
CỐ NHÀ THƠ ANH CHI
Kẻ Mỗ
ANH CHI
Kẻ là tên Nôm gọi những vùng quê mà từ rất xa xưa người Việt cổ đã đến tụ cư (tương đương với hương hoặc làng sau này), như kẻ Mỗ, kẻ La, kẻ Cót, kẻ Canh, kẻ Gùn, kẻ Noi, kẻ Tó, kẻ Mọc, kẻ Mơ, kẻ Bưởi, kẻ Láng v.v... Kẻ Mỗ của Hà Nội xưa là trường hợp đặc biệt nên được gọi là Tổng Mỗ gồm nhiều làng có tên Nôm là Mỗ, và cả những làng không có tên là Mỗ, như Phú Thứ, An Thái, Ngọc Trục. Câu phương ngữ cổ Mỗ, La, Canh, Cót tứ danh hương thì chỉ nói tới kẻ Mỗ với hai làng Đại Mỗ và Tây Mỗ thôi.
Đại Mỗ còn có tên là Thiên Mỗ, mãi tới thời Tự Đức (1848-1883) mới đổi gọi là làng Đại Mỗ và cũng gọi là xã Đại Mỗ. Đại Mỗ xưa có bốn thôn là Khế Ngang, Huyền Phố, An Thái và Phú Thứ. Cuối triều Nguyễn (1802-1945) mới tách Phú Thứ thành một xã riêng, nhưng ngay sau đó lại đổi thành một thôn thuộc xã Tây Mỗ. Một con ngòi chảy qua Tây Mỗ và Đại Mỗ, ra sông Nhuệ, gọi là Tùng Khê hay nôm na gọi là khe Tùng. Tùng Khê chảy giữa làng Đại Mỗ, hai bên bờ có những gò đất tốt tươi, đẹp đẽ. Trên bờ bắc có một gò đất cao, tọa lạc một ngôi đình nhỏ tuyệt đẹp, làm toàn bằng gỗ lim, đó là Lạc Thọ Đình do Nguyễn Quý Đức dựng năm Đinh Dậu 1717, khi ông về trí sĩ. Nguyễn Quý Đức sinh năm 1648 tại quê Đại Mỗ, Từ Liêm, Hà Nội, đỗ Thám hoa khoa Bính Thìn 1676 đời Lê Hy.Tông. Ông đã cùng Lê Hy viết tiếp Đại Việt sử ký (tục biên), là người đứng ra sửa trường Quốc Tử giám và giữ chức Tế tửu. Ông là một nhà chính trị cầm quyền Tham tụng (Tể tướng) rất nghiêm minh. Dân gian có câu: “Tể tướng Lê Hy thiên hạ sầu bi, Tể tướng Quý Đức thiên hạ hưu tức” (hưu tức có nghĩa là yên nhàn). Ông từng làm Đốc đồng Cao Bằng, dẹp yên loạn biên giới. Con trai trưởng của Nguyễn Quý Đức là Nguyễn Quý Ân cũng đỗ Hoàng giáp khoa Ất Mùi 1715 đời Lê Dụ Tông, sau làm quan đến chức Bồi tụng (phó Tể tướng), nổi tiếng là ngay thẳng và có lòng thương dân. Dân địa phương lập đền thờ Nguyễn Quý Ân ở xứ Vườn Chùa, bên bờ sông Nhuệ. Con trai Nguyễn Quý Ân là Nguyễn Quý Kính, sau cũng làm tới chức Thượng thư bộ Binh và giữ chức Tham tụng. Ba cha con, ông cháu nhà Nguyễn Quý đều có tài trị nước và có đức lớn, được phong tước cực phẩm, nhưng không chiếm đất đai, mà ngược lại, họ còn đem ruộng lộc chia bớt cho dân làng. Dân Đại Mỗ thờ họ làm Phúc thần. Nhà thờ họ Nguyễn Quý ở giữa làng, trên bờ nam Tùng Khê, kiến trúc rất đẹp, nay là một di tích văn hoá, lịch sử của Đại Mỗ, còn lưu giữ ba tấm bia đá lớn và quý. Đó là bia ghi công tích Nguyễn Quý Đức do Hà Tông Huân, Bảng nhãn khoa Giáp Thìn 1724 và Nghiêm Bá Đĩnh, Tiến sĩ khoa Quý Sửu 1733 cùng soạn; bia ghi công tích Nguyễn Quý Ân do Nhữ Đình Toản, Tiến sĩ khoa Bính Thìn 1736, Lê Hữu Kiều, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất 1718 đời Lê Dụ Tông và Nghiêm Bá Đĩnh cùng soạn; bia ghi công tích Nguyễn Quý Kính do Nguyễn Gia Phan, Tiến sĩ khoa Ất Tỵ 1785 con rể Nguyễn Quý Kính soạn. Đại Mỗ còn có một di tích quý giá là chùa Quỳnh Lâm. Tại đây còn lưu giữ chiếc khánh đá niên hiệu Vĩnh Thịnh (1705-1719). Quỳnh Lâm là ngôi chùa cổ kính, ca dao cổ có câu: Chùa Quỳnh Lâm có khánh đá, chuông đồng/ Ai tu thì trả cửa chồng mà đi tu. Chùa này sau đổi tên là chùa Trùng Quang. Một di tích lịch sử đáng nói tới, là chợ tổng Mỗ. Vào năm Đức Nguyên thứ nhất, 1674, ông Nguyễn Quý Đức cúng 4 mẫu đất ruộng để lập chợ Lão, một số thư tịch còn ghi là chợ Khánh Nguyên. Xưa kia, ngày 2 và ngày 7 là phiên chợ Lão, đông đúc và bán nhiều hàng hoá, cả trâu, bò, lợn giống... khách thập phương một tháng sáu phiên vẫn ghé về chợ mua, bán.
Ngoài ba vị họ Nguyễn Quý, Đại Mỗ còn nhiều người học giỏi, đỗ cao, danh lớn. Như Nguyễn Vũ, Tiến sĩ khoa Giáp Tuất 1514, sau làm quan tới chức Thượng thư bộ Hình, kiêm Đông các đại học sĩ. Như Tiến sĩ Nguyễn Gia Phan làm quan Giám sát ngự sử đạo Sơn Tây, nhưng vẫn làm thuốc rất nổi tiếng. Ông còn viết một số sách hướng dẫn chữa bệnh, đó là Tiểu nhi khoa, Phụ nhân điều lý phương pháp, Thai điền điều dưỡng phương pháp... đã được chúa Trịnh cho phổ biến rộng rãi tới các thầy thuốc đương thời. Ngoài ra, Đại Mỗ còn có 22 người đỗ cử nhân và rất nhiều người đỗ tú tài. Người Đại Mỗ hiếu học, tài cao và cũng có nghề hay nổi tiếng thiên hạ từ lâu đời, là nghề dệt lĩnh, dệt lụa. Có chuyện truyền tụng rằng, hồi Nguyễn Quý Đức mới 8 tuổi, một hôm quan Tri phủ Quốc Oai qua đường, thấy cậu bé thông minh nên ra câu đối: “Khoai Đơ xanh tốt ơn nhờ phủ” (ý là khoai làng Đơ quê ông ta tốt nhờ có rơm phủ và còn có ý là nhờ có quan Phủ). Quý Đức liền đối ngay: “Lĩnh Mỗ vàng trơn bởi có nghè” (ý là lĩnh làng Mỗ vàng trơn vì lấy chày nghè và cũng còn ý làng Mỗ có nhiều ông Nghè). Từ xưa, lĩnh Mỗ đã là một sản phẩm thủ công tinh xảo, mềm mại, óng ả, được xếp vào hàng thượng hạng chuyên tiến vua và phục vụ cho giới quý tộc. Nghề dệt lĩnh, dệt lụa không chỉ là nguồn sống mà còn là niềm tự hào, nét văn hóa đặc trưng kiến tạo nên sự trù phú, thanh lịch của vùng đất cổ này. Lĩnh và lụa làng Mỗ thường được mang bán ở chợ Hà Đông, ở phố Hàng Đào, Hàng Ngang Hà Nội, và được mang bán tận Huế, Sài Gòn...
Xế xuống phía tây nam Đại Mỗ là làng Tây Mỗ, cũng là xã Tây Mỗ, một vùng quê có thế đất rất đẹp về mặt phong thuỷ. Đình Tây Mỗ ở vị trí trung tâm, tọa lạc trên một gò đất hình con cá rồng nằm nghiêng. Đầu làng là xóm Phượng, tương truyền, ở đây có gò Phượng chầu vào ao đình, phía ngoài có gò Quy, gò Ly... Tóm lại, là đất Long, Ly, Quy, Phượng tụ hội. Tây Mỗ cũng có nhiều người học giỏi, tài cao, danh lớn. Từ thế kỷ XIV đã có Nguyễn Văn Bình giữ trọng trách ở Viện xu mật, triều Trần. Thế kỷ XV có Nguyễn Đình Hy làm quan Thị lang bộ Hộ. Triều Lê, có người con gái là Nguyễn Tài Nhân, Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn có chép về Nguyễn Tài Nhân người làng Tây Mỗ được Lê Thánh Tông lấy làm vợ và sinh ra Lê Tranh, sau được phong là Phúc Vương Tranh. Làng Tây Mỗ còn có đền Am thờ Phúc Vương Tranh tọa lạc trong một khuôn viên nhiều cây cổ thụ rủ bóng xuống hồ nước trong tĩnh. Ngay từ giữa thế kỷ XV, Tây Mỗ đã có Nguyễn Am đỗ Tiến sĩ khoa Quý Dậu 1453, đời Lê Nhân Tông, khi mới 18 tuổi và là một trong hai Tiến sĩ trẻ nhất của Thăng Long - Hà Nội. Vị Tiến sĩ thứ hai của Tây Mỗ là Hoàng Thiệu, đỗ khoa Ất Mùi 1475, đời Lê Thánh Tông, sau làm quan tới Thượng thư bộ Hình. Tiếp theo, Nghiêm Hoằng Đạt, đỗ Hoàng giáp khoa Quý Mùi 1583, đời Mạc Mậu Hợp. Sau, ông theo nhà Lê, làm quan đến chức Lại khoa Đô cấp sự trung. Ông là ông ngoại của Nguyễn Đương Bao, vị Tiến sĩ thứ tư của Tây Mỗ. Đương Bao, tự là Uẩn Thạc, đỗ khoa Quý Sửu 1673, đời Lê Gia Tông, từng đi sứ sang nhà Thanh, sau làm quan tới chức Thiêm sai Bồi tụng, Thượng thư bộ Lễ, tước Thọ Quận công. Ông là tác gia nổi tiếng đương thời, sách Toàn Việt thi lục có chép 13 bài thơ chữ Hán của Nguyễn Đương Bao. Ông là bạn thân, cũng là thông gia với Nguyễn Quý Đức thân thiết với nhau đến mức có câu: “Quý Đức làm sao, Đương Bao làm vậy”. Tiếp theo là Tiến sĩ Nghiêm Bá Đĩnh, đỗ khoa Quý Sửu 1733. Ông làm đến chức Tả Tham chính sứ Sơn Nam, Đông các đại học sĩ, tước Khiêm Đường bá, từng đi sứ sang nhà Thanh, nổi tiếng là vị quan thanh liêm, công bằng, dân chúng sở tại được nhờ. Nghiêm Bá Đĩnh để lại cho đời nhiều bài thơ hay, tiêu biểu là bài phú Kim thanh ngọc chấn phú (Tiếng của vàng, âm của ngọc) và bài Nhậm trọng thiên hạ phú (Nhận trọng trách trước thiên hạ). Tiếp nữa là Phó bảng Đỗ Huy Điển, đỗ khoa Ất Hợi 1875, đời Tự Đức, làm quan Thị lang, rồi Tổng đốc Định Yên, sau làm việc ở Nha Kinh lược. Vị Tiến sĩ thứ bảy của Tây Mỗ là Nghiêm Xuân Quảng, hiệu là Tống Mai, đỗ khoa Ất Mùi 1895, đời Thành Thái. Ông làm quan Đốc học Hưng Yên, rồi Án sát các tỉnh Hải Phòng, Phú Thọ, Bắc Cạn, và Tuần phủ Ninh Bình. Tây Mỗ còn có Trần Đăng Khanh, tước hầu, nên dân gian hay gọi là cụ Hầu Khanh. Ông làm quan thời Lê - Trịnh, nổi tiếng liêm khiết. Rất nhiều người làng Tây Mỗ đỗ Cử nhân, riêng họ Trần có 18 Cử nhân. Có một người họ Trần mà dân gian hay gọi là ông Quận Gầy, đã mộ quân chống Pháp hồi cuối thế kỷ 19. Sau ông mang quân về với Đề Thám và đã hy sinh anh dũng.
Có lẽ hiếm thấy ở vùng quê nào có Hội đồng niên như ở Tây Mỗ. Những người cùng năm sinh chơi với nhau thân thiết không kể sang, hèn. Họ đỡ đần nhautrong cuộc sống từ lúc còn trẻ đến khi về già. Con, cháu họ được dạy dỗ phải kính quý đặc biệt những người đồng niên với bố, mẹ. Từ rất lâu, Tây Mỗ có một bài Diễn ca làng, chắc được đặt ra hồi mới có chữ Quốc ngữ, giới thiệu cảnh làng, rất vui: Kiểu danh thắng lắm nơi đáng kể/ Trước sông đào, sau kế ao sen/ Bồ đề, cống Hạnh, cầu Tiên/ Đình trên lưng cá nằm nghiêng giữa làng... Kể về đặc điểm lắm gò đống và nét truyền thống thì:
Đống Cơm, đống Miễu, đống Bà
Đống Sang, đống Thợ lại qua đống Hiền
Đồng cao thấp liên miên gò đống
Làng tròn xoe đất rộng của nhiều
Bán buôn thịnh nhất nghề thêu
Học trò ai cũng có điều đáng khen...
Người Tây Mỗ làm ruộng là chính, nhưng nghề phụ cũng rất tài. Họ dệt lĩnh, dệt lụa trơn và lụa hoa cũng tài hoa như bên Đại Mỗ. Đầu thế kỷ 20, Tây Mỗ có nghề thêu ren đăng-ten rất tinh xảo, nổi tiếng Hà Nội, và nhiều tỉnh xa cũng biết đến tài thêu ren của người Tây Mỗ. Cùng với Đại Mỗ, Tây Mỗ góp phần làm nên tiếng thơm cho vùng Mỗ của Thăng Long - Hà Nội. Câu phương ngữ về tứ danh hương của Hà Nội văn vật, chắc còn được dân gian nhớ mãi: Nhất Mỗ, nhì La, thứ ba Canh, Cót. Vậy nên có thể nói, Đại Mỗ và Tây Mỗ là vùng quê danh tiếng bậc nhất các làng phía tây của Thăng Long - Hà Nội xưa./.
TRONG CUỐN "ĐẤT LỀ QUÊ THÓI", NXBhOONGF ĐỨC, 2026

Người gửi / điện thoại
Nhà thơ Anh Chi trước khi rời cõi tạm đã để lại hai cuốn sách quý là "Đất lề quê thói" và "Thương nhớ ngày xưa". Xin giới thiệu với bạn đọc một bài trong sách " Đất lề quê thói"!
Trả lời