự do, mặc dù tự do ở ngay ngoài kia, cách có một bức tường đá cao. Ngoài ấy, người ta vẫn yêu đương, đi lại, với những nỗi lo âu, hạnh phúc của đời thường. Còn đây, là một chuỗi ngày thật dài, mình tự dằn vặt với những tội lỗi đã phạm phải. Cũng là phải thôi, vì cánh cửa tự do đã khép lại, cuộc đời đã bỏ lại ở bên ngoài. Ở đây, chỉ có một điều mong. Mong ngày chóng tối và đêm chóng sáng. Mong cho đến ngày được ăn thịt. Miếng thịt mỡ, nuốt vào đến đâu biết đến đấy.

Cái mong xa hơn nữa là được xong cung, khỏi phải vặn vẹo, đối chất, biện bạch lý giải. Xong cung có nghĩa là chỉ còn chờ được tạm tha, hoặc chờ xử. Xử rồi có nghĩa là đen trắng rõ ràng, được về với xã hội hoặc sẽ đi một trại nào đó.

Trò chuyện với tay buồng trưởng đến đấy, vừa lúc anh em phạm đi vào buồng, theo hàng một. Trật tự lắm. Gian phòng rộng thênh thang bỗng chật ních.

Tiếng nói chuyện rào rào như trong một cái chợ thật đông. Bụi và hơi người bắt đầu bốc lên quầng quầng như sương như khói. Ngọn điện treo giữa phòng đỏ lừ, soi mờ ảo những thân hình người đi lại nghều nghện.

Họ túm tụm thành từng nhóm. Chỗ của mình là gần nhà vệ sinh, chốc chốc lại phải né cho người đi vào trong. Có tiếng gọi to: Phạm mới đâu ra trình diện. Tay ngồi bên cạnh huých mình: "Chúng nó gọi cậu, lên đi. Chiếu trên gần chỗ cửa ấy".

Thoáng cái, tự nhiên mình tưởng tượng cái cảnh bọn đầu gấu trong tù hành hạ những người mới vào. Hai chân mình run rẩy. Một sự khốn nạn lắm có thể đang chờ đợi mình ở chỗ kia. Mình đận đà đi lên, hai đầu gối va vào nhau suýt ngã mấy lần. Bụng nghĩ, nếu chúng mày quá đáng, ông sẽ liều với chúng mày.

Một khoảng rộng bằng cái chiếu có bốn, năm người ngồi vây quanh. Ông buồng trưởng lúc này kéo mình ngồi xuống: "Nhập gia tùy tục, ở đây đã thành cái lệ. Cậu kiếm bao thuốc, ấm chè ra mắt anh em".

- Cửa đóng mất rồi, bây giờ còn ai bán. Vả lại tiền còn một ít tôi gửi ngoài kia rồi.

- Mình ngây ngô nói thế.

Những tiếng cười phá lên:

- Giống nhau thật, anh nào vào đây hôm đầu cũng thế... Thôi, cậu chưa có, bọn tớ cho vay, hôm nào có "quả tắc", trừ sau. Lúc ấy mình chưa biết "quả tắc" là cái gì, cứ gật đại. Sau mới hiểu là gói tiếp tế quà bánh, mỗi tháng một lần của gia đình gửi vào.

Một ấm chè đặc và bao thuốc lá được bầy ra trên chiếc chiếu, nhóm tự giác cùng với mình uống nước, hút thuốc và tất nhiên, lính mới phải tự kể về mình, hoàn cảnh gia đình vợ con, chỗ ở, làm gì mà phải vào đây... Ở trong này sự phân chia đẳng cấp thật rõ ràng. Trong lúc bọn này ngồi ở đây, thì ngay bên cạnh những người khác đang nằm tán gẫu hoặc uống nước lấy trong một cái thùng rất to có cái ca nhựa treo ở bên cạnh, và chỉ là nước lã đun sôi...

Nước mắt Huyền nhòa đi, ướt đẫm gối. Nàng không thể đọc tiếp được nữa. Vì sao mà anh lại rơi vào hoàn cảnh bi thảm này? Em chỉ là một người con gái bình thường, sống quanh quẩn bao năm trong cái nhà này, dưới bóng che chở của bố mẹ, em làm sao có thể hình dung ra được nỗi khổ đau mà anh đã từng chịu đựng?

Huyền nhớ lại ngày bé, một hôm cha mẹ cho nàng về quê chơi. Gần về làng phải qua một cánh đồng rộng, có hàng rào dây thép gai. Phía sau hàng rào vẫn là những chân ruộng màu, nơi trồng khoai, nơi cấy lúa. Có những người đang hí húi làm việc, người nào cũng ăn mặc giống nhau, áo quần màu xanh, sọc vàng. Đàn ông đàn bà đầu đội nón, những chiếc nón lá cũng sơn như quần áo. Sao họ lại ăn mặc như thế? Mẹ giục Huyền:

- Đi mau qua đây, còn một tị nữa về đến làng tha hồ mà nghiêng ngó.

Huyền hỏi mẹ: Những người đấy là ai, và mẹ nói khẽ cho Huyền đủ nghe: 

- Họ là những người tù, con ạ. Họ đang lao động cải tạo.

Bố Huyền thì im lặng thở dài. Ngày ấy hai chữ người tù đã gieo vào trong tâm trí nàng một nỗi sợ hãi. Đêm ấy, nằm trên ổ rơm ấm, Huyền thức giấc mấy lần, với một nỗi sợ hãi mơ hồ. Nàng hình dung đến những khuôn mặt người mặc bộ quần áo sọc dưa ấy. Chắc họ phải dữ tợn lắm, như ông ba bị trong câu hát: Ba bị chín quai, mười hai con mắt, đi bắt trẻ con. Huyền nhớ mãi cái chuyến đi về quê đầy kỷ niệm ấy. Sáng hôm sau thì nàng bị sốt. Bố mẹ Huyền phải bỏ dở công việc ở trong quê. Chiều hôm ấy đưa Huyền về thành phố và đi vòng theo con đường khác...

Bây giờ nàng tưởng tượng ra cái cảnh Tuấn cũng mặc bộ quần áo sọc như thế, vai vác cái cuốc đi lang thang trên cánh đồng, đằng sau có con chó lông vàng, đuôi cụt lẽo đẽo theo sau.

Ngày hôm sau, Huyền đến thăm Tuấn từ sớm. Anh đang nằm thiêm thiếp với khuôn mặt đỏ bừng của một người sốt. Khi Huyền vào, Tuấn tỉnh ngay, ngồi lên.

Anh bảo:

- Tôi vốn ưa hoạt động, ốm thế này biết đâu chẳng do mấy tháng nay phải ăn không ngồi rồi. Con người ta như một dòng nước khi chẩy, nó là suối là sông, nhưng ngừng thì chỉ còn là một cái ao tù.

Huyền dọn dẹp nhà cửa, lúc anh ngồi ăn sáng. Đúng là người ốm, anh ăn một cách khó khăn, khác hẳn những ngày ở cửa hàng, loáng một cái đã hết suất cơm.

Con chó Phốc đi theo Huyền từng bước, nó cũng trở nên thân thiện với nàng. Đôi mắt nó nghiêng ngó vào các hốc sâu trong gậm và lôi ra lần thì một chiếc giầy cũ, lần thì quyển sách, không biết chủ nhân của nó đánh rơi vào đây từ bao giờ. Huyền bảo:

- Thấy em dọn dẹp nhà cửa cho anh, nó bắt chước.

- Đến thăm nom tôi thế này, có gì phiền hà cho Huyền không?

Tuấn ái ngại khi thấy người con gái này mấy hôm nay vất vả vì mình. Anh chợt ngừng nói khi thấy con Phốc ngoạm một cái gì như một cái bì thư từ trong gậm ra.

- Kim Yến, Kim Yến, lại đây... Lại tao bảo...

Con Phốc lon ton chạy lại, miệng ngậm cái phong bì.

Tuấn run run xé ra, bên trong chỉ có một tờ giấy mỏng.

Anh đọc rồi ấp tờ giấy vào ngực. Mặt anh tái đi.

Có cái gì làm anh xúc động đến thế? Không hiểu sao

Huyền cảm thấy giữa nàng và Tuấn đã có một sợi dây nào đó thiêng liêng, vô hình ràng buộc hai người vào với nhau, tự bao giờ. Mỗi cái gì xảy đến với Tuấn, nàng cũng cảm thấy như xảy ra đối với bản thân mình. 

- Huyền biết con Phốc vừa mới mang cho tôi cái gì không? Có lẽ người đưa thư đã liệng vào qua khe cửa sổ mấy ngày nay rồi mà mình không biết? Huyền mừng cho tôi đi. Đấy là quyết định tiếp nhận trở lại làm việc - Mắt Tuấn sáng long lanh, anh nói tiếp - Thế là tôi được trở lại với đời. Huyền biết không, người đàn ông chỉ thực sự tồn tại khi anh ta thấy mình có ích cho xã hội. Chao ôi, thế là tôi lại được hòa nhập với đời... Cảm ơn Kim Yến, mày đã làm cho tao khỏi ốm...

Con chó nghe chủ gọi tên, nhẩy lên ngồi gọn lỏn trong lòng chủ, thích chí rên khe khẽ.

Giọng Tuấn trở nên mơ màng:

- Huyền ngồi xuống đây. Thế là tôi lại sắp phải đi xa, có khi một hai năm, công trình hoàn thành mới trở về được. Tôi hiểu tình cảm Huyền dành cho tôi. Nhưng để giữa tôi và Huyền không còn điều gì hiểu lầm về nhau, tôi muốn kể cho Huyền nghe về cuộc đời tôi. Vì dù sao đi nữa, tôi cũng đã một lần có gia đình... Tôi gặp Kim Yến vào thời gian đang phụ trách thi công một công trình trong thành phố. Ngoài các đội chuyên môn ra, công trường còn tuyển thêm nhiều phụ động là người địa phương. Trong số họ tôi chú ý đến một người con gái. Hàng ngày đi qua khu lán, tôi thường thấy cô ta ngồi đấy. Dáng người mảnh mai, khăn vuông đen trùm kín mặt, chỉ để hở hai con mắt to và âu sầu. Cô ta ngồi một góc lán, cặm cụi tháo những sợi chỉ khâu bao xi măng ra, cuộn thành cuộn, còn vỏ bao, cô rải ra vuốt thẳng xếp thành từng chồng. Chẳng thấy cô ta cười nói gì, cứ lặng lẽ làm... Hàng ngày, cô ta làm đủ mọi việc, từ xếp gạch trên ô tô xuống thành kiêu, rồi xuống đá, xuống cát từ những chiếc xe tải không có ben tự đổ. Cô trèo lên thùng xe, cắm cái xẻng ngập vào đống cát, cho người ở dưới đất kéo sợi thừng, hất cát xuống. Suốt ngày cô ta cùng mọi người lao động như thế. Buổi trưa, khi mọi người nghỉ tay, cô ta ngồi lặng lẽ một góc, hầu như không ăn gì cả, chỉ chăm chăm nhặt vỏ bao xi măng. Cánh công nhân thương tình, họ lấy xi măng từ trong bao ra bằng cách kéo sợi chỉ khâu đầu bao, không dùng xẻng chọc thủng vỏ. Làm như thế cái vỏ bao sẽ còn nguyên vẹn, người đi thu mua họ không trả rẻ.

Một hôm tôi hỏi cậu tổ trưởng tổ phụ động, nơi cô ta làm việc. Cậu ta kể: "Cô ta tên là Én, là cái Én. Con bé tội nghiệp lắm, rất chịu khó. Có họ với đằng nhà mẹ tôi.

Quê tận mãi vùng biển. Gia đình gặp nạn. Ông bố và người anh trai đi biển, gặp bão không trở về. Hai mẹ con dắt díu nhau lên đây kiếm ăn. Bà mẹ mở quán bán nước chè ở gần ga, còn Én, tôi xin cho đi làm công trường này. Bây giờ tạm ổn, nhưng con bé lúc nào cũng rầu rầu, cái tướng nó sau này khổ...

Như là một tiền định, không hiểu sao tôi cứ hay để ý đến cô ta, và Én cũng gật đầu chào mỗi khi tôi đi qua. Tôi đọc hồ sơ lý lịch của Én trên ban chỉ huy công trường. Được biết cô ta đã học hết cấp ba, mười tám tuổi. Nhân lúc văn phòng công trường khuyết một văn thư, tôi xin cho cô ta làm công việc ấy. Cô ta làm việc chăm chỉ đến mức không thể chê trách vào đâu được.

Việc gì phải đến, sẽ đến. Chúng tôi yêu nhau, và lấy nhau sau mấy tháng tìm hiểu. Đám cưới được tổ chức lúc công trường hoàn thành bàn giao. Hai vợ chồng được điều về công ty làm việc.

Nghe Tuấn kể, Huyền biết rằng đây là thời kỳ anh sống hạnh phúc nhất. Ai mà chẳng mơ tới một cuộc sống ổn định, có tình yêu và một tổ ấm?

Cái Soan đã thập thò ngoài cửa sổ. Nó thì thầm với Huyền:

- Cô về ngay, bà đang gắt um nhà lên kìa. Bà bảo ngày nào cô cũng đi đâu...

Huyền vội vàng xin phép Tuấn, đạp xe về nhà. Vừa đến cửa, Huyền đã bị mẹ mắng té tát. Huyền im lặng vào nhà. Nàng biết tính mẹ. Bà giận ai không để bụng bao giờ, nhất là đối với con cái.

Đêm ấy, Huyền lại tiếp tục sống với những trang nhật ký của Tuấn...

Ngày...

Thế là mình được nhập nhóm cũ nhanh hơn cái thông lệ ở đây. Anh em đùa bảo mình thăng quan tiến chức. Có nghĩa là được ngủ ở một ô sát cửa ra vào, ở đây có gió mát và trong lúc anh em mới phải ngồi bó gối học nội quy, mình có thể đi lại loanh quanh, dẫn mấy cậu ốm ra trạm xá khám bệnh.

Ông Toản sắp đi trại. Tuần trước đi xử về vứt cho mình gói kẹo. Anh em xúm vào hỏi, ông ta giơ ra ba ngón tay có nghĩa là ba năm. Ở trong này hôm có người đi xử hoặc được nhận "quả tắc" lại có những cuộc liên hoan nho nhỏ. Được đi xử cũng có nghĩa là được gặp người thân, bố mẹ vợ con. Có những người ngày này qua ngày khác chỉ có một ước vọng là được đi xử, được ra tòa để cho xong cái nợ với đời, với người. Và để từ đó hàng tháng được gặp gia đình, không phải mịt mù tăm cá như cái anh tạm giam. Để được lao động, dù phải làm bất kỳ công việc gì. Ở đây, cái khát khao lao động thôi thúc con người.

Nỗi nhớ Kim Yến hành hạ tôi, ôi con chim én bé nhỏ.

Ở trong này, thực đơn na ná như nhau, hai bát sắt, một đựng cơm, một đựng thức ăn, một cái thìa. Thức ăn bao giờ cũng chỉ nấu với muối. Canh đậu trắng là phổ biến... Không biết những hạt đậu đã lưu kho từ bao giờ mà cứ mỗi hạt có một con mọt bé tí nằm trong. Lúc đầu còn tẽ ra vứt đi, nhưng rồi sau ăn tất. Cũng là chất đạm cả. Dần thành quen, lại thấy ngon. Ít lâu sau, đậu trắng không còn con mọt nằm trong nữa thì lại thấy nhạt. Ban đêm, chẳng đêm nào không nằm mơ, những giấc mơ giống nhau. Mơ thấy những bữa ăn ngon xen kẽ với những cuộc dạo chơi, những ngày chung sống với con chim én bé nhỏ. Hầu như là có hai cuộc sống khác nhau. Ngày: ăn, ngồi bó gối, học nội quy, chờ đi cung, chờ tiếp tế. Đêm: mơ thấy ăn no, phè phỡn, uống say bí tỉ, được gặp người thân. Chẳng biết cuộc sống nào là thực. Chợt thức giấc, ngồi lên, xung quanh người ta nằm la liệt, những tiếng nhai, tiếng nghiến răng, tiếng cười ha hả, tiếng nói mơ... tạo cho mình một ấn tượng, một cảm giác không thể nào quên.

Có lúc nghĩ quẩn, mình không muốn sống nữa. Chết tức là hết. Nhưng nghĩ thương Kim Yến, thương cả bản thân mình, việc trắng đen chưa rõ thế nào.

Lại nghĩ trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được có ý nghĩ yếu đuối. Như thế là hèn nhát... Con người luôn luôn phải tin tưởng ở bản thân mình có thể vượt qua được những trở ngại lớn nhất.

Sắp đến Tết nguyên đán. Nghe mọi người kháo nhau, Tết mỗi người được một lạng "mầu" và được một cái bánh chưng. Khối anh mong Tết để được ăn cái bánh chưng ấy. Và để được nhận "quả tắc" của gia đình nhiều hơn lệ thường...

Huyền ngừng đọc. Mắt nàng nhòà đi trước những trang giấy.

Mình đã yêu anh ấy rồi, yêu cái cuộc đời đầy gian truân vất vả, cùng những nỗi buồn của anh. Cái cô Kim Yến ấy. Bây giờ ở đâu? Cô ta có khuôn mặt đẹp, đôi mắt thông minh, nhưng không có một tình yêu thực. Đặt cuộc đời vào một con người như thế quả là nguy hiểm.

Nhưng biết làm sao được. Con tim không có mắt.

Anh đã đem tình yêu của mình đổi lấy những ngày khổ ải. Cái gì đã bù đắp lại những ngày tháng mất tự do đằng đẫng ấy?

Người mẹ nào cũng rất tinh tường. Mẹ Huyền lo lắng khi thấy cô con gái út dạo này hay đi ra khỏi nhà, mặt mũi lúc nào cũng bần thần. Bà lo lắng nghĩ: Người ta bằng tuổi ấy đã con bồng con bế, mà nó vẫn nhơn nhơn như không. Chẳng hiểu ra sao nữa. Bà bảo Huyền.

- Dạo này mẹ thấy con cứ ngơ ngác thế nào? Hay là mày ốm? Mai mẹ đưa lên ông lang Sinh cắt cho mấy thang thuốc bổ về mẹ sắc mà uống.

- Con ốm đau gì đâu mà uống thuốc? Con chúa là ghét thuốc bắc. Mẹ đừng lo cho con.

- Đêm nào tao cũng thấy mày hì hục đọc cái gì khuya thế? Con gái phải ngủ đẫy giấc, không có hai con mắt trũng xuống xấu lắm. Đừng bắt chước bố mày, ngày đêm chúi mũi vào quyển sách, chả hay ho gì đâu, có mài chữ ra ăn được không?

Tuấn đã đỡ sốt, anh chỉ còn hơi váng vất vào những buổi chiều. Anh gầy đi nhiều, đi liêu xiêu như một ông già. Thấy Huyền ngày nào cũng đem thức ăn đến, Tuấn khó xử ra mặt. Thời gian hai người gần nhau không nhiều. Để đến với anh, Huyền phải bịa ra bao nhiêu lý do. Cô xin mẹ tiền đi học tiếng Anh, lấy cớ ai bây giờ cũng phải biết ngoại ngữ. Nhờ thế hai người có điều kiện gặp nhau lâu hơn. Chuyện gia đình Tuấn, Huyền được nghe anh kể tiếp. Giọng anh đã bình thản trở lại, cứ như anh đang kể chuyện của người khác.

... Về thành phố, công tác tĩnh tại, Én bắt đầu thay đổi. Đầu tiên là những bộ quần áo. Tháng nào cô ta cũng may vài bộ, toàn các kiểu mới nhất. Và bắt đầu son phấn. Mình nói: "Em hãy giản dị một chút được không". Cô ta bảo: "Em muốn làm đẹp mặt anh. Vợ một ông kỹ sư mà "bô cu nhếch" quá, không được". Cô ta ngăm ngăm đen trông rất có duyên nhưng lại đánh phấn trắng quá, trông như mặt nạ. Vì mặt thì trắng, nhưng cái cổ lại đen mới nên nỗi. Biết tôi không thích những người đàn bà son phấn, nàng để hộp phấn và hỏi son trong ví, đến chỗ làm ngồi tỉa tót, sắp về nhà lại lau đi. Hai vợ chồng cùng đi làm nhà nước, lương bổng có được bao nhiêu, phải tần tiện lắm mới đủ. Ấy là chúng tôi chưa có con. Có con còn khó khăn đến đâu. Hai vợ chồng son, đẻ đứa con hóa bốn. Các cụ dậy thế. Mà chả lẽ vợ chồng sống với nhau lại không có con?

Từ tên là Én, cô ta cải thành Yến, lại đem thêm chữ Kim vào.

Thôi được, tên gọi thì thế nào cũng được, vẫn là mình mà thôi... Hai vợ chồng được phân một căn hộ tập thể ở tận tầng tư thế cũng là tốt lắm. Nhưng còn bao nhiêu đồ đạc tiện nghi phải mua sắm. Thời trước, người ta sống đơn giản, cưới nhau được mua cái giường rẻ quạt đã sang. Nếu thêm được cái tủ gỗ dán, cái bàn vừa làm việc, vừa tiếp khách là nhất rồi. Muốn có thêm các thứ khác cũng chẳng biết mua ở đâu. Nhưng đến thời chúng tôi thì ôi thôi, không biết vỡ tổ ở đâu ra mà lắm thế. Ti vi, tủ lạnh rồi quạt cây, quạt bàn hẹn giờ, điều khiển từ xa, đủ kiểu, đủ loại... Rồi hàng trăm thứ vật dụng cho tiện nghi gia đình khác nữa, ngày càng nhiều.

Yến không đòi mua, nhưng cô ta thường kể: Nhà này mới mua tủ lạnh, nhà kia mới sắm ti vi màu.... Tự nhiên thấy sốt ruột, dần dần đâm ngượng. Cũng là người, sao họ lo được thứ này thứ kia cho vợ con, còn bản thân tôi, tôi đã làm gì để vun đắp cho tổ ấm của mình? Chẳng có gì cả. Quần áo vẫn phải để trong hòm gỗ, bát đũa vẫn phải để trong rổ, ti vi đi xem nhờ hàng xóm. Chiều thứ bẩy hai vợ chồng đèo nhau đi chơi bằng cái xe đạp Thống nhất đã tróc sơn. Trong khi đó xung quanh người ta đưa nhau đi chơi bằng xe máy chí ít cũng là cái xe máy Tiệp mà chúng tôi gọi là cái "ba bét nhè". Thế mà cũng chẳng có.

Tôi dịch thêm sách, viết các bài báo kỹ thuật, đi dậy lớp bổ túc buổi tối. Để kiếm thêm. Sau mấy tháng, tôi bắt đầu ho, người rộc đi. Công sức bỏ ra lớn quá, mà số tiền thu về chẳng được bao nhiêu, đôi khi chỉ đủ cho một bữa ăn hiệu loàng xoàng của hai vợ chồng. Rách vẫn hoàn rách. Bế tắc quá. Trong khi đó xung quanh tôi, cuộc sống thay đổi từng ngày. Một lần tôi được xét đi nước ngoài, làm cái anh nghiên cứu sinh cấp 1, vừa có thêm học vị, vừa để cứu nhà. Nhưng suy đi tính lại, tôi thoái thác, nhường cho người khác. Tôi không thể xa được Én đằng đẳng mấy năm như thế. Giá như chúng tôi có một đứa con còn đi một nhẽ.

Trong công ty, tôi phụ trách khâu kiểm tra dự án, và các quyết toán khối lượng công trình. Tai họa đến với tôi bắt đầu từ hôm tôi phải kiểm tra một công trình đào đắp, tạo mặt bằng để xây dựng một trạm cơ khí. Tôi phát hiện ra một sự nhầm lẫn làm tăng khối lượng lên một con số đáng kể. Tất cả đều hợp lý. Các khối lượng phát sinh đều có đủ chữ kí xác nhận của ba tên A, B và TK. Tức là chủ đầu tư, bên thi công và bên thiết kế. Tôi chỉ là một khâu kiểm tra của bên công ty, tức là bên B.

Khi tôi thắc mắc cái khối lượng phát sinh vô lý này, người ta bảo "Cậu buồn cười quá, ta là bên B, càng được mang nhiều tiền về cho công ty càng có thành tích. Cậu định vạch áo cho người xem lưng hay sao?". Ông đội trưởng thi công công trình này bảo tôi: "Anh cứ thông qua cho tôi, không để anh thiệt đâu". Ông trưởng phòng bảo: "Thằng A là thằng chi tiền, nó không có ý kiến gì, mình bới ra, làm thất thu cho công ty có khi lại là khuyết điểm. Cậu chuyên môn thuần túy quá.

Tối hôm ấy, về nhà tôi ngạc nhiên thấy Yến đang ngồi xem một cái ti vi 14 inh vỏ đỏ mới coong. "Ghê quá, em kiếm cái của quý này ở đâu vậy? Vợ tôi giỏi quá". Vợ tôi lúc ấy cũng ngạc nhiên không kém tôi. Cô tròn xoe mắt: "'Chính anh cho người mang về lại còn hỏi?".

'. Và cô ta đưa cho tôi một tờ giấy, của cái tay đội trưởng thi công cái trạm cơ khí ấy. Thế là tôi hiểu.

Mấy năm sau, cái gia đình nhỏ bé của tôi đã đủ cả các tiện nghi. Vợ tôi có xe máy đi làm. Chúng tôi đã chuyển đến một chỗ ở khác, nhà riêng biệt hẳn hoi. Chủ nhật, ngày lễ, trong nhà đầy ắp tiếng cười của nàng và các bạn bè. Chúng tôi giao ước với nhau vài ba năm nữa mới có con, và cũng chỉ một đứa. Yến đẹp thêm ra, nhờ biết cách trang điểm. Nàng đi tập thể dục thẩm mỹ mỗi ngày. Còn tôi thì cũng béo ra, mặt bắt đầu sì sị vì bia rượu. Chả biết rồi cuộc sống của hai chúng tôi sẽ đi đến đâu. Nếu như không đến một ngày...

Đôi mắt Tuấn trở nên xa vắng. Huyền thấy thương anh biết bao. Bố nàng đã từng bảo cái phúc và cái họa bao giờ cũng đan xen nhau. Trong cái may có cái rủi, trong cái rủi có cái may. Sự đời bí ẩn không thể lường hết. Nàng thấy bố nói đúng quá. Rót một cốc nước lạnh, Huyền đưa Tuấn. Tuấn lặng im một lúc rồi tiếp:

- Một hôm đoàn thanh tra về khui ra mọi chuyện.

Đến cái lúc đó mới biết cái tình người thế nào. Lúc thuận buồm xuôi gió thì chén chú chén anh hỉ hả lắm. Nhưng đến khi công việc đổ bể tùm lum, thì người nọ đổ vấy cho người kia, chẳng còn tí nhân cách nào. Nghĩ mà buồn cho nhân tình thế thái.

- Khi vui thì vỗ tay vào, đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai. Đời là thế anh ạ. Khi đã hiểu đấy là lẽ đời thì ta bớt đi được cái sự thù hận, lòng sẽ thanh thản.

Huyền nói như một nhà hiền triết. Nhưng nếu khi mà một tuần lễ liền em phải ăn cơm với canh đậu hột có nhân là con sâu, thì em sẽ không nói như thế.

- Em sẽ vui vẻ ăn cơm nhạt. - Huyền nói trêu để Tuấn vui lên.

Tuấn nhìn quanh căn buồng nhỏ. Chỗ ở này là của bà chị ruột anh mua từ lâu. Khi anh chị ấy chuyển đi công tác ở nước ngoài, bảo anh về ở. Anh nhìn Huyền.

Cô gái không có cái vẻ đẹp lộng lẫy như Yến, nhưng ưa nhìn. Các đường nét trên khuôn mặt cô đều dịu dàng vừa phải, gây cho ta một cảm giác bình yên, tin cậy.

Người con gái có khuôn mặt thánh thiện như thế này sẽ không bao giờ gây đau khổ cho ai. Cô ta đã dành cho anh sự chăm sóc chân tình. Nhưng anh sợ phải nhìn vào sự thật, khi chưa biết rõ cái sự thật ấy. Cái gì phải đến, nó sẽ đến. Tuấn tự nhủ với mình như thế. Anh muốn nói một lời âu yếm gì đó với Huyền, nhưng lại không dám. Biết đâu những chăm sóc mấy ngày hôm nay, chỉ biểu hiện của lòng trắc ẩn? Anh chờ, chờ một sự huyền diệu nào đấy sẽ xảy ra, nó gắn bó hai cuộc đời này lại. Anh không còn trẻ nữa, bao nhiêu mùa xuân đã trôi đi qua cuộc đời? Có lúc tưởng như đã tìm thấy hạnh phúc, hóa ra lại chỉ là một cái bóng.

Mấy ngày hôm nay, Huyền như có hai cuộc sống khác nhau. Ban ngày, ngoài thời gian bận rộn cho quán hàng, nàng tranh thủ thời gian đến với Tuấn. Nàng biết anh sắp đi xa, có khi còn lâu mới quay trở lại. Bởi vậy nàng muốn dành cho anh sự chăm sóc dịu dàng, nàng muốn được anh coi nàng như một người em gái.

Có thể chỉ là như thế. Ban đêm, nàng lại sống một cuộc đời khác cùng với những trang nhật ký của Tuấn...

Ngày...

Thế là đã qua, những ngày khổ ải, mình được tự do rồi! Buổi sáng hôm ấy là một buổi sáng không bao giờ quên được. Sau khi cánh cổng sắt nặng nề khép lại ở sau lưng, mình đứng trơ ra trên hè phố. Mấy người cùng được về hôm nay đã tíu tít với những người thân đến đón. Mình nhìn ngược nhìn xuôi, chẳng ai quen cả.

Nắng rực vàng trên đường phố. Cái bọc quần áo nhẹ tênh trong tay có một ít tiền ngày xưa ký gửi và một số tiền được lĩnh sau những ngày lao động trong trại. Yến đâu nhỉ, hay là nàng không biết hôm nay mình trở về?

Có thể nàng không nhận được giấy báo, có thể nàng ốm? Và cũng có thể hàng trăm nguyên nhân khác, để Yến không có mặt ở đây buổi sáng nay. Phố xá sao đẹp và sạch sẽ. Thậm chí bầu không khí đang hít thở ở đây cũng ngọt ngào. Bao nhiêu mùi vị của cái xã hội đời thường xộc đến làm mình choáng váng. Và cả những tiếng động nữa. Nó cứ òa ra vỡ ra khắp xung quanh.

Người đi lại tấp nập nói cười xoe xóe. Đời vui quá.

Mình đeo lại chiếc đồng hồ ngày trước, cổ tay lỏng lẻo. Nó lại chạy sau bao ngày tháng đứng im. Nhìn lại lần cuối cánh cổng sắt đen xì, mình đi bộ ra đầu phố. Gì thì gì, việc đầu tiên là phải ăn một bát phở thật nóng, vắt nhiều chanh và cho nhiều ớt. Đã bao nhiêu tháng rồi mình không được ăn một bát phở? Sau đó đi tắm một cái ở cái nhà tắm công cộng nào đấy gặp trên đường. Mình muốn trở về nhà sạch sẽ tinh tươm. Đầu tóc thì hôm qua ở trong trại anh em đã cắt kỷ niệm cho mình một lần cuối cùng. Phố phường nhiều ô tô, nhiều xe máy, nhiều hàng ăn, hàng quần áo giầy dép. Nhà cửa đẹp thêm bao nhiêu so với ngày mình phải cách ly khỏi xã hội. Người đi lại trên đường ai cũng hồng hào trẻ trung và đẹp đẽ.

Gần trưa, mình về đến đầu phố. Từ xa, đã trông thấy cánh cửa sắt sơn xanh của ngôi nhà mình và Yến đã từng ở mấy năm trước đây. Tự nhiên nhớ đến một câu chuyện không biết đã đọc ở đâu. Chuyện kể: Có một người tù trở về nhà sau bao năm. Anh ta ngó qua cửa sổ, thấy trong nhà có một mâm thức ăn thịnh soạn đã để sẵn bát đũa dành cho hai người. Anh ta nghĩ người vợ trong thời gian vắng mình, đã sống với một người đàn ông khác. Và anh ta lặng lẽ bỏ đi biệt xứ. Trong khi người vợ sửa soạn bữa ăn kia là để chào đón anh ta...

Không biết sau rồi hai vợ chồng người ấy có còn gặp nhau nữa hay không, chuyện không thấy nói đến. Còn bây giờ thì mình đã về đến nhà. Cửa sắt đóng kín. A, nàng mới lắp thêm cái chuông. Mình bấm mãi, chẳng có ai ra. Hay nàng đi đâu? Nhìn qua khe cửa vào trong thấy tối om. Mấy phút sau mắt quen dần bóng tối, thấy đồ đạc trong nhà kê khác quá. Sao thế nhỉ? Mình bấm một hồi chuông nữa, mới thấy một người đàn bà lạ ngó ra:

- Ông hỏi ai?

- Tôi hỏi cô Yến, cô Kim Yến.

- Không có cô Yến cô Oanh nào ở đây cả. Đây là nhà tôi.

- Cô Yến là vợ tôi, vẫn ở đây mà...

Bên trong im lặng một lúc rồi người đàn bà lúc nãy lại ngó ra:

- Ông tên là gì? Ông là chồng cô Yến thật à? Nếu vậy, ông chờ tôi một lát, cô Yến trước khi ra đi, có gửi cái này cho ông. Còn cái nhà này, cô ấy đã bán cho tôi cách đây mấy tháng rồi.

Lại một lúc chờ đợi nữa. Một lá thư dán kín được đưa qua khe cửa. Tiếng người đàn bà lúc nãy nói vọng ra:

- Đấy, thư của cô Yến gửi cho ông. Chào ông.

Mình lập cập xé phong bì. Trong đó vẻn vẹn chỉ có mấy dòng, đại ý: Yến xin lỗi vì sự chia tay này. Cô ta không có đủ kiên nhẫn để chờ đến ngày mình trở về. Cô ấy phải ra đi để làm lại cuộc đời. Cái nhà và đồ đạc cô ta đã bán để có tiền nộp cho chuyến đi. Sang bên kia đi làm cô ta sẽ gửi tiền về cho mình, và bảo lãnh cho mình cùng sang bên ấy để vợ chồng sum họp...

Mắt mình hoa lên, những dòng chữ nhảy múa trước mắt. Chỉ còn nhớ một điều, thế là Yến đã đi rồi. Bây giờ cô ta đang ở phương trời nào, con chim én bé nhỏ?

Bà cụ bán nước bên kia đường, trước đây có biết mình. Mình ngồi xuống chiếc ghế trong quán, uống một cốc nước chè đắng ngắt. Không đợi hỏi, bà cụ nhìn mình ái ngại và kể:

- Tôi bán hàng nước ở bên này, thành ra bên nhà cậu có chuyện gì, tôi đều biết. Dạo cậu mới bị hạn, cô ấy khóc lóc ghê lắm. Có hôm còn sang bên này mua rượu trắng, bảo về uống cho say, quên đi... Cô ấy đón bà mẹ ra trông nom nhà cửa. Được một thời gian, thấy cô ấy điện lắm, phấn son. Khách khứa nhiều. Đến cái đận cách đây mấy tháng, cô ấy sang chào tôi mới biết cô giao nhà cho người khác rồi. Cô ấy bảo: "Cháu ở đây khó sống lắm". Rồi mẹ con cô ấy đi, dọn đi tay không, xung quanh hàng xóm chẳng ai biết. Mãi mới vỡ lẽ ra cô ấy đã vượt biên... Ban nãy ngồi bên này nhìn sang, tôi nhận ra cậu ngay. Thấy cậu bấm chuông, vỡ lẽ ra là cậu chưa biết tình hình gì ở nhà... Cô ấy đi rồi. Đợt ấy riêng ở cái phố này có đến hai ba nhà đi. Chưa ai có tin tức gì về...

Mình cám ơn bà cụ hàng nước, rồi khoác túi lên vai.

Mình biết đi đâu trong cái thành phố này? Quen chân, một lúc sau đã đến trước cổng cơ quan cũ. Vẫn cái ba-ri-e bằng cây tre sơn trắng chắn ngang, cánh cổng lúc nào cũng mở. Nhưng không phải mở cho mình nữa. Lúc này là giờ nghỉ trưa. Bên trong lác đác có người đi ra. Quen mặt cả. Mình phải đứng cạnh cái bảng tin, giả vờ như đang chăm chú đọc báo, sợ anh em nhận ra mình. Có thể là những câu chào, những câu nói thương hại. Mình không cần những cái đó, ít ra là trong lúc này. Khi vui, người ta thích tìm đến bạn bè, còn khi buồn tốt nhất chỉ nên một mình.

Đêm ấy, đêm đầu tiên của cuộc sống tự do mà mình chẳng biết làm gì với cái tự do ấy. Hay là quay trở lại cái chỗ mình vừa được ra, ngủ một đêm nữa trên sàn xi măng? Ít ra giữa những con người khốn khổ ấy cũng tìm thấy sự cảm thông. Nhưng cả cái nơi ấy, cũng chẳng ai cho mình trở lại. Họ sẽ xua đuổi mình như xua đuổi một thằng khùng. Nghĩ mãi, bỗng nhiên tìm ra một chỗ trú chân tuyệt vời. Mình đi ra ga xe lửa. Và ngồi ngủ gà ngủ gật trên một chiếc ghế băng lạnh lẽo, muỗi bay xung quanh như ong và những tiếng ồn ào liên miên không dứt. Hóa ra cũng nhiều người có sáng kiến như mình, ban đêm lấy phòng đợi nhà ga làm chỗ ngủ, không mất tiền thuê nhà trọ lại an toàn.

Mình lang thang trong cái thành phố này gần nửa tháng trời, ngày đi hỏi tung tích của Yến, đến các cơ sở tìm việc làm rồi đêm ra ga ngủ ngồi, hoặc đến nhà một người bạn. Yến đã ra đi thật, mình về cả quê của nàng, cũng chả biết gì hơn. Bất giác, mình nhớ lại buổi đầu tiên gặp cô ta, một người con gái mảnh mai e lệ, vẫn còn dáng dấp một cô gái nghèo vùng biển. Thế mà chỉ mấy năm trời, cái sinh hoạt thị thành đã biến Yến của mình thành một con người như thế đấy.

Buổi tối ở cái thành phố này đẹp và yên tĩnh. Ngoài bến, những chiếc tầu vào ăn hàng dăng đèn sáng rực từ mặt nước lên đến đỉnh cột buồm, cứ như là đêm hội hoa đăng. Mình nhớ con đường Lý Tự Trọng. Về đêm, những hàng cây im lìm như ngủ. Mình và Yến buổi tối  hay đi lang thang dọc hai bên hè phố. Bảo nhau đến một ngày nào đó sẽ lên một trong những con tầu đang đợi ngoài bến cảng kia, di du lịch, hưởng những ngày lênh đênh trên sông nước, như đã được xem trên phim. Hai đứa biết đấy chỉ là chuyện xa vời, nhưng cứ ước thế, mất gì đâu.

Trong một buổi đi chơi, Yến kể: Từ đời ông, đời cha của cô ta đều sống về biển, và thế hệ nào cũng có người chết vì biển, thế mà vẫn không bỏ được nghiệp, vẫn gắn bó với biển. - Cho đến thế hệ của Yến - Yến bảo: Cô sẽ không bao giờ quay trở về với biển nữa, sẽ không bao giờ lấy con trai làng chài. Vì thế, sau khi bố Yến chết, hai mẹ con Yến đã tránh xa biển, vào trong đất liền kiếm sống. Yến yêu mình cũng một phần vì mình không phải là người làm nghề biển.

Giờ đây, giữa mình và Yến đã cách nhau cả một vùng biển rộng. Giá nó hẹp như một con sông, mình quyết bơi sang tìm cô ta, hỏi cho ra nhẽ. Nhưng bây giờ thì mình đã mệt mỏi quá rồi. Yến đã bỏ mình trong cơn hoạn nạn. Thì thôi, mình sẽ cố quên Yến, sẽ dửng dưng như chưa hề có một thời đắm say, một thời mê mải.

Mình đã đặt cả cuộc đời vào tay người con gái ấy, tưởng rằng đã tìm được tình yêu đích thực, giữa cuộc đời này.

Mình mê man và ngụp lặn trong nó. Không biết rằng trái tim con người có nhiều đường ngang ngõ tắt, chẳng rõ ràng và rành mạch như các con số và những đường nét trên bản vẽ. Không hiểu ra một điều là đừng bao giờ quá tin ai, đừng bao giờ được tiêu đến đồng tiền cuối cùng. Còn ta đã tin và ta đã bị phản bội. Thế thôi. Bây giờ sẽ tìm cách để quên đi. Và hãy thương lấy bản thân mình.

Huyền gấp quyển nhật ký... Như gấp lại một quãng đời bi thảm của con người. Nếu như không phải là cuộc đời của Tuấn chắc chắn cô sẽ không thể đọc hết được nó. Nhất là những đoạn anh chàng viết như là để hả giận.

Huyền lấy một tờ bìa cắt thành hình cái phong bì, nàng bỏ quyển nhật ký của Tuấn vào và dán kín lại.

Ngày mai nàng sẽ đem trả lại cho anh. Cái phong bì dầy bao kín lại như một lời khuyên của nàng. Ngày mai cũng là ngày cuối cùng anh còn ở lại cái thành phố này.

Sắp tới là một chuỗi những ngày đi của anh, người mà nàng quý mến.

Nhớ buổi đầu gặp Tuấn, nàng buồn cười khi nhìn cái khuôn mặt lúc nào cũng đăm đăm suy nghĩ của anh với chiếc xe đạp cũ và cái giỏ sắt đằng trước để con chó con nằm thu lu ở trong. Và món ăn đạm bạc, rẻ tiền anh mua ăn hàng ngày. Nếu chỉ nhìn bề ngoài, chẳng tưởng tượng được ra là anh đã từng có những ngày sôi nổi và đắm say. Còn bây giờ thì anh đã là một người thân thiết với Huyền. Một cái gì đó thầm kín, cảm phục, xót thương, hòa trộn vào nhau vô hình, không mầu sắc cứ từ từ dâng lên ngập tràn bến bờ tình cảm của Huyền.

Huyền như một con cá nhỏ đang bơi miên man trong đó. Đấy sẽ là một niềm vui hay một nỗi bất hạnh?

Huyền không biết. Nàng tự hỏi, nếu như không biết được cái quãng đời đắng cay mà anh trải qua, sự bội phản của người đàn bà ấy, thì liệu nàng có thân thiết với anh như ngày hôm nay không? Huyền đã đến với anh khởi đầu bằng một lòng trắc ẩn. Nàng đã xót thương cho cuộc đời gian truân vất vả của anh. Nó là khởi nguồn cho tình yêu của nàng. 

Hai người đứng bên nhau sau ô cửa kính nhìn ra đường. Sắp sang thu. Mùa thu với những cơn gió heo may khô khô buồn, bầu trời xám xì và nhợt nhạt. Còn bây giờ mới là cuối hạ. Cái nắng cuối mùa bao giờ cũng gắt. Sắp có một cơn giông hay sao ấy. Mây bay loạn.

Đây là ngày cuối cùng họ ở bên nhau. Những gì họ có thể nói với nhau được, họ đã nói cả rồi. Căn phòng nhỏ đã được thu xếp lại gọn gàng. Huyền có trách nhiệm thỉnh thoảng đảo qua đây trông nom nhà cửa giúp anh.

Con chó Phốc một "nhân vật "quan trọng xúc tác cho mối tình của họ, Huyền sẽ nhận đem về nhà nuôi. Hai người thống nhất sẽ không gọi nó bằng cái tên cũ nữa.

Huyền sẽ đặt cho nó một cái tên mới. Cái gì đã qua, cho nó chết hẳn. Để khỏi có những ám ảnh không đẹp xen vào hạnh phúc và niềm vui mới của họ.

Tuấn bảo:

- Lẽ ra anh không nên cho em xem quyển nhật ký ấy. Nó chỉ làm em buồn vô ích. Nhìn cuộc đời ở cái góc ảm đạm ấy làm gì. Nhưng với anh, nó là một bài học đắt giá. Anh tự bảo với lòng mình: Không bao giờ được quên những ngày gian khổ ấy. Nó như một bài học để ta bước vào đời một cách vững vàng và cẩn thận hơn.

Nếu biết sống, sẽ chẳng có gì là vô nghĩa đâu.

- Em sẽ sống xứng đáng với anh! - Huyền nói và nghĩ tình yêu đến với nàng cùng lúc khởi đầu cho những chuyến đi của anh. Cuộc đời của hai người đã sang một trang mới. Huyền cũng sẽ xin đi làm, phải thay đổi thoát ra khỏi cái công việc nhàm chán, vô vị thường ngày. Để còn có cái mà kể với anh khi gặp nhau, và trong những lá thư sẽ viết cho nhau nữa chứ.

Huyền thích nhìn vẻ mặt Tuấn lúc này. Không còn những nét bi thảm, anh rạng rỡ và ánh mắt như cười.

Anh đang đứng nhìn về phía trước. Trước mặt hai người, qua khe hở của hai dãy nhà, chân trời hiện ra một vùng nắng sáng. Một cuộn mây vần vũ như báo hiệu cơn mưa sắp đến. Đây có thể là một cơn mưa cuối cùng của mùa hạ. Nắng lung linh xuyên chéo qua màn mây nặng trĩu tạo nên một vòng cung rực rỡ với mầu sắc chuyển từ tím hoa cà, xanh, vàng dần rồi cuối cùng là một dải hồng đào. Vòng cung đều đặn, tưởng như được vẽ bằng compa.

- Em xem kìa, cầu vồng... Cầu vồng bẩy sắc. Đẹp quá. Nếu có ai trên đời này xây được một cây cầu đẹp như thế kia, chắc chắn sẽ là một kỳ quan của thế giới.

- Anh lúc nào cũng nặng về nghề nghiệp. Còn em thì chỉ biết cầu vồng trên trời chỉ xuất hiện khi có mưa. Mẹ em bảo: Cầu vồng đi đón cơn mưa. Anh có thấy không? Cơn mưa đang từ phía cầu vồng chạy về phía chúng ta. Mà sau cơn mưa bao giờ trời cũng đẹp. Có đúng thế không anh?

Hai người nắm tay nhau, lặng im nghe tiếng mưa bắt đầu vui vẻ gõ vào mái nhà trên đầu họ.

 vnp_hoi_hoa_xuan_ecopark_2019_1

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

In bài viết
Phản hồi

Người gửi / điện thoại

Nội dung

 
BẢN QUYỀN THUỘC CÂU LẠC BỘ VĂN CHƯƠNG
Địa chỉ: số 9 Nguyễn Đình Chiểu - Hai Bà Trưng - Hà Nội
Chịu trách nhiệm xuất bản: Nhà thơ Nguyễn Thị Mai
Tổng Biên tập: N.văn, LLPB - P.giáo sư, Tiến sĩ Vũ Nho
 
ĐIỆN THOẠI & EMAIL LIÊN HỆ
Tel:  1- 0328 455 896. 2- 0855 890 003.
Nhà văn, Phó Gs, Tiến sỹ VŨ NHO:  vunho121@gmail.com