
NỬA LO GIÁ CHỢ NỬA NGÂY VÌ TRỜI
(Về tập thơ tuyển của nhà thơ Nguyễn Thị Hồng)
Sau một seri bài phê bình về những tập thơ đương đại, cũ nhất cũng là những năm 90
của thế kỷ trước; tôi được bạn trao cho một tập thơ mà tác giả cùng thế hệ với các nhà thơ
chống Mỹ. Và tôi đã dự cảm không sai về một không khí thơ đằm thắm, trong lành ở hơn
trăm bài thơ với gần 50 năm sáng tác.
Sinh ra ở một xã thuần nông của huyện Hưng Hà, quê lúa Thái Bình; thật dễ hiểu khi
tuổi xuân vất vả của chị gắn bó với cánh đồng. Tuy nhiên những mỹ cảm riêng có ở người
làm thơ đã chớm xuất hiện với từ gót hoa:
Mùa này đồng rạ quê ta
Nứt đồng nứt cả gót hoa làm đồng
(Đừng như chuối chín mẹ ơi…)
Như nhiều nhà thơ cùng thời, Nguyễn Thị Hồng không cách tân mạnh mẽ về hình
thức, nhưng thỉnh thoảng cũng xuất hiện những điều chỉnh nho nhỏ rất nhuần nhuyễn; ví dụ
cái “hun hút” thường sẽ tiếp tục để tả rõ hơn về ngõ thì được chuyển sang tả nụ hôn:
Ngõ xưa nhỏ lắm và sâu lắm
Hun hút nụ hôn tuổi đôi mươi
(Về La Khê)
Thanh xuân của chị có thể đời sống vật chất tinh thần của con người chưa nhiều bộn
bề phức tạp, nhưng lại là thời chiến, vì vậy:
Tuổi thanh xuân
đẹp tươi
và mất mát
(Với Exenhin 1)
Nhớ tình xưa là đặc điểm nổi bật của nữ giới. Chị cũng không là ngoại lệ:
2
Dẫn em về tuổi sim chín đồi xưa
Tuổi đinh ninh sim tàn tình tím mãi
Tuổi bất ngờ tình qua sim ở lại
Mà suốt đời tiếc mãi một mùa sim
(Thu)
Chữ sim xuất hiện ở cả bốn câu thơ liền nhau, nhưng không theo kiểu một điệp từ;
cùng với chữ tình tạo một cảm giác xoắn bện như một vòng lặp khiến người trong cuộc
dường như không thể dứt ra nổi nỗi tiếc tình dang dở. Hãy chú ý câu thứ hai và ba trong trích
đoạn trên, cho thấy sự thay đổi nhanh đến chóng mặt, từ đinh ninh tới bất ngờ; từ tình tím
mãi tới tình qua. Lối thao tác chóng mặt này không có nhiều trong thơ thời đó.
“Gái nhớ tình xưa” đã đành kinh điển rồi, sự mạnh mẽ ở đây là gái còn muốn trai
cũng nhớ như mình:
Trước khi cầm lấy tay nàng
Ôm vào lòng hãy nhớ rằng anh ơi
(Mai sau)
Một sự ích kỷ đáng yêu bởi cũng vì yêu mà ích kỷ!
Vậy chị đã yêu như thế nào? Chị đã yêu như con cuốc nhớ bạn mà quên cảnh sắc
thiên nhiên tươi đẹp vẫn bao quanh:
Ngày thì nắng giãi bên thềm
Đêm thì trăng trải khắp miền trần gian
Điều gì để cuốc thở than
Thì ra cuốc nhớ bạn vàng cuốc thôi
(Tiếng cuốc)
Tình yêu ấy không chấp nhận những giới hạn nhỏ nhoi:
Không thể đem biển xanh
Với bao la khát vọng
Đựng vào một cốc xinh
Trên mặt bàn yên tĩnh
(Lại nói về giới hạn)
3
Và nếu vì phá vỡ những giới hạn mà nó đổ vỡ thì người con gái cũng luôn có thủy có
chung, ít nhất là trong tâm tưởng và tư tưởng:
Có thể hai chúng mình
Không gần nhau được nữa
Nhưng anh ở trong em
Là mặt trời rực rỡ
(Lại nói về giới hạn)
Tôi thường nhoẻn cười thú vị khi bắt gặp nhân vật trữ tình bộc lộ mình một cách tự
nhiên, ở đây là lộ giới tính nữ:
Chỉ
nước mắt
ngược đời
tưới
cây tình
đang tươi
thành héo
(Lệ thường)
Nhà thơ ơi, “đàn bà chỉ nhớ người đàn ông khiến cho mình cười, đàn ông chỉ nhớ
người đàn bà khiến cho mình khóc”. Với người đàn ông, khi anh ta khóc cây tình có thể mới
thực sự từ héo thành tươi!
Cấu trúc “cầu cho” rất sẵn trong ca dao, truyện thơ rồi. Sự thừa kế phổ biến, nên một
mảy sáng tạo cũng rất đáng ghi nhận, trân trọng. Ở đây là cụm từ “lạnh thì lạnh ít”:
Cầu cho mưa thuận gió hòa
Lạnh thì lạnh ít mẹ già đỡ run
(Đừng như chuối chín mẹ ơi…)
4
Dù là vì mẹ mà cầu, cũng cần tiết chế chứ không thể cầu “không lạnh” được!
Đấy là khi mẹ còn, chứ lúc mẹ mất thì:
Bây giờ biết Mẹ ở đâu
Ở đây chỉ nắm cỏ rầu khôn nguôi
Lời rằng nước mắt chảy xuôi
Cầu cho nước mắt ngược đời chảy lên
(Mẹ)
Dẫu vẫn là nước mắt thôi, nhưng “ngược đời chảy lên” cũng hơn không còn một chỉ
dấu nào của sự giao cảm nữa.
Nhà thơ yêu quê hương không phải với tình yêu sáo mòn giả tạo. Chị biết rõ từng yếu
tố cấu thành tình yêu có cả phần bất toại nguyện:
Ta có yêu sự lầy lội không
không
ta có yêu con đường lầy lội không
có
(Con đường lầy lội)
Tình yêu ấy đã vượt lên trên cái độc đầu tiên trong tam độc: tham. Chị yêu sâu sắc
trong sự tỉnh thức, biết rõ vì sao mà mình yêu:
Bởi vì
Trên con đường này
Đã in dấu chân những người thân yêu nhất
(Con đường lầy lội)
Trong tình yêu quê có cả niềm hoan hỉ cùng nỗi đau của đời sống đương đại phức tạp
hơn xưa; và cũng có nghĩa là yêu trong tỉnh thức:
Có người giỏi
thành nhân vật
tiêu biểu
năm 2000
5
Còn
Em
Cường
đã – chết – vì
Bệnh Aids
(Trai làng)
Ngay từ bài thơ đầu tiên của tập thơ, sự giác ngộ của chị đã chớm xuất hiện:
Mới hay là cõi vô thường
Mùa yêu chưa thỏa – mùa hương qua rồi
(Mùa yêu chưa thỏa)
Chị ngộ về sự bất toại nguyện.
Em đã chứng kiến cuộc hẹn hò của ta
Và đã theo ta về nhà
Nhưng có lẽ
Không biết đó là cuộc chia ly vĩnh biệt
Nên em vẫn xanh non thắm thiết
(Lá cỏ)
Chị ngộ về sự vô tình của thiên nhiên trước thành trụ hoại diệt của con người.
Mai sau dẫu có một ngày
Tuổi tàn – có chợ hoa này hồi xuân
(Chợ hoa ngày Tết)
Và chị biết chấp nhận qui luật hoại – diệt ấy, và cao hơn, trân trọng nâng niu những gì
chỉ đơn giản là gợi nhớ thanh xuân của mình.
6
Tuyệt vời hơn nữa, lại là một tình yêu đến nửa say, nửa ngây nhưng vẫn như thực tuệ
tri:
Người thì nửa tỉnh nửa say
Nửa lo giá chợ nửa ngây vì trời
Mùa thu ơi đẹp vừa thôi
Giăng chi khoảng cách giữa đời và mơ
(Thu cảm)
Chị thấy phận người trong phận chim, khi bị lừa dối bởi chính lòng tham, độc thứ
nhất trong tam độc, của mình:
Thèm ánh sáng giữa vùng bóng tối
Đâu phải là tội lỗi
Mà giờ đây
Cùng nhau chen chúc trong chiếc lồng
(Nhân chứng kiến cuộc săn bìm bịp)
Chị biết con người tất yếu cần tồn tại, nhưng không nguôi khắc khoải về thân phận
của những loài hữu tình mất mạng để con người được sống:
Biết người thả lưới quăng chài
Chỉ mong cho cá đừng vơi khoang thuyền
Mà lòng vẫn chẳng bình yên
Nhìn đàn cá mắc lưới êm của người
(Nỗi niềm)
Nhà thơ ơi, chị hãy yên lòng bởi thiền sư – thi sĩ Thích Nhất Hạnh trong bài thơ Con
cá dung thông đã thác lời cá mà nói với con người rằng:
“Và tôi đã học thuộc lòng
Bài học bỉ thử bất nhị
Bài học dung thông
Để mỗi khi sa vào lưới
Được chết thong dong
Không hận thù, không tuyệt vọng
7
Bởi vì tôi biết
Sự sống làm bằng sự chết
Cái có làm bằng cái không
Mọi loài tương tức
Tôi và em dung thông.”
Trong một bài thơ khác, đọc qua thấy đẫm bi quan với chữ không:
Một mình trong cả tâm linh
Nào ngờ ngay cả một mình cũng không
Đêm nay trước biển mênh mông
Ai làm ai hiểu ai không có gì
(Biển đêm)
Nhưng ngẫm kỹ thấy mừng, bởi chị đã đi đến một đại ngộ: ngộ ra tính không của từ
một mình, của sự sở hữu; và lờ mờ ý một ý thức về xây dựng hải đảo tự thân (một mình).
Chị cũng thấy quá trình ấy cần sự tinh tấn của cả thân và tâm:
Nhưng tâm hồn thương mến
Lại nằm trong thân ta
Chiều cao và cân nặng
Đếm đong rất thật thà
(Tâm hồn)
Là một nhà thơ chuyên nghiệp đầy trách nhiệm, chị đã nhạy cảm nhận ra và cụ thể
hóa một khái niệm trừu tượng về tính chất khác thường của vùng biên. Ở đấy không có chỗ
cho lấp lửng mơ hồ hay ba phải:
Cây biên giới thật xanh
Người biên giới thật thẳng
(Biên giới)
Người và đất cùng tự quên mọi chiến công đã qua để luôn sẵn sàng giải quyết các
nguy cơ mới:
8
Em tự quên chính mình
Những phút thành dũng sĩ
Như núi rừng tự quên
Những phút thành chiến lũy
(Bình dị)
Chị là công dân của một nước Việt Nam thống nhất, nhưng cũng đầy đủ ý thức công
dân toàn cầu. Hãy xem sự đồng nhất đáng sợ chứ không phải tương phản giữa loài người và
súc sinh:
Những xác chết không người chôn cất
Lũ nhặng vô tình được miếng mồi ngon
Những xác chết không người chôn cất
Lũ người cố tình được miếng mồi ngon
(Vùng Vịnh điều lặp lại)
Và hơn cả là công dân toàn cầu, chị còn là công dân vũ trụ trong trục thời gian tính
bằng thiên niên kỷ:
Một ngàn năm
Mấy ngàn năm
Chẳng lẽ thời gian không giúp gì ư
Cho loài người nghĩ suy về nhân tính
Cho loài người tiến lên dù chút ít
Lòng yêu thương con người!
Loài người sẽ đi về đâu
Hay kể cả khi họ tìm được hành tinh khác để sống
Họ sẽ đem theo gì
Chiến tranh ư?
9
Tôi ngờ lắm!!!
(Một chút bi quan hay Những hài cốt ở Hoàng thành cổ)
Cái “chút ít” tương phản mạnh mẽ với cái “ngàn năm”!
Nhà thơ Phùng Văn Khai tâm sự với tôi rằng mã thơ Nguyễn Thị Hồng nằm trong bài
Tự khúc này. Tôi đã gặp lại cái tình mênh mang trong veo thời thanh xuân, nhớ quê và nhớ
mẹ của người viết. Tôi cũng gặp lại nữ tính ở đây, kiểu“đánh Sơn Tây chết cây Hà Nội”:
Lòng không còn vô tư như tiếng trống
Mắt ai nhìn xao động mùa xuân…
(I)
Và gặp lại trách nhiệm công dân khi chị lên với vùng cao, chiêm nghiệm cả cái hay và
dở ở đó:
Cối đá xoay nặng nề chậm chạp
Như cuộc đời chậm chạp đổi thay
Tôi gặp những tấm lòng trong sạch
Sự trong sạch tạo ra lửa
Giữ cho bếp tâm hồn không lụi tắt ánh hồng
Dù bến nước cuộc đời khi đục khi trong
(II)
Khi chị đi đến những nơi sông ra bể:
Và tôi gặp nấm mồ người liệt sĩ
Những xóm làng san sát bát hương
(II)
Từ san sát thường dùng để mô tả cảnh trù phú giàu có nào đó. Chị đã thay đổi cách
dùng chính xác một cách đau xót!
Hoa cải vàng gọi bướm mỗi mùa sang
Không khỏa lấp cái nghèo dai dẳng
10
(II)
Chị đã ra tuyên ngôn nghệ thuật.
Ôi con người nhỏ nhoi hạt cát
Lại cũng như hạt cát chẳng có gì
Ngoài chính mình trần trụi với thiên nhiên
(II)
Và ra cả tuyên ngôn tâm linh nữa.
Hầm trú ẩn che luôn thời má phấn
(II)
Không hờn oán, nhưng chị cần minh định những thiệt thòi oái oăm ấy của thời chiến.
Trời đang xuân
con đông ở trong lòng
Mẹ đã lẫn vào cỏ cây đồng nội
(II)
Chị “như thực tuệ tri” cái ngoài mình, trong mình.
Cám ơn người tạo nên con như thế
nhỏ nhoi một hạt sa bồi
Mỗi mùa lũ cùng vô vàn hạt khác
Vật vã rồi thành bờ bãi sinh sôi
(II)
Khi ví mình cũng tựa như một hạt sa bồi, chị đã ý thức được tính không (không bản
ngã, không tự tính) của mình cùng lẽ tương tức, duyên sinh và sẵn sàng cho mọi cuộc chu du
vô tận.
Chị phát triển từ điển tích “con rồng cháu tiên”:
Ước gì rồng thật là rồng
Để cho bốn biển vẫy vùng tuổi tên
(III)
11
Khi hằng hà sa số các loại ma còn tồn tại, cái ước này cũng không hề nhỏ:
Ước chùa thật chốn tôn nghiêm
Để cho Phật với người hiền được an…
(III)
Và chị đã khép lại bài thơ trường thiên này bằng một cách tân hình thức tự nhiên,
nghĩa là xuất phát từ nhu cầu biểu đạt ý tưởng. Khát vọng thấy lại ngày xưa của mình đã
khiến khái niệm không gian hàm chứa biểu tượng thời gian; khát vọng gặp lại người thân
khiến khái niệm thời gian hàm chứa biểu tượng không gian:
Dường như ở phía chân trời
Mút không gian ấy cuộc đời ngày xưa
Và trong dòng chảy vô bờ
Của thời gian
có
bến chờ
người thân…
(III)
Cấu trúc chặt chẽ, không gian và thời gian khoáng đạt, nội dung phong phú với ít
nhiều kịch tính của bài trường thiên này là những dấu hiệu báo trước của trường ca (Hồn
khèn) mà chị đã hoàn thành trong thời gian dài đến khó tin là 30 năm!
Hà Nội, ngày Đức Phật thành đạo
31/12/2022 (08/12 âm lịch)
Hoàng Liên Sơn

Người gửi / điện thoại