陈 太 宗
TRẦN THÁI TÔNG
(1218 - 1277)
Trần Thái Tông ( chữ Hán : 陳 太 宗 9 tháng 7 năm 1218 - 5 tháng 5 năm 1277), tên khai sinh là Trần Cảnh (陳 煚), là vị hoàng đế đầu tiên của Hoàng triều Trần nước Đại Việt . Ông giữ ngôi từ ngày 10 tháng 1 năm 1226 tới ngày 30 tháng 3 năm 1258 , sau đó làm Thái thượng hoàng cho đến khi qua đời năm 1277 .
Tác phẩm:
Tác phẩm thơ văn Trần Thái Tông bao gồm:
Di hậu lục (Chép để lại cho đời sau)
Cơ cầu lục (chép để nối dõi việc nhà)
寄 清 風 庵 僧 德 山
風 打 松 關 月 照 庭
心 期 風 景 共 淒 清
箇 中 滋 味 無 人 識
付 與 山 僧 樂 到 明
陈太 宗
KÝ THANH PHONG AM TĂNG ĐỨC SƠN
Phong đả tùng quan nguyệt chiếu đình,
Tâm kì phong cảnh cộng thê thanh,
Cá trung tư vị vô nhân thức,
Phó dữ sơn tăng lạc đáo minh.
Trần Thái Tông
Dịch nghĩa:
GỬI NHÀ SƯ ĐỨC SƠN
Ở AM THANH PHONG
Gió đập cổng thông, trăng sáng trước sân,
Lòng hẹn với phong cảnh cùng trong sạch lặng lẽ,
Bao nhiêu thú vị trong đó không ai hay,
Mặc cho nhà sư trong núi vui đến sáng.
Dịch thơ:
GỬI NHÀ SƯ ĐỨC SƠN Ở AM THANH PHONG
1.
Gió đập cổng thông, trăng sáng thềm
Hẹn lòng phong cảnh sạch trong thêm
Bao nhiêu thi vị không ai biết
Trong núi nhà sư vui trắng đêm.
N.Đ.N.
2.
Gió lùa qua cổng, trăng vàng
Hẹn lòng phong cảnh lại càng đẹp thay
Biết bao thị vị ai hay
Nhà sư trong núi vui vầy trắng đêm.
N.Đ.N.
送 北 使 張 顯 卿
顧 無 瓊 報 自 懷 慚
極 目 江 臮 意 不 堪
馬 首 秋 風 吹 劍 鋏
屋 梁 落 月 照 書 庵
幕 空 難 住 燕 歸 北
地 暖 愁 聞 雁 別 南
此 去 未 知 傾 蓋 日
篇 詩 聊 為 當 清 談
陈 太 宗
TỐNG BẮC SỨ TRƯƠNG HIỂN KHANH
Cố vô quỳnh báo tự hoài tàm,
Cực mục giang cao ý bất kham,
Mã thủ thu phong xuy kiếm giáp (*) ,
Ốc lương lạc nguyệt chiếu thư am,
Mạc không nan trú yến quy Bắc,
Địa noãn sầu văn nhạn biệt Nam,
Thử khứ vị tri khuynh cái nhật,
Thiên thư liêu vị đáng thanh đàm.
Trần Thái Tông
____________________
(*) Nguyên chú: Giáp, kiếm bả dã 鋏 劍 把 也 (Giáp tức là thanh kiếm, thanh gươm tra trong bao kiếm)
Dịch nghĩa:
TIỄN BẮC SỨ TRƯƠNG HIỂN KHANH
Nghĩ không có ngọc quỳnh đáp lại, lòng tự hổ thẹn,
Trên bờ sông nhìn xa mãi xiết bao bùi ngùi,
Gió thu trước đầu ngựa thổi vào thanh gươm,
Ánh trăng lọt qua rường nhà dọi vào phòng sách,
Màn trống khó ngăn chim én về phương Bắc,
Đất ấm buồn nghe chim nhạn biệt phương Nam,
Lần này đi chưa biết ngày nào mới có dịp nghiêng lọng,
Xin vì cuộc chuyện trò tao nhã mà có một bài thơ.
Dịch thơ:
TIỄN BẮC SỨ TRƯƠNG HIỂN KHANH
1.
Ngọc quỳnh không có thẹn lòng ta
Viễn vọng trên sông thấy xót xa
Đầu ngựa, thanh gươm làn gió thổi
Rường nhà, phòng sách ánh trăng sa
Én về phía Bắc màn khôn chặn
Nhạn biệt phương Nam đất ấm nha
Chưa biết khi nào cùng gác lọng
Chuyện trò tao nhã nở thơ ca.
N.Đ.N.
2.
Ngọc quỳnh không có thẹn sao
Trên sông xa vọng xiết bao bùi ngùi
Ngựa gươm gió thổi liên hồi
Rường nhà, phòng sách dọi ngời ánh trăng
Én về Bắc, màn khôn ngăn
Nhạn đi Nam, đất nghe chăng nỗi sầu
Bao giờ nghiêng lọng gặp nhau
Bài thơ do chuyện thanh cao mà thành.
N.Đ.N.
Người gửi / điện thoại